Dân chủ là một khái niệm rất rộng, rất cốt lõi của xã hội
dân sự văn minh. Ở đây tôi chỉ xin đề cấp đến việc thực thị dân chủ ở địa
phương mà Đảng CS và Nhà nước Việt Nam mà các nghị quyết của Đảng CS ở VN hay
nói tới. Các nghị quyết của Đảng Cộng sản từ mấy chục năm nay nói rất nhiều đến
“quyền làm chủ của nhân dân”, “chính quyền của dân, do dân, vì dân” v.v.
Có thể
trích rất nhiều câu về dân làm chủ rất bóng bẩy: “Đổi mới phải vì lợi ích của nhân
dân, phát huy vai trò chủ động, sáng tạo của nhân dân… Cách mạng là sự nghiệp của
nhân dân, vì nhân dân và do nhân dân…”, “…đảm bảo quyền lực thuộc về nhân
dân…”, “Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân
dân, vì nhân dân là yêu cầu bức thiết của xã hội…”, hay “Phát huy hơn nữa dân
chủ xã hội chủ nghĩa…”; “Phát huy quyền làm chủ xã hội của nhân dân…”; …Thực hiện
đồng bộ các chính sách và luật pháp của nhà nước nhằm phát huy dân chủ v.v. và
v.v.
Nhưng thực tế thì trước thời kỳ đổi mới, nhờ “khoán chui”,
“tự cứu lấy mình trước khi trời cứu” của dân, người dân mới thoát cảnh chết đói
tất cả ruộng đất đều vào hợp tác xã. Nhờ dân, Đảng CS mới có “Mghị quyết 10 về
khoán hộ trong nông nghiệp”. Thế là thành tích của dân biến thành thành tích của
Đảng: “Đã biến nước ta từ một nước đói cơm thành một nước xuất khẩu gạo hàng đầu
thế giới”. Nhưng rồi do chính sách “ruộng đất là sở hữu nhà nước”, nên nông dân
không còn ruộng nữa. Thế là mục tiêu “ruộng đất cho dân cày” cuộc cách mạng trở
thành con số không. Khắp nơi trong cả nước, tình trạng ruộng đất của nông dân bị
thu hồi để xây dựng đô thị. Cán bộ lấy đất ruộng, đất vườn của dân phân lô chia
nhau bán chác, làm giàu. Người dân không có quyền sở hữu nên không đòi lại được.
Không chịu giao đất thì họ cưỡng chế, vì quyền lực nằm trong tay chính quyền.
Điển hình là ông Trần Văn Truyền, Chánh Thanh tra Chính phủ, trước khi về hưu
đã cướp cho mình bốn năm căn nhà, năm sáu lô đất!.
Có rất nhiều vấn đề bức xúc vi phạm quyền làm chủ của nhân
dân mà các Nghị quyết Đảng không nói tới. Thứ nhất là ở cơ sở, quyền dân chủ của
nhân dân bị vi phạm nghiêm trọng. Vì thói “kiêu ngạo cộng sản”, vì bệnh thành
tích, vụ lợi, các Đảng bộ, chi bộ cơ sở luôn luôn che dấu khuyết điểm, đố kỵ với
bất kỳ ai phê phán mình. Ở đó Bí thư, Thường vụ cấp ủy Đảng bộ, chi bộ cơ sở là
“Ông Đảng” có quyền sinh quyền sát. Bà con phê bình, phê phán, kiến nghị bất cứ
việc gì đều bị quy là “Nói xấu Đảng”. Ai bị quy kết là “Nói xấu Đảng” thì gia
đình bị trù dập khốn khổ, con em không được xác nhận lý lịch để đi học đại học,
trung học chuyên nghiệp, hay đi xin việc làm bất cứ đâu. Nên có thực trạng đau
lòng là “Người dân sợ Đảng hơn là tin Đảng!”. Những cuộc “tiếp dân” được tổ chức
định kỳ ở địa phương của lãnh đạo tỉnh, huyện là rất hình thức, làm cho qua
chuyện, đa phần là để “quan lớn” thanh minh, chối tội về những khuyết điểm mà
bà con chất vấn, chứ không phải là nơi để bà con “thực hiện vai trò phản biện”
với Đảng. Thứ hai nữa là những người đến chỗ tiếp dân đều được chọn lọc là “cốt
cán” của cấp ủy. Ý kiến đề đạt của dân trong những cuộc “tiếp dân” đó không bao
giờ đến tai người lãnh đạo cao của Đảng. Nên trong thực tế Đảng đang ngày càng
xa dân, có nhiều khi đối lập với nhân dân! Đảng cấp trên thì về tỉnh huyện đi
đâu cũng xe cảnh sát hú còi inh ỏi, các quan Đảng không báo giờ biết sự thật về
đời sống nghèo đói về vật chất và bị bức bách về tinh thần của người dân nông
thôn. Các báo Đảng hay nêu khẩu hiệu: “Đưa nghị quyết vào cuộc sống”, nhưng nghị
quyết thì chung chung nên không vào được cuộc sống, còn “cuộc sống trăm hoa đua
nở” thì không được đưa vào nghị quyết, vì đó không phải là “Ý Đảng”!
Một vấn đề nghiêm trọng nữa của Đảng cơ sở là ở các chi bộ
phường, thôn, xã ở các địa phương phía Nam đảng viên đa phần là cán bộ về hưu.
Có nhiều chi bộ ở phường tuổi câp ủy, đảng viên thấp nhất là 60 tuổi, tuổi cao
nhất là 83, 85. Những đảng viên đó không có thông tin nhiều về đổi mới, tư duy
của họ là tư duy từ thời bao cấp, cực đoan và lẩm cẩm. Những đảng viên này
không bao giờ chấp nhận những ý kiến mới mẻ, nếu ngược với ý kiến của mình, nên
người dân không bao giờ đề đạt được với Đảng những điều tâm huyết của mình. Với
những cơ sở Đảng như thế, các bạn trẻ địa phương bao giờ cũng từ chối vào Đảng
vì sợ phê phán kiểm điểm là “đua đòi”, “lai căng”, “hư hỏng”. Họ tìm cách ra
thành phố kiếm việc làm. Với những cơ sở đảng yếu kém như thế, những chủ trương
chính sách có ích của Đảng và Nhà nước không bao giờ đến được với người dân một
cách trọn vẹn, mà trở thành một mớ lý luận chung chung, sáo rỗng, không có sức
thuyết phục.
Ngay cả những đảng bộ cấp tỉnh, thành phố việc vi phạm quyền
dân chủ của nhân dân cũng rất nghiêm trọng. Do trình độ nhận thức, học vấn có hạn,
nhưng lại có tư tưởng kiêu ngạo “cấp trên bao giờ cũng trình độ hơn, đúng hơn cấp
dưới”, nên rất nhiều bí thư tỉnh ủy, chủ tịch tỉnh không thèm để ý đến nhưng lời
phản biện quyết liệt của các nhà khoa học, nhà văn hóa về những công trình xây
dựng phản văn hóa truyền thống như nhà văn hóa thay nhà rông ở miền núi, xét
danh hiệu “Làng văn hóa”, “Cơ quan văn hóa” v.v. Bệnh lãnh đạo ác cảm với những
trí thức cương trực, chỉ nghe theo những người xu nịnh đang làm triệt tiêu những
sáng kiến tâm huyết của nhân dân đối với công cuộc xây dựng đất nước. Một bộ
máy công quyền chuyên sách nhiễu, “hành” dân, đục khoét dân là bộ máy phản dân
chủ!
Có khẩu hiệu rất hay: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm
tra”. Quả thật nếu làm được điều đó thì đất nước không thể có tham nhũng tràn
lan như bây giờ. Nhưng đó chỉ là khẩu hiệu suông, hay nói nôm na là khẩu hiệu
tuyên truyền, lừa lọc! Vì không hề có cơ chế để thực hiện. Cơ chế cụ thể nào để
phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong từng công việc của đất nước? Làm sao
để dân biết rõ từng công việc của Đảng và chính quyền? Công khai như thế nào?
Cơ chế thông tin như thế nào? Dựa vào thẩm quyền nào để dân kiểm tra? Nhân dân
được làm chủ ở mức độ nào? Làm chủ những vấn đề gì? Cách thức làm chủ như thế
nào? Dân chủ không thành máu thịt của cuộc sống xã hội mà chỉ là một mỹ từ. Muốn
có dân chủ thực sự, phải có một bộ luật thực hành dân chủ trong xã hội. Và ban
hành nó để mọi người thực hiện.
Dân chủ là quyền tối thượng của mỗi con người được Hiến pháp
bảo vệ, nhưng lại không có hiệu lực trong thực tế cuộc sống. Để phát huy dân chủ
của nhân dân trước hết phải thực hiện dân chủ ở các làng xã. Những chủ trương lớn
của Đảng và Nhà nước phải tổ chức “trưng cầu dân ý”. Đó là một cơ chế khoa học
mà chúng ta chưa bao giờ thực hiện. Làm được như vậy, dân mới tin khẩu hiệu “lấy
dân làm gốc” của Đảng CS. Nhân dân thực hiện dân chủ trực tiếp, qua đại diện của
mình và qua chế độ tự quản ở từng cộng đồng dân cư. Mặt trận Tổ quốc, các đoàn
thể quần chúng là những đại diện mà qua đó nhân dân thể hiện quyền làm chủ của
mình. Một thực tế đau lòng hiện nay là Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể quần
chúng không thể hiện được là người đại diện có thẩm quyền của nhân dân trước Đảng,
mà từ lâu đã biến thành “bộ phận của Đảng”, tất cả các tổ chức này đều “sợ” Đảng,
chỉ “nói và làm theo lãnh đạo Đảng cấp trên”. Nên tiếng nói phản biện của người
dân bị vô hiệu hóa. Từ đó Đảng không bao giờ nghe được tiếng nói trung thực của
nhân dân. Vì thế phải tổ chức lại Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân
theo đúng nghĩa một tổ chức xã hội, đại diện thực sự của các từng lớp nhân dân,
những tổ chức này không cần có nhiều đảng viên, thậm chí không cần thiết phải đảng
viên làm lãnh đạo, có “ quyền nhất định” đối với đảng bộ cùng cấp. Có như thế mới
có tiếng nói trung thực của chính mình đối với Đảng trong từng công việc của đất
nước.
Bao giờ thì người dân được làm chủ thực sự?
N.M.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét