Biên dịch: Nguyễn Thị Nhung
Nguồn: John D. Ciorciari (2013). “China and the Pol Pot
Regime”, Cold War History, Vol. 14, No.
2, pp. 215-235.

Quá khứ từng ủng hộ chế độ Pol Pot đến nay vẫn là một trong
những khía cạnh nhạy cảm nhất trong lịch sử Chiến tranh Lạnh của Trung Quốc. Từ
tháng 4/1975 đến tháng 1/1979, Trung Quốc là đối tác bên ngoài chính yếu của
chính phủ Campuchia Dân chủ tàn bạo.
Chính phủ Trung Quốc từ lâu đã luôn cố hạ
thấp mối quan hệ thân cận này, trong khi giới lãnh đạo Campuchia ngày nay lại
mong muốn tái lập mối ràng buộc gần gũi với Bắc Kinh.[1] Tuy nhiên, chủ đề này
một lần nữa lại được gợi lên khi một tòa án do Liên Hợp Quốc hậu thuẫn mở phiên
xét xử các cựu quan chức Khmer Đỏ tại Phnom Penh. Vào năm 2009, thời điểm phiên
tòa đầu tiên bắt đầu, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Khương Du (Jiang
Yu) đã lên tiếng bảo vệ rằng nước này luôn thiết lập “các mối quan hệ hữu nghị
thông thường” với các chính phủ của Campuchia và chế độ Pol Pot chỉ là một
trong số đó.[2]
Vào năm 2010, đại sứ Trung Quốc ở Campuchia thừa nhận rằng
Trung Quốc đã từng cung cấp viện trợ lương thực nhưng quả quyết “chính phủ
Trung Quốc chưa bao giờ tham gia hay can thiệp vào hoạt động chính trị của
Campuchia Dân chủ”.[3] Một số nhân vật phe đối lập của Campuchia đã lên tiếng
phủ nhận ý kiến này, buộc tội Trung Quốc chịu trách nhiệm một phần đối với các
vụ giết chóc, và có trường hợp họ còn tuyên bố rằng “Trung Quốc nợ người dân
Campuchia một lời xin lỗi.”[4]
Đây không phải là lần đầu tiên vai trò của Trung Quốc được
đưa ra xem xét trong phòng xử án. Vào năm 1979, nhà nước Cộng hòa Nhân dân
Campuchia do Việt Nam hậu thuẫn đã thành lập một tòa án xét xử Pol Pot và ngoại
trưởng Campuchia Dân chủ Ieng Sary. Phiên tòa này đã quy hầu hết trách nhiệm về
tội ác của Khmer Đỏ lên Bắc Kinh, rõ ràng với mục đích làm suy giảm uy tín của
Bắc Kinh khi Chiến tranh Đông Dương lần ba (hay chiến tranh biên giới Việt-Trung
– ND) bước vào giai đoạn khốc liệt. Phán xét của tòa án cho rằng Trung Quốc “đã
tăng cường ồ ạt hỗ trợ quân sự và thiết lập một mạng lưới cố vấn dày đặc để
giám sát mọi hoạt động” của lãnh đạo Campuchia Dân chủ, “xúi giục bè lũ này tiến
hành một chính sách diệt chủng tàn khốc chống lại đồng bào chúng ta… [và] cả cuộc
chiến tranh xâm lược chống lại Việt Nam,” đồng thời đóng vai trò “kẻ chủ mưu
đáng căm phẫn của kế hoạch này.”[5] Dù những phiên tòa ngày nay hẳn sẽ không
đưa ra những định kiến tương tự chống lại Bắc Kinh, nhưng câu hỏi về bản chất
và mức độ ảnh hưởng của Trung Quốc lên nhà nước Campuchia Dân chủ vẫn còn bỏ ngỏ.
Bài viết này sẽ cố gắng góp phần làm sáng tỏ mối quan hệ
Trung Quốc – Campuchia dựa vào việc nghiên cứu bản chất của quan hệ đồng minh
ngầm giữa hai nước, cũng như tìm hiểu mức độ tác động của những điều khoản của
mối quan hệ thân hữu này lên ảnh hưởng của Trung Quốc trên thực tế. Để làm được
điều này, bài viết sẽ tận dụng những cuộc phỏng vấn chi tiết với các nhân vật
chóp bu của Khmer Đỏ, những người đã sát cánh làm việc với các quan chức Trung
Quốc giai đoạn 1975-1979, cũng như các hồ sơ chính thức của Campuchia Dân chủ
chưa từng được trích dẫn trước đây lấy từ Trung tâm Dữ liệu Campuchia (DC-Cam)
và những lời khai gần đây trong các phiên tòa xét xử Khmer Đỏ. Dù những nguồn
tư liệu mới này gần như không bổ sung thêm thông tin mới nào về các quá trình
hoạch định chính sách trong nội bộ Khmer Đỏ hay Bộ Chính trị Trung Quốc, nhưng
chúng giúp chúng ta có thêm những hiểu biết quan trọng về việc mối quan hệ đồng
minh ngầm đã được hai bên nhận thức và triển khai trên thực tế như thế nào.
Bằng chứng cho thấy quan hệ đối tác này rất phức tạp, trong
đó nổi bật là yếu tố nghi ngờ lẫn nhau, và được hai bên duy trì phần lớn là do
có chung những mục đích chiến lược và hợp tác thực dụng hơn là gắn bó về tư tưởng.
Trung Quốc đã thiết lập tầm ảnh hưởng to lớn trong lĩnh vực hành chính và kỹ
thuật chuyên môn tại các địa điểm trọng yếu trên khắp Campuchia. Tuy nhiên, nhiều
minh chứng cho thấy khả năng tác động của Trung Quốc lên các chính sách cấp cao
về an ninh cũng như đối nội của Khmer Đỏ là không lớn. Một số cán bộ phía Trung
Quốc không đồng ý với các chính sách của Campuchia Dân chủ và đã thúc giục phải
tiết chế lại, nhưng giới lãnh đạo nặng tư tưởng bài ngoại của nhà nước này lại
kịch liệt bảo vệ quyền tự quyết của mình, khiến phía Bắc Kinh đành phải hành xử
thật cẩn trọng, thậm chí ngay cả khi chính sách mù quáng và tàn khốc của nhà nước
Campuchia Dân chủ đe dọa khả năng tồn tại của chính nước này, gây rắc rối cho
hình ảnh của Trung Quốc với thế giới bên ngoài, và khiêu khích Việt Nam gây chiến.
Nhận thức của Bắc Kinh về lợi ích chiến lược của mình đã khiến ảnh hưởng của
Trung Quốc bị suy yếu và mở đường cho lãnh đạo Campuchia Dân chủ chi phối mối
quan hệ này một cách đáng kể. Quan hệ Trung Quốc – Campuchia Dân chủ là trường
hợp nghiên cứu điển hình của khả năng một nước yếu giành được ảnh hưởng và tự
chủ ngay cả trong một mối liên minh không cân xứng,[6] và thậm chí đôi khi còn
có thể gây phương hại đến đồng minh mạnh hơn của họ.[7] Những bài học này có ý
nghĩa rất lớn cho quan hệ đối ngoại của Trung Quốc ngày nay.
Cố gắng thúc đẩy quan hệ đối tác
Sau chiến thắng vào tháng 4/1975, các nhà cách mạng Khmer Đỏ
đã gần như tự động tìm đến Trung Quốc. Họ dĩ nhiên hắt hủi phương Tây. Liên Xô
dù có quan hệ thân hữu với Bắc Việt Nam nhưng trước đó đã không hỗ trợ thực sự
hào phóng cho Khmer Đỏ trong cuộc nội chiến Campuchia, và thậm chí đã từng có
cân nhắc một thỏa thuận hòa bình năm 1972 đối với Đông Dương mà nếu thành hiện
thực chắc chắn sẽ giúp chế độ cánh hữu Lon Nol tiếp tục nắm giữ quyền lực tại
Campuchia.[8] Ngay sau khi tiến vào Phnom Penh, quân Khmer Đỏ đã đổ về đại sứ
quán Liên Xô, bắt trói các nhà ngoại giao Xô-viết và dồn tống họ vào đại sứ
quán Pháp để trục xuất về nước cùng các vị khách phương Tây không còn được chào
đón khác.[9] Lãnh đạo Khmer Đỏ cũng gạt phăng những lời đề nghị đàm phán xây dựng
một “mối quan hệ đặc biệt” từ phía Hà Nội, do lo ngại Việt Nam âm mưu áp đảo
Campuchia và lôi kéo đất nước họ vào một Liên bang Đông Dương.[10] Thay vào đó,
lực lượng Campuchia Dân chủ còn tấn công vào hai đảo tranh chấp mà Việt Nam
đang nắm giữ trên Vịnh Thái Lan vào đầu tháng 5, khiến Việt Nam đánh chiếm một
hòn đảo của Campuchia và khởi tạo bầu không khí đối đầu hết sức căng thẳng giữa
hai nước sau đó.[11]
Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (sau đây gọi tắt là Trung Quốc)
cũng không hề sở hữu một “lý lịch” trong sạch khi nói đến vấn đề giúp đỡ những
người cộng sản Campuchia. Trung Quốc từng chống lưng cho Hoàng thân Norodom
Sihanouk chống lại quân nổi dậy Khmer Đỏ suốt những năm 1960, không nhiệt tình ủng
hộ quân nổi dậy Campuchia (tức Khmer Đỏ – NHĐ) sau khi Lon Nol tiếm quyền vào
năm 1970, và từng nỗ lực xích lại gần Hoa Kỳ vào giai đoạn 1971-1972.[12] Tuy
nhiên, Khmer Đỏ lại chọn cởi mở với Bắc Kinh, vì lý do chủ nghĩa Mao gần với
thiên hướng tư tưởng của họ hơn cả, bên cạnh đó còn bởi họ vẫn chưa sẵn sàng để
có thể tự đi trên đôi chân của mình. Trung Quốc cũng nhanh chóng chúc mừng
Khmer Đỏ, nhưng khôn ngoan nhấn mạnh trong các thông cáo liên quan rằng chính
phủ mới sẽ được dẫn dắt dưới tay Sihanouk – một người bạn thân tín của Trung Quốc
vốn đã sống tại Bắc Kinh kể từ khi bị Lon Nol đảo chính vào năm 1970.[13]
Giới lãnh đạo Campuchia Dân chủ đã bổ nhiệm Sihanouk vào trị
trí nguyên thủ quốc gia trên danh nghĩa trong một Đại hội Quốc gia đặc biệt họp
từ ngày 25 đến 27 tháng 4 nhưng cũng phát đi tín hiệu rõ ràng rằng họ sẽ không
làm một con rối phục tùng dưới ô dù bảo trợ của bất cứ thế lực bên ngoài nào:
“Lập trường chiến
lược lâu nay của đất nước Campuchia chúng tôi là kiên định theo đuổi chính sách
độc lập, hòa bình, trung lập, và không liên kết. Nhân dân Campuchia chắc chắn sẽ
không cho phép bất cứ một quốc gia nào đặt căn cứ quân sự trên lãnh thổ của
mình, đồng thời kiên quyết và dứt khoát phản đối các thế lực bên ngoài có hành
động can thiệp dưới mọi hình thức vào những vấn đề nội bộ của Campuchia.”[14]
Tuyên bố ngăn cấm quốc gia khác đóng quân ở đây là một lời cảnh
cáo dành cho Việt Nam khi vào thời điểm đó, vẫn còn khoảng 20.000 bộ đội Việt
Nam trên lãnh thổ Campuchia,[15] nhưng bên cạnh đó lãnh đạo Campuchia Dân chủ
cũng ám chỉ Trung Quốc khi đề cập về vấn đề can thiệp nội bộ. Bắc Kinh rõ ràng
đã nắm bắt được tín hiệu ấy. Vào ngày 13/5, một bản tin của Tân Hoa Xã đã trích
gần như nguyên văn tuyên bố này,[16] và Nguyên soái Diệp Kiếm Anh đã phát biểu
rằng Trung Quốc sẽ “luôn một lòng ủng hộ cuộc đấu tranh chính đáng của nhân dân
Campuchia cho … công cuộc bảo vệ độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia.”[17]
Nhưng thực tế Khmer Đỏ nhận thức được rằng họ cần phải nhận
viện trợ nước ngoài, chủ yếu là từ Trung Quốc.[18] Vào ngày 19/4, trong khi
lính Khmer Đỏ đang tiến hành tản cư Phnom Penh, Ieng Sary đã công du đến Bắc
Kinh và đàm phán với Trung Quốc về một thỏa thuận cung cấp 13.300 tấn vũ khí và
sẽ vận chuyển chúng qua cảng Kampong Saom, thay vì bằng đường bộ qua Việt
Nam.[19] Bốn ngày sau, ông ta trở lại Phnom Penh cùng một nhóm quan chức và
chuyên viên kỹ thuật người Trung Quốc, đem theo các thiết bị liên lạc và những
trang bị tối cần thiết cho việc thiết lập một chính phủ mới.[20] Đầu tháng 5,
có thông tin cho thấy Pol Pot đã bí mật đến Bắc Kinh và củng cố những cam kết về
viện trợ kinh tế, hỗ trợ kỹ thuật, và huấn luyện quân sự từ Trung Quốc. Đổi lại,
quốc gia Đông Nam Á này sẽ ủng hộ tư tưởng “Ba Thế giới” của Trung Quốc và hậu
thuẫn Bắc Kinh chống lại Matxcơva – một tín hiệu sớm cho thấy mối quan hệ này sẽ
đòi hỏi yếu tố có đi có lại ở một mức độ nhất định.[21]
Cũng trong khoảng thời gian này, đại sứ quán Trung Quốc ở
Phnom Penh đã mở cửa trở lại, nhưng lời chứng gần đây trong phiên tòa xét xử
Khmer Đỏ của Liên Hợp Quốc, hay còn được biết đến với cái tên chính thức là Tòa
án quốc tế đặc biệt xét xử tội ác của Khmer Đỏ (ECCC), đã xác nhận thông tin rằng
chế độ Campuchia Dân chủ khi đó chào đón các nhà ngoại giao Trung Quốc bằng
thái độ nghi ngờ. Vào tháng 6/2012, cựu quan chức Khmer Đỏ Khoeum Ngorn đã khẳng
định không lâu sau chiến thắng của Khmer Đỏ, ông cùng năm cán bộ khác đã được
điều vào làm việc trong đại sứ quán Trung Quốc, với nhiệm vụ là “theo sát các vị
khách.”[22] Ông giải thích “chúng tôi không được phép nói chuyện với khách về
chủ đề chính trị,” và “chúng tôi không thể tự do đi lại xung quanh.” Các cán bộ
được huấn luyện phải “cảnh giác”, thận trọng với nguy cơ có “các đặc vụ CIA trà
trộn vào bên trong,” hạn chế tối đa trao đổi với người Trung Quốc, và luôn báo
cáo giám sát lẫn nhau. Bất cứ sai sót nào cũng sẽ dẫn đến hậu quả là bị “điều
chuyển ra tuyến sau” hoặc “đưa đi cải tạo”, cả hai đều bao gồm một thời gian
dài lao động cưỡng bức trên các cánh đồng, hay thậm chí tệ hơn.[23] Lời khai của
Khoem đã bảo chứng cho những báo cáo trước đây của các quan chức Trung Quốc
khác từng lưu trú tại đây thời kỳ Campuchia Dân chủ. Họ cho biết khả năng tiếp
cận thông tin về những diễn biến ngay bên ngoài nơi làm việc của họ, bao gồm cả
những vụ tàn sát, là hết sức hạn chế và phải dựa vào những tin đồn nghe ngóng
được cũng như các báo cáo đã được lược giảm nhiều phần từ những đồng sự và phụ
tá Campuchia.[24]
*Clip: Phim tài liệu “The Killing Field” (Cánh đồng chết)
Những dấu hiệu rắc rối đầu tiên
Mặc dù đã áp dụng các biện pháp kiềm chế lên quan chức Trung
Quốc, nhưng rõ ràng những thay đổi chính sách theo hướng cực đoan đang diễn ra.
Các nhà ngoại giao Trung Quốc khi đặt chân đến Phnom Penh nhận ra thủ đô này gần
như bị bỏ hoang và biết được rằng giới lãnh đạo Campuchia Dân chủ đã cho tiêu hủy
loại tiền tệ mà Trung Quốc trước đó giúp in cho họ.[25] Thái độ của Campuchia
Dân chủ còn kéo Trung Quốc vào một cuộc khủng hoảng ngoại giao không mong muốn
khi lực lượng vũ trang của Khmer Đỏ đã bắt giữ một tàu hàng không trang bị vũ
khí có tên U.S.S. Mayaguez trên vùng biển quốc tế vào giữa tháng 5. Vụ việc này
đã đẩy Trung Quốc lâm vào thế chênh vênh như bước trên dây, giữa một bên là phải
bảo vệ đồng minh mới của mình và bên kia là tránh bị cuốn vào một cuộc tranh chấp
với Hoa Kỳ.[26]
Thay vì gây sức ép bắt Khmer Đỏ phải tiết chế chính sách,
Trung Quốc đã quyết định đẩy nhanh hỗ trợ cho đồng minh còn non yếu của mình, gửi
các tàu quân sự đến cảng Kampong Saom ngay sau vụ Mayaguez.[27] Theo Tang Ly, cựu
cán bộ Campuchia Dân chủ, viện trợ kinh tế cũng bắt đầu đổ về dưới dạng gạo,
xăng dầu, và các sản phẩm khác.[28] Những con tàu từ Trung Quốc chở 200.000 –
400.000 tấn hàng hóa viện trợ bắt đầu cập cảng đều đặn vào mỗi tháng.[29] Những
chuyến hàng đầu tiên bao gồm lượng lớn gạo cùng những mặt hàng dân dụng, và đến
giữa mùa hè năm đó, theo báo cáo cho thấy, Trung Quốc cũng bắt đầu cung cấp vũ
khí.[30] Các lãnh đạo Trung Quốc nhìn nhận việc ủng hộ cho Campuchia là một biện
pháp phòng bị quan trọng đề phòng mối quan hệ đang trở nên ngày một xấu đi với
Việt Nam – đồng minh một thời của Trung Quốc nhưng đã nghiêng về phía Matxcơva
trong những năm cuối cuộc Chiến tranh Đông Dương lần thứ hai (hay Kháng chiến
chống Mỹ của Việt Nam – ND) – và đồng thời chống lại cả nguy cơ bá quyền của Việt
Nam ở Đông Dương.[31]
Mao Trạch Đông đã tỏ ra lo ngại về các chính sách của Khmer
Đỏ. Trong một cuộc họp tại Bắc Kinh vào tháng 6, ông đã cảnh báo Pol Pot: “Anh
không nên sao chép y hệt kinh nghiệm của Trung Quốc, mà hãy suy nghĩ theo hoàn
cảnh riêng mình. Theo lời Mác, lý thuyết của ông ấy là một tôn chỉ dẫn đường
cho hành động, nhưng không phải là một học thuyết.” Nhưng bên cạnh lời nhắc nhở
ấy, Mao cũng khen ngợi Pol Pot: “chỉ một lần thực hiện mà ông đã đạt được điều
mà tất cả chúng tôi đã thất bại.”[32] Mao cũng cam kết cung cấp viện trợ quân sự
và kinh tế trị giá đến một tỷ đô-la, bao gồm 20 triệu đô-la viện trợ không hoàn
lại tức thời – gói viện trợ lớn nhất trong lịch sử của Trung Quốc.[33]
Bắc Kinh một lần nữa lặp lại phản ứng tương tự vào tháng 8,
lúc này các báo cáo về những vụ thảm sát ở Campuchia đã xuất hiện ngày càng nhiều.
Thủ tướng Chu Ân Lai, vốn nổi tiếng là người thực tế, khi tiếp đoàn lãnh đạo
Campuchia Dân chủ bên giường bệnh đã nhắc nhở những quan chức hàng đầu của họ là
Khieu Samphan and Ieng Thirith:
“Các anh phải hết
sức cẩn thận, vì con đường đi lên chủ nghĩa cộng sản rất chông gai và nguy hiểm.
Nếu các anh cố tình bỏ qua những phương cách khôn khéo và thận trọng, thì chắc
chắn sẽ khiến nhân dân mình phải hứng chịu một tấm thảm kịch… Chủ nghĩa cộng sản
phải như một món quà các anh dâng tặng người dân, món quà tự do và tự chủ toàn
vẹn.”[34]
Xét theo cam kết của Trung Quốc trước đó về không can thiệp
nội bộ, thì lời cảnh báo của Chu Ân Lai là thẳng thừng nhưng cũng không mấy hiệu
quả. Theo lời của Sihanouk, nhân chứng có mặt ngày hôm đó, Khieu Samphan và
Ieng Thirith chỉ đáp lại bằng “một nụ cười đầy hoài nghi và trịch thượng.”[35]
Mao cũng nhắc nhở những vị khách Campuchia về những mối nguy của “đấu đá nội bộ”[36]
– một cách nói tránh ám chỉ chính sách của Campuchia Dân chủ nhằm gạt Sihanouk
ra rìa quyền lực, thải hồi các cựu binh sĩ của Lon Nol trước đây đã đào ngũ
tham gia cách mạng, và tàn sát hoặc tống giam những cán bộ thân Việt Nam.[37]
Nouth Choeum, thư ký báo chí của Sihanouk cũng khẳng định: “Phía Trung Quốc tỏ
rõ lo ngại. Họ nói Khmer Đỏ đã “quá hấp tấp… [Khmer Đỏ] không có sự hậu thuẫn của
người Trung Quốc, những người còn hơn mọi nhà hiện thực chủ nghĩa về mặt tiến
hành cách mạng.”[38]
Dù không được ban lãnh đạo Campuchia Dân chủ nhân nhượng nhiều
về chính sách nội bộ, nhưng Trung Quốc lại giành được hầu như toàn bộ nhân nhượng
về các vấn đề đối ngoại. Vào tháng 8, Khieu Samphan đã cùng những đồng sự phía
Trung Quốc ký kết một thông cáo chung “phản ánh triệt để đường lối quốc tế của
Trung Quốc hiện nay” – ám chỉ sự ủng hộ của Khmer Đỏ dành cho các nội dung cốt
lõi trong chính sách đối ngoại “quốc tế chủ nghĩa” của Trung Quốc.[39] Khmer Đỏ
cũng bất đắc dĩ đồng ý tiến hành những biện pháp đối ngoại thực dụng chống lại ảnh
hưởng của Việt Nam, ví dụ như theo đuổi chính sách xích lại gần Thái Lan hoặc
thiết lập đường dây liên lạc với Washington.[40] Ngay cả trong lĩnh vực đối ngoại,
các quan chức Campuchia Dân chủ tiếp tục khẳng định sự độc lập, chấp nhận một
chính sách chống chủ nghĩa đế quốc mạnh mẽ nhưng từ chối ủng hộ bất cứ phe nào
trong số hai cường quốc cộng sản đang cạnh tranh lẫn nhau.[41]
Xét về những nỗ lực khuyến khích kiềm chế nội bộ Campuchia,
Trung Quốc ít thành công hơn. Trung Quốc đã thuyết phục các lãnh đạo Campuchia
Dân chủ để Sihanouk quay về nước, với hy vọng ông có thể tạo được ảnh hưởng ôn
hòa, thúc đẩy tính chính danh quốc tế của chế độ này, và nâng cao uy thế của Bắc
Kinh nhằm đối trọng với những nhân tố thân Hà Nội trong chế độ Campuchia Dân chủ.[42]
Trở lại vào tháng 9, Sihanouk đã bày tỏ thái độ bất đồng với “chính sách tàn bạo
của Khmer Đỏ” nhưng thừa nhận “Tôi phải hy sinh bản thân mình vì danh dự của
Trung Quốc và ngài Chu Ân Lai, những ân nhân đã giúp đỡ Campuchia và bản thân
tôi rất nhiều.”[43] Tuy nhiên, chuyến trở về của Sihanouk lại không đem lại nhiều
tác dụng ôn hòa như mong muốn, do Khmer Đỏ đã hầu như giam lỏng ông và trao cho
ông một vai trò hữu danh vô thực trong chính phủ. Thay vào đó quyền lực lại nằm
trong tay Ủy ban Thường vụ Đảng Cộng sản Campuchia mới thành lập, bao gồm Pol
Pot, Nuon Chea và một số nhân vật khác, trong đó có cả những bị cáo của tòa án
ECCC là Khieu Samphan, Ieng Sary, and Ieng Thirith.[44]
Đối mặt với thái độ nghi ngờ và đôi khi cả thách thức công
khai từ phía Khmer Đỏ, Trung Quốc vẫn tiếp tục rót viện trợ vào đây. Không lâu
sau thông cáo tháng 8 được ký kết, một đội ngũ chuyên gia từ Bộ Quốc phòng
Trung Quốc đã đến Campuchia để tiến hành một cuộc “khảo sát sâu rộng” các nhu cầu
quốc phòng của Campuchia Dân chủ.[45] Vào tháng 10, Phó Tổng tham mưu trưởng
Trung Quốc Wang Shanrong đã đến Phnom Penh và công bố một dự thảo kế hoạch viện
trợ quân sự.[46] Trao đổi thương mại giữa hai nước cũng tăng nhanh, và theo ước
tính của một cựu quan chức Campuchia Dân chủ làm việc tại Kampong Saom, có đến
80% hàng hóa nhập khẩu của Campuchia là đến từ Trung Quốc trong giai đoạn
1975-1976.[47] Một cựu quan chức khác của Bộ Thương mại đã báo cáo rằng để đổi
lấy máy móc các loại, Campuchia Dân chủ thường xuyên chuyển đến Trung Quốc các
chuyến hàng lớn gồm gạo, ngũ cốc thành phẩm, và những nguyên vật liệu khác.[48]
Đến mùa thu năm 1975, bản chất quan hệ Trung Quốc-Campuchia
Dân chủ đã định hình rõ. Giới lãnh đạo bài ngoại của Campuchia có thể sẵn sàng
chấp nhận viện trợ về kinh tế và kỹ thuật của Trung Quốc nhưng kiên quyết bảo vệ
đến cùng quyền tự do quyết sách của mình. Về phía Trung Quốc, họ có thể gây sức
ép một cách mềm mỏng để tiết chế những hành động đi quá giới hạn của Khmer Đỏ,
nhưng sẽ không mạo hiểm thử độ gắn kết của mối quan hệ này bằng đe dọa cắt viện
trợ. Robert Ross đã lập luận, Trung Quốc có lợi ích đáng kể khi bắt tay
Campuchia để tạo thành một đối trọng mạnh mẽ với mối liên minh Việt-Xô đang
ngày một khởi sắc, và chính điều này đã dập tắt mọi phản ứng “choáng váng và tức
giận” của Bắc Kinh trước sự tàn bạo của Khmer Đỏ.[49] Hành động của Trung Quốc
đã hé lộ chính sách ưu tiên hàng đầu của Bắc Kinh khi đó: cố gắng giữ cho anh bạn
đồng minh rắc rối không bị sụp đổ. Cách tiếp cận này đã giúp biến nhược điểm của
Campuchia Dân chủ thành một nguồn ảnh hưởng hữu hiệu và khiến cho mọi phản ứng
bất bình từ phía Trung Quốc dần mất đi trọng lượng.
Bề ngoài ủng hộ vô điều kiện
Vào tháng 2/1976, Wang Shanrong quay lại Phnom Penh và ký kết
một thoả thuận viện trợ quân sự sâu rộng hơn mà Pol Pot đã khởi động đàm phán với
Đặng Tiểu Bình từ tháng 6/1975. Theo như một tài liệu được đưa ra tại phiên tòa
năm 1979, Wang đã thông báo với bộ trưởng quốc phòng của Campuchia Dân chủ là
Son Sen rằng Trung Quốc có kế hoạch cung cấp 320 cố vấn quân sự; thiết bị
radar, pháo phòng không, và một sân bay quân sự; bốn tàu hộ tống và tàu phóng
ngư lôi; và thiết bị cho một trung đoàn tăng thiết giáp, trung đoàn thông tin,
ba trung đoàn pháo binh dã chiến, và một tiểu đoàn cầu phao cho quân đội. Wang
còn cho biết Trung Quốc sẽ đảm nhận trách nhiệm xây dựng một căn cứ hải quân,
sân bay, kho đạn, và sẽ mở rộng một cơ sở sửa chữa vũ khí.[50] Hỗ trợ từ phía
Trung Quốc bề ngoài có vẻ không kèm theo bất cứ điều kiện ràng buộc nào:
“Chính phủ
Campuchia sẽ tùy ý quyết định việc sử dụng các nguồn cung cấp và thiết bị quân
sự [của Trung Quốc] như thế nào và vào vấn đề gì. Trung Quốc sẽ không can thiệp,
cũng không áp đặt bất cứ điều kiện hay đòi hỏi đặc quyền nào.”[51]
Vào tháng 2/2012, khai nhận tại phiên tòa ECCC xét xử chính
mình, cựu Phó tổng bí thư của Đảng Cộng sản Campuchia Noun Chea đã nhấn mạnh
vào tính chất phi điều kiện trong gói viện trợ từ Trung Quốc. Ông nói: “Trung
Quốc đã hỗ trợ chúng tôi vũ khí,” chủ yếu tiếp tế các loại vũ khí hạng nhẹ,
nhưng “không bao giờ bán vũ khí” cho Campuchia Dân chủ.[52] Ông bổ sung: “Không
hề có hỗ trợ nào trong lĩnh vực chính trị, Trung Quốc chỉ viện trợ đơn thuần về
kỹ thuật”, ví dụ như giúp sửa chữa các tuyến đường sắt, và “theo như tôi được
biết, mọi viện trợ từ Trung Quốc, dù là về quân sự, hay quần áo nhu yếu phẩm” đều
được cung cấp “mà không có bất kỳ điều kiện gì dưới mọi hình thức.”[53] Theo
đó, lời khai của Nuon trùng khớp với những công bố chính thức của Trung Quốc,
dù cả hai phía đều đã thổi phồng mức độ vô điều kiện thực chất của viện trợ.[54]
Viện trợ không ràng buộc trên danh nghĩa này vẫn không thể
giúp Trung Quốc “miễn nhiễm” với thái độ ngờ vực của Campuchia Dân chủ. Vào năm
1976, hiến pháp mới của Campuchia Dân chủ đã tái nhấn mạnh rằng Campuchia Dân
chủ sẽ phải đấu tranh chống lại “sự can thiệp dưới mọi hình thức từ bên ngoài
vào các vấn đề nội bộ”, bao gồm những hình thức can thiệp “quân sự, chính trị,
văn hóa, kinh tế, xã hội, ngoại giao và cả trong vấn đề gọi là nhân đạo”.[55]
Laurence Picq, bà vợ người Pháp của một quan chức Khmer Đỏ hồi tưởng lại: sau
khi thông cáo Chu Ân Lai qua đời được phát trên Đài phát thanh Phnom Penh vào
tháng 1/1976, các quan chức Khmer Đỏ đã đưa ra một chỉ thị nhắc nhở có nội
dung: “Chúng ta phải dè chừng Trung Quốc. Tất nhiên, ta nợ họ rất nhiều, và đó
là một nước lớn, nhưng họ đang muốn biến chúng ta thành vệ tinh của họ.”
Vấn đề về vai trò của Sihanouk trong chính phủ tiếp tục là một
ngòi nổ căng thẳng tiềm ẩn. Vị hoàng thân này đã nổi giận vì bị giam lỏng, và
biên bản một cuộc họp của Ủy ban Thường vụ Campuchia Dân chủ vào giữa tháng 3
cho thấy các lãnh đạo Khmer Đỏ đã tìm cách kiểm soát mối nguy này. Ủy ban kết
luận “nếu Sihanouk từ chức, chúng ta sẽ không để ông ấy rời khỏi đất nước. Ông
ta rời khỏi đây sẽ khiến cho tình hình trở nên khó khăn với Trung Quốc”, và quyết
định sẽ tiếp tục giam lỏng Sihanouk tại gia.[56] Sự việc sau đó đã diễn ra đúng
như vậy, nhưng Trung Quốc không hề tỏ ý phản đối, có lẽ là do những biến động nội
bộ của bản thân Trung Quốc thời điểm này và do sự trỗi dậy của nhóm Tứ nhân
bang cực đoan vào đầu tháng 4.[57]
Nhóm Tứ nhân bang, vốn thanh trừng Đặng Tiểu Bình và đứng ra
cầm quyền trong suốt sáu tháng hỗn loạn trước khi Mao qua đời vào tháng 9 và Đặng
trở lại chính trường vào tháng 10, tỏ ra cởi mở hơn các lãnh đạo tiền nhiệm đối
với những chính sách cực đoan của Campuchia Dân chủ. Bên cạnh đó, Tứ nhân bang
cũng có quan điểm cứng rắn hơn với Việt Nam, tiêu biểu như yêu cầu Tổng bí thư
Lê Duẩn bác bỏ “chủ nghĩa bá quyền” của Liên Xô, và chính điều này đã đưa Hà Nội
xích lại gần phía Matxcơva hơn và khiến Trung Quốc ngày càng phụ thuộc vào sự đối
trọng của Campuchia.[58] Vào tháng 5, bất chấp những lo sợ đối với phe thân Hà
Nội đang trỗi dậy trong nội bộ Campuchia Dân chủ,[59] Trung Quốc vẫn chấp thuận
xây dựng một xưởng sản xuất vũ khí mới ở một vị trí bí mật gần Phnom Penh.[60]
Vào tháng 6, theo bản báo cáo Đảng Cộng sản Campuchia gửi cho các chỉ huy quân
sự, một quan chức sứ quán Trung Quốc đã cam kết Trung Quốc sẽ cho vận chuyển xấp
xỉ 1.000 tấn thiết bị quân sự đến cảng Kampong Saom vào cuối tháng 6 hoặc đầu
tháng 7, bao gồm hai mươi xe tăng, mười xe bán tăng (semi-tanks), xe quân sự,
hàng chục ngàn viên đạn, các thiết bị truyền phát thông tin, vật liệu xây dựng
các loại, và những trang thiết bị khác.[61]
Lãnh đạo Campuchia Dân chủ tiếp tục chào đón viện trợ từ
Trung Quốc nhưng vẫn lo ngại bị phụ thuộc. Tại một phiên họp đảng vào tháng
6/1976, một quan chức cấp cao của Đảng Cộng sản Campuchia đã lên tiếng: “Nếu
chúng ta không mạnh mẽ và không nhanh chóng phát triển nhảy vọt, những kẻ thù
bên ngoài sẽ chỉ chực chờ nghiền nát chúng ta. Kẻ thù dù có ở dạng nào thì cũng
đều muốn những nước nhỏ làm đầy tớ cho họ.”[62] Vào tháng 7, giới lãnh đạo Đảng
Cộng sản Campuchia đã thông qua Kế hoạch Bốn Năm để định hướng chính sách quốc
gia và lưu ý rằng cần phải có “sự giúp đỡ và hỗ trợ từ phía bạn bè quốc tế dành
cho chúng ta”, nhưng cũng bổ sung thêm rằng:
“Trung Quốc có
cung cấp viện trợ, nhưng cũng không nhiều nếu so với các nước khác. Đây là
chính sách của Đảng ta. Nếu nước ta đi cầu khẩn các nước khác giúp đỡ, chắc chắn
phần nào sẽ được đáp lại, nhưng làm vậy sẽ ảnh hưởng đến lập trường chính trị của
chúng ta. Xin được viện trợ từ Liên Xô không dễ. Việt Nam vẫn đang phải quanh
quẩn gần bên để xin xỏ Liên Xô. Chúng ta sẽ không theo chân họ. Nguyên nhân là
bởi, nếu chúng ta xin họ giúp đỡ, dù ít hay nhiều, chắc chắn sẽ có những điều
kiện chính trị kèm theo áp đặt lên nước ta.”[63]
Ngay cả trong giai đoạn nạn đói năm 1977, một quan chức
Campuchia Dân chủ đã giải trình lý do chế độ miễn cưỡng tiếp nhận viện trợ
lương thực từ bên ngoài như sau:
“Ăng-ca [“Tổ chức”
Khmer Đỏ] không muốn nghe bất cứ điều gì về vấn đề hỗ trợ từ bên ngoài vì chúng
ta có nguyên tắc cơ bản là luôn làm chủ vận mệnh của mình và dựa vào chính sức
mạnh và nguồn lực của bản thân. Nếu chúng ta đã giải phóng đất nước của mình,
thì đó chính xác là do đất nước này chưa từng được độc lập từ nhiều thế kỷ nay.
Vậy tại sao chúng ta đã đánh mất độc lập và phẩm giá của mình? Đó là bởi vì ta
đã quen phụ thuộc vào những nước khác. Các vị phải hiểu rằng những người ngoại
quốc không bao giờ cho không ai cái gì. Lần này đã được hưởng trọn vẹn nền độc
lập, chúng ta sẽ không đánh đổi tự do của mình để tiếp tục nhận viện trợ.”[64]
Các quan chức Trung Quốc cũng có lúc tức giận vì Khmer Đỏ từ
chối nhận viện trợ và ý kiến cố vấn. Khi vị quan chức Trung Quốc Fang Yi đến
Phnom Penh vào tháng 12/1976, ông khẳng định Khmer Đỏ “đã đi quá xa trong việc
thúc đẩy việc tự lực cánh sinh”, và nhận thấy chế độ Campuchia Dân chủ thậm chí
còn không đụng đến khoản viện trợ không hoàn lại trị giá 20 triệu đô-la hàng
hóa mà Trung Quốc đã cung cấp từ năm 1975. Giới chức Trung Quốc tin rằng Khmer
Đỏ đã “thực thi chủ nghĩa quân bình và tự cường quá đà.”[65]
Tuy nhiên, bản thân Trung Quốc nhìn chung vẫn hành xử theo
nguyên tắc không can thiệp, một phần do kinh nghiệm lịch sử bị can thiệp của
mình. Sophie Richardson đã lập luận rằng Năm Nguyên tắc cùng Tồn tại Hòa bình của
Trung Quốc, trong đó nhấn mạnh vấn đề chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, và không
can thiệp, “đã khiến Bắc Kinh phải đối xử với chế độ mới này như bao chế độ
khác” và vẫn phải phản ứng dè dặt ngay cả khi những hành động tàn bạo và đường
lối lãnh đạo đất nước sai lầm nghiêm trọng của Campuchia Dân chủ đã trở nên rõ
ràng.[66] Việc Trung Quốc vẫn trung thành với phương châm này không chỉ đơn thuần
là vấn đề nguyên tắc. Nó còn có tác dụng giúp Trung Quốc xây dựng ảnh hưởng tại
các quốc gia đang phát triển, đặc biệt là những nước kiên quyết bảo vệ chủ quyền
quý giá của mình. Cách tiếp cận này vẫn còn mang lại nhiều lợi ích cho Trung Quốc
đến tận ngày nay.
Ảnh hưởng của Trung Quốc trên thực tế
Tiếp tục bất chấp tư tưởng dần chia tách
Đã đến mức không thể quay đầu
Kết luận
Download phần còn lại của văn bản tại đây: Anh huong cua TQ
doi voi che do Pol Pot.pdf
[1] Ví dụ vào năm 2008, cảnh sát Campuchia đã phải giải tán
đám đông các nhà hoạt động đang cố chống đối chính sách Trung Quốc tiếp tay cho
cuộc xung đột đẫm máu ở Darfur. Nhóm biểu tình đã đốt một ngọn đuốc giống phiên
bản của Olympic bên ngoài nhà tù khét tiếng cũ của Khmer Đỏ tại Tuol Seng. Ker
Munthit, ‘Mia Farrow Confronts Cambodian Police’, Associated Press, 19 Jan.
2008.
Nguồn: http://nghiencuuquocte.org/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét