Thứ Năm, 30 tháng 3, 2017

TÌM ĐÂU DÂN QUYỀN Ở VIỆT NAM?





Các quyền cơ bản của con người như: tự do ngôn luận, hội họp, lập hội, tôn giáo, giáo dục… là những quyền phổ quát. Ảnh: internet

Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa có Hiến pháp và hàng hà sa số Luật nói về quyền và nghĩa vụ công dân, nhưng có đốt đuốc đi tìm cũng không thấy quyền dân được nói, được nghe và được viết ra những điều mình muốn.

Vậy Hiến pháp và Luật viết ra để làm gì, nếu không phải chỉ để khoe hàng hay đọc cho đã con mắt và nghe cho sướng lỗ tai?

Chẳng hạn như Điều 2 Hiến pháp 2013 viết: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.”

Thưc tế dân không dính dáng gì đến nhà nước này vì nó không do dân bầu lên. Nhà nước của đảng duy nhất cầm quyền cũng chỉ “vì nhân dân” để tuyên truyền cho câu nói “Đảng ta không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân” của ông Hồ Chí Minh.

Nhưng những người thừa kế ông Hồ lại không làm theo lời dặn của ông bảo: “Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.

Nếu các “cháu ngoan” của “Bác” làm đúng như thế thì không những đất nước và người dân đã bớt khốn khó mà đảng cũng đâu phải tiếp tục đầu bù tóc rối từ năm này qua năm khác để lo “ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống” trong cán bộ, đảng viên? 

Đến khỏan 2/Điều 2, Hiến pháp còn vẽ vời rằng: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức.”

Thực tế không phải như vậy. Nhân dân chỉ được “khoác áo làm chủ” để ăn bánh vẽ. Bằng chứng cho thấy Đảng nắm hết mọi thứ quyền để nuôi cán bộ ăn no béo ù. Trong khi nông dân, chiếm 70% dân số, công nhân lao động và những trí thức không chịu nghe theo đảng bằng mọi gía lại mang số phận hẩm hiu và thiệt thòi nhất trong xã hội.

Chẳng hạn như chuyện “đất đai thuộc về tòan dân” mà nhà nước lại dành quyền quản lý và độc quyền sử dụng như quy định trong Điều 53: “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý.”

Ai ủy quyền cho nhà nước “đại diện” để làm chủ và “qủan lý” đất của dân? Chẳng có “văn tự điền thổ” hay hợp đồng nào giữa đảng và dân đã minh định như thế.

Được đà, Quốc hội (của đảng) còn duy trì quyền được độc tôn cai trị đất nước trong Hiến pháp cho đảng Cộng sản như Điều 4 viết: “Đảng Cộng sản Việt Nam – Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của Nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, Nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.”

Chưa hết, đảng này còn “tự nhiên như người Hà Nội” để nhét chữ vào miệng dân nói rằng: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta…” (Cuơng lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ qúa độ lên Xã hội Chủ nghĩa—Bổ sung, phát triển 2011)

Nhân dân nào đã nói với đảng như thế, hay đảng đã “cả vú lấp miệng em” để nói văng mạng?

QUYỀN DÂN Ở ĐÂU?

Sau những vẽ vời dân chủ nửa vời như thế, Hiến pháp 2013 còn dành hẳn Chương II, từ Điều 14 đến Điều 49 để phô trương về “Quyền con người và nghĩa vụ cơ bản của công dân”

Nhưng dù có rào trước đón sau thì nhiều điều của Chương này đã vô hiệu hóa ngay từ khi sọan thảo.

Chẳng hạn như Điều 23 viết: “Công dân có quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định.”

Cụm từ “do pháp luật quy định” là con dao hai lưỡi đã triệt tiêu ý nghĩa “tự do đi lại và cư trú” của công dân. Nhà nước đã tận dụng triệt để các Điều 79, 87,88 và 89 của Bộ Luật Hình sự 1999 để tước bỏ quyền đi lại của nhiều công dân, trong đó có những người tham gia vào công cuộc đấu tranh cho dân chủ, tự do và nhân quyền ở Việt Nam.

Tiêu chuẩn quy tội của những điều này rất mơ hồ và đượm mầu sắc quy chụp lên các đối tượng nhà nước nhằm vào.

Tỷ dụ Điều 79 viết “Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” quy định các đối tượng bị trừng phạt gồm: “Người nào hoạt động thành lập hoặc tham gia tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân, thì bị phạt như sau”:

1. Người tổ chức, người xúi giục, người hoạt động đắc lực hoặc gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình;

2. Người đồng phạm khác thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

Điều 87. “Tội phá hoại chính sách đoàn kết” viết:

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây nhằm chống chính quyền nhân dân, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm:

a) Gây chia rẽ giữa các tầng lớp nhân dân, giữa nhân dân với lực lượng vũ trang, với chính quyền nhân dân, với các tổ chức xã hội;

b) Gây hằn thù, kỳ thị, chia rẽ dân tộc, xâm phạm quyền bình đẳng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam;

c) Gây chia rẽ người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, chia rẽ các tín đồ tôn giáo với chính quyền nhân dân, với các tổ chức xã hội;

d) Phá hoại việc thực hiện chính sách đoàn kết quốc tế.

2. Phạm tội trong trường hợp ít nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

Điều 88. “Tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”:

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây nhằm chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm:

a) Tuyên truyền xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân;

b) Tuyên truyền những luận điệu chiến tranh tâm lý, phao tin bịa đặt gây hoang mang trong nhân dân;

c) Làm ra, tàng trữ, lưu hành các tài liệu, văn hoá phẩm có nội dung chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

2. Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm.

Điều 89. “Tội phá rối an ninh”:

1. Người nào nhằm chống chính quyền nhân dân mà kích động, lôi kéo, tụ tập nhiều người phá rối an ninh, chống người thi hành công vụ, cản trở hoạt động của cơ quan, tổ chức, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 82 của Bộ luật này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

2. Người đồng phạm khác thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm

TÔN GIÁO ĐẾN NGÔN LUẬN

Bước qua Điều 24 của Hiến pháp 2013, chúng ta sẽ thấy cái đuôi “lợi dụng tín ngưỡng” được chêm vào để hạn chế, kiểm soát và kìm kẹp người có đạo.

Hiến pháp cam đoan:

1. Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật.

2. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.

3. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật.

Không cần phải dài dòng hay phân bua với nhà nước. Nhiều năm qua, chính quyền ở nhiều nơi trong nước đã chiếm đọat tài sản của các Tổ chức Tôn giáo như tịch thu đất đai, đền thờ, đình chùa hay các địa điểm thờ phượng của người dân mà nhà nước cứ leo lẻo “không hề có xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo”.

Ngược lại, khi bị phản đối và khiếu kiện như “con kiến đi kiện củ khoai” thì nhà nước lại gán tội “ngăn cản thi hành luật pháp” hay “lợi dụng tôn giáo” để họat động chống phá nhà nước, hoặc gay gắt hơn, họ bảo các vị đã “chống lại chính quyền nhân dân”.

Đến Điều 25, Hiến pháp cũng viết cong queo: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định.

Hay: “Công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân. Việc thực hiện các quyền này do luật định.

Ai cũng biết, các Tổ chức Nhân quyền trên Thế giới, Liên Hiệp Quốc, Liên hiệp Châu Âu và Bộ Ngọai giao Mỹ đều biết Điều 25 chỉ viết ra để chơi cho vui. Bởi vì Nhà nước Việt Nam đã vênh vang không chấp nhận cho tư nhân ra báo và khẳng định báo đài là các cơ quan được sử dụng để tuyền truyền cho chủ trương, chính sách của nhà nước và bảo vệ đảng CSVN.

Các dự thảo luật về “hội họp, lập hội, biểu tình” cứ thậm thụt đưa ra Quốc hội rồi lại rút để tiếp thu ý kiến hay bổ cung đã vài phen rồi mà chưa biết sẽ lùi cho đến bao giờ?.

Nhà nước của đảng còn tìm mọi cách để ngăn cấm quyền “thông tin” và “được thông tin” của người dân. Các quyền được tiếp cận thông tin qua Internet, Facebook cũng bị ngăn chặn và kiểm soát nghiêm ngặt.

BẢO VỆ ĐỘC TÀI

Hai văn kiện chứng minh cho hành động độc tài và độc quyền thông tin của nhà nước Việt Nam được gói ghém trong:

– Thông tư số 38/2016/TT-BTTTT, ngày 26/12/2016 “Quy định chi tiết về việc cung cấp thông tin công cộng qua biên giới.”

 Và

– Nghị định 72/2013/NĐ-CP, ngày 15/03/2013 nhằm “Quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng”.

Mục đích của 2 văn kiện này là nhắm kiểm soát và truy lùng các thông tin được nhà nước quy kết là “độc hại” du nhập qua đường viễn thông và internet từ bên ngoài vào Việt Nam, và giao dịch, sử dụng tại các địa điểm tiếp nhận hay các tổ chức hoặc cá nhân ở Việt Nam.

Thông tư 38 ấn định thẩm quyền của Bộ Thông tin và Truyền thông được sàng lọc, cấm đoán và quyết định biện pháp chế tài các thông tin từ bên ngoài vào Việt Nam. Nội dung cũng quy định trách nhiệm của các nhà cung cấp dịch vụ Internet vào Việt Nam như Google và Yahoo v.v.. và bổn phận của họ phải tuân thủ.

Tuy nhiên, Thông tư 38 chỉ là cái đuôi nối dài để áp dụng triệt để nội dung ấn định trong Nghị định 72/2013, ban hành ngày 15/03/2913 bởi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

Điều 1 của Nghị định 72/2013 viết: “ Nghị định này quy định chi tiết việc quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet, thông tin trên mạng, trò chơi điện tử trên mạng; bảo đảm an toàn thông tin và an ninh thông tin; quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân tham gia việc quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet, thông tin trên mạng, trò chơi điện tử trên mạng, bảo đảm an toàn thông tin và an ninh thông tin.”

Điều 2. Cho biết “Đối tượng áp dụng”:

“Nghị định này áp dụng đối với tổ chức, cá nhân trong nước, tổ chức, cá nhân nước ngoài trực tiếp tham gia hoặc có liên quan đến việc quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet, thông tin trên mạng, trò chơi điện tử trên mạng, bảo đảm an toàn thông tin và an ninh thông tin.”

Điều 3. Nói về “Giải thích từ ngữ”, viết chi tiết các loại hoạt động bị chi phối như sau:

1. Mạng là khái niệm chung dùng để chỉ mạng viễn thông (cố định, di động, Internet), mạng máy tính (WAN, LAN).

2. Dịch vụ Internet là một loại hình dịch vụ viễn thông, bao gồm dịch vụ truy nhập Internet và dịch vụ kết nối Internet:

a) Dịch vụ truy nhập Internet là dịch vụ cung cấp cho người sử dụng Internet khả năng truy nhập đến Internet;

b) Dịch vụ kết nối Internet là dịch vụ cung cấp cho doanh nghiệp cung cấp dịch vụ truy nhập Internet, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ ứng dụng viễn thông khả năng kết nối với nhau để chuyển tải lưu lượng Internet.

3. Trạm trung chuyển Internet là một hệ thống thiết bị viễn thông được một tổ chức hoặc doanh nghiệp thiết lập để cung cấp dịch vụ kết nối Internet.

4. Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet là doanh nghiệp viễn thông cung cấp dịch vụ Internet quy định tại Khoản 2 Điều này.

5. Đại lý Internet là tổ chức, cá nhân cung cấp dịch vụ truy nhập Internet cho người sử dụng Internet thông qua hợp đồng đại lý Internet ký với doanh nghiệp cung cấp dịch vụ truy nhập Internet để hưởng hoa hồng hoặc bán lại dịch vụ truy nhập Internet để hưởng chênh lệch giá.

6. Điểm truy nhập Internet công cộng bao gồm:

a) Địa điểm mà đại lý Internet được quyền sử dụng hợp pháp để cung cấp dịch vụ;

b) Điểm truy nhập Internet công cộng của doanh nghiệp là địa điểm mà đơn vị thành viên hoặc cá nhân đại diện cho doanh nghiệp cung cấp dịch vụ truy nhập Internet trực tiếp quản lý để cung cấp dịch vụ truy nhập Internet cho người sử dụng Internet;

c) Điểm truy nhập Internet công cộng tại khách sạn, nhà hàng, sân bay, bến tàu, bến xe, quán cà phê và điểm công cộng khác là địa điểm mà tổ chức, cá nhân được quyền sử dụng hợp pháp để cung cấp dịch vụ truy nhập Internet cho người sử dụng Internet.

7. Người sử dụng Internet là tổ chức, cá nhân giao kết hợp đồng sử dụng dịch vụ với doanh nghiệp cung cấp dịch vụ truy nhập Internet hoặc điểm truy nhập Internet công cộng để sử dụng các ứng dụng và dịch vụ trên Internet.

Tiếp theo, khỏan này giải thích tiếp:

8. Tài nguyên Internet là tập hợp tên và số thuộc quyền quản lý của Việt Nam, bao gồm:

a) Tên miền quốc gia Việt Nam “.vn”, các tên miền khác liên quan đến quyền lợi quốc gia Việt Nam; địa chỉ Internet, số hiệu mạng, các tên và số khác được các tổ chức quốc tế phân bổ cho Việt Nam thông qua Trung tâm Internet Việt Nam (VNNIC);

b) Tên miền quốc tế, địa chỉ Internet, số hiệu mạng, tên và số khác được tổ chức quốc tế phân bổ cho tổ chức, cá nhân tại Việt Nam.

TRÒ CHƠI CŨNG KIỂM SOÁT

9. Dịch vụ trò chơi điện tử trên mạng (gọi tắt là dịch vụ trò chơi điện tử) là việc cung cấp cho người chơi khả năng truy nhập vào mạng và chơi các trò chơi điện tử trên mạng.

10. Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử trên mạng (gọi tắt là doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử) là doanh nghiệp thành lập theo pháp luật Việt Nam cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử thông qua việc thiết lập hệ thống thiết bị và sử dụng hợp pháp phần mềm trò chơi điện tử.

11. Điểm cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử công cộng là địa điểm mà tổ chức, cá nhân được toàn quyền sử dụng hợp pháp để cung cấp cho người chơi khả năng truy nhập vào mạng và chơi trò chơi điện tử thông qua việc thiết lập hệ thống thiết bị tại địa điểm đó.

12. Người chơi trò chơi điện tử trên mạng (gọi tắt là người chơi) là cá nhân giao kết hợp đồng với doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử hoặc điểm cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử công cộng để chơi trò chơi điện tử.

13. Thông tin trên mạng là thông tin được lưu trữ, truyền đưa, thu thập và xử lý thông qua mạng.

14. Thông tin công cộng là thông tin trên mạng của một tổ chức, cá nhân được công khai cho tất cả các đối tượng mà không cần xác định danh tính, địa chỉ cụ thể của các đối tượng đó.

TỔ CHỨC VÀ CÁ NHÂN

15. Thông tin riêng là thông tin trên mạng của một tổ chức, cá nhân mà tổ chức, cá nhân đó không công khai hoặc chỉ công khai cho một hoặc một nhóm đối tượng đã được xác định danh tính, địa chỉ cụ thể.

16. Thông tin cá nhân là thông tin gắn liền với việc xác định danh tính, nhân thân của cá nhân bao gồm tên, tuổi, địa chỉ, số chứng minh nhân dân, số điện thoại, địa chỉ thư điện tử và thông tin khác theo quy định của pháp luật.

17. Dịch vụ nội dung thông tin là dịch vụ cung cấp thông tin công cộng cho người sử dụng dịch vụ.

18. Nguồn tin chính thức là những thông tin được đăng, phát trên báo chí Việt Nam hoặc trên các trang thông tin điện tử của cơ quan Đảng, Nhà nước theo quy định pháp luật về báo chí, sở hữu trí tuệ.

19. Thông tin tổng hợp là thông tin được tổng hợp từ nhiều nguồn thông tin, nhiều loại hình thông tin về một hoặc nhiều lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội.

20. Hệ thống thông tin là tập hợp các thiết bị viễn thông, công nghệ thông tin bao gồm phần cứng, phần mềm và cơ sở dữ liệu phục vụ cho hoạt động lưu trữ, xử lý, truyền đưa, chia sẻ, trao đổi, cung cấp và sử dụng thông tin.

21. Trang thông tin điện tử (website) là hệ thống thông tin dùng để thiết lập một hoặc nhiều trang thông tin được trình bày dưới dạng ký hiệu, số, chữ viết, hình ảnh, âm thanh và các dạng thông tin khác phục vụ cho việc cung cấp và sử dụng thông tin trên Internet.

22. Mạng xã hội (social network) là hệ thống thông tin cung cấp cho cộng đồng người sử dụng mạng các dịch vụ lưu trữ, cung cấp, sử dụng, tìm kiếm, chia sẻ và trao đổi thông tin với nhau, bao gồm dịch vụ tạo trang thông tin điện tử cá nhân, diễn đàn (forum), trò chuyện (chat) trực tuyến, chia sẻ âm thanh, hình ảnh và các hình thức dịch vụ tương tự khác.

23. An toàn thông tin là sự bảo vệ thông tin và các hệ thống thông tin tránh bị truy nhập, sử dụng, tiết lộ, gián đoạn, sửa đổi hoặc phá hoại trái phép nhằm bảo đảm tính nguyên vẹn, tính bảo mật và tính khả dụng của thông tin.

24. An ninh thông tin là việc bảo đảm thông tin trên mạng không gây phương hại đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, bí mật nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

Như vậy thì những loại tin nào bị ngăn cấm truyền tải và thu nhập?

Nhà nước Việt Nam cho biết trong Điều 4. Khi nói về “Chính sách phát triển, quản lý Internet và thông tin trên mạng” là nhằm: “Khuyến khích phát triển các nội dung, ứng dụng tiếng Việt phục vụ cho cộng đồng người Việt Nam trên Internet. Đẩy mạnh việc đưa các thông tin lành mạnh, hữu ích lên Internet.

Họ cũng nói sẽ: “Ngăn chặn những hành vi lợi dụng Internet gây ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, vi phạm đạo đức, thuần phong mỹ tục và vi phạm quy định của pháp luật. Áp dụng các biện pháp bảo vệ trẻ em, thanh thiếu niên khỏi tác động tiêu cực của Internet.

Bảo đảm chỉ những thông tin hợp pháp theo pháp luật Việt Nam mới được truyền, kể cả truyền qua biên giới, đến người sử dụng Internet tại Việt Nam.”

CÁC VIỆC BỊ CẤM

Vậy người cung cấp dịch vụ thông tin trên Internet hay Facebook, Google, Yahoo v.v… cũng như người tiếp nhận ở Việt Nam bị ngăn cấm trong các lĩnh vực nào?

Điều 5 của Nghị định 72/2013 quy định bị cấm nếu:

Lợi dụng việc cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng nhằm mục đích:

a) Chống lại Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; gây phương hại đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội; phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc; tuyên truyền chiến tranh, khủng bố; gây hận thù, mâu thuẫn giữa các dân tộc, sắc tộc, tôn giáo;

b) Tuyên truyền, kích động bạo lực, dâm ô, đồi trụy, tội ác, tệ nạn xã hội, mê tín dị đoan, phá hoại thuần phong, mỹ tục của dân tộc;

c) Tiết lộ bí mật nhà nước, bí mật quân sự, an ninh, kinh tế, đối ngoại và những bí mật khác do pháp luật quy định;

d) Đưa thông tin xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự và nhân phẩm của cá nhân;

đ) Quảng cáo, tuyên truyền, mua bán hàng hóa, dịch vụ bị cấm; truyền bá tác phẩm báo chí, văn học, nghệ thuật, xuất bản phẩm bị cấm;

e) Giả mạo tổ chức, cá nhân và phát tán thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

2. Cản trở trái pháp luật việc cung cấp và truy cập thông tin hợp pháp, việc cung cấp và sử dụng các dịch vụ hợp pháp trên Internet của tổ chức, cá nhân.

3. Cản trở trái pháp luật hoạt động của hệ thống máy chủ tên miền quốc gia Việt Nam “.vn“, hoạt động hợp pháp của hệ thống thiết bị cung cấp dịch vụ Internet và thông tin trên mạng.

4. Sử dụng trái phép mật khẩu, khóa mật mã của tổ chức, cá nhân; thông tin riêng, thông tin cá nhân và tài nguyên Internet.

5. Tạo đường dẫn trái phép đối với tên miền hợp pháp của tổ chức, cá nhân; tạo, cài đặt, phát tán phần mềm độc hại, vi-rút máy tính; xâm nhập trái phép, chiếm quyền điều khiển hệ thống thông tin, tạo lập công cụ tấn công trên Internet.

Những lý do ngăn cấm và biện pháp kiểm soát, ngăn chận hoạt động của Internet và các dạng truyền thông điện tử khác từ ngoài vào Việt Nam và ở trong nước đã cho thấy đảng và nhà nước Cộng sản Việt Nam đang lo sợ trước trận cuồng phong của khoa học kỹ thuật truyền thông.

HÌNH ẢNH TRƯỚC MẮT

Nhưng liệu họ có thành công không, hay chỉ dọn đường cho một cuộc chiến thông tin và truyền thông mới với nước ngoài và với người dân của mình?

Hiện nay, khi đảng tung hết khả năng để đối phó với cơn phong ba “tự diễn biến” và “tự chuyển hoá” trong nội bộ đàng thì họ cũng phải đương đấu với nhiều cán bộ, đảng viên không còn muốn đảng tồn tại nữa.

Thậm chí còn có nhiều cán bộ đảng viên đã tiếp tay phát tán các thông tin nói xấu lãnh đạo hay chỉ trích đường lối và chính sách của đảng và nhà nước.

Báo Quân đội Nhân dân báo động ngày 23/03/2017: “Đáng tiếc là trước những thông tin bịa đặt, xấu độc như trên, có một số người, trong đó có cả cán bộ, đảng viên đã suy nghĩ giản đơn, sử dụng chính những thông tin đó để chia sẻ, bình luận trên mạng xã hội hoặc tán phát thông tin trong cộng đồng kiểu “câu chuyện làm quà”, gây dư luận xã hội không đúng về lãnh đạo Đảng, Nhà nước.

Thông tin từ cơ quan chức năng cho biết, thời gian qua, đã xuất hiện một số trường hợp cán bộ, đảng viên dùng mạng xã hội và thông tin di động tán phát thông tin xấu, bôi nhọ, hạ thấp uy tín lãnh đạo, gây chia rẽ nội bộ. Trong đó, có người đến mức bị xử lý hình sự. Có người từ chỗ viết bài, đăng tải thông tin phản biện xã hội đã bị kẻ xấu lôi kéo, kích động trở thành đối tượng chống phá Đảng, Nhà nước theo kiểu “hóa mù ra mưa”. Những trường hợp này biểu hiện vi phạm “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đã rất rõ ràng.

Nhưng hiện nay, còn xảy ra hiện tượng không ít người tuy chưa đến mức vi phạm “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nhưng đã rơi vào trạng thái “tiềm năng” của vi phạm khi hiếu kỳ, tò mò, thích đọc, chia sẻ, bình luận thông tin “lạ” từ những trang mạng xã hội xấu độc.”

Vậy tình trạng xã hội Việt Nam ngày nay ra sao? Muốn biết, hãy nghe những lời nói thẳng và nói thật của Linh mục Antôn Đặng Hữu Nam trong bài giảng “Mạch nước vọt đến sự sống đời đời” trước 6,000 giáo dân tại giáo xứ Song Ngọc (Giáo phận Vinh) ngày 19/03/2017.

Cha Nam nói: “Nhìn vào xã hội Việt Nam, chúng ta thấy: Một xã hội thiếu vắng tình người, sự ích kỷ, hẹp hòi, hận thù, ghen ghét đang hoành hành. Một xã hội được lãnh đạo bởi cảnh sát, nhà tù, dùi cui, chó nghiệp vụ và bọn côn đồ. Một xã hội được định hướng để sẵn sàng chà đạp lên công lý và sự thật, nhân phẩm và nhân quyền. Một xã hội được đặt trong tay những kẻ sẵn sàng khấu đầu thờ giặc, rước voi về giày mả tổ, cõng rắn cắn gà nhà, đánh đổi cả công lao xương máu của tiền nhân để đổi lấy tiền, quyền và gái đẹp. Một xã hội đang bị nhiễm độc bởi chủ thuyết vô thần, con người chạy theo trào lưu tự do hưởng thụ, sống không có đời sau, chỉ tìm chiếm đoạt. Một xã hội đầy anh hùng nhưng thiếu vắng tình yêu. Một xã hội mà cái đẹp và chân lý chỉ nằm trên giấy tờ, băng rôn và khẩu hiệu. Một xã hội chuyên tuyên truyền, lọc lừa, gian dối, nói một đàng, làm một nẻo, mà lại toàn làm bậy. Một xã hội quái thai nên sinh ra những đứa con quái thú. Ngoại trừ các quan chức, tất cả đều là nạn nhân và là kẻ vô thừa nhận, bị loại ra bên lề cuộc sống.”

Linh mục Nam nói tiếp: “Cũng mới ngày 14/3 vừa qua, trong khi người dân thắp hương tưởng niệm các tử sỹ ngã xuống dưới họng súng của quân Trung cộng trong cuộc cướp đảo Gạc Ma thì bị nhà cầm quyền ngăn cản, sách nhiễu và đàn áp đẫm máu. Khắp dải đất hình chữ S này đâu đâu cũng có tượng đài ngàn tỉ, nhưng mạng người thì không bằng cái móng tay. Người dân khởi kiện Formosa để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình, bảo vệ sự sống và tương lai con cháu giống nòi, bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ thì nhà cầm quyền cho là phản động, thẳng tay đàn áp. Thậm chí còn đe dọa, khủng bố, đòi khởi tố. Con rồng cháu tiên nay chỉ là những hình nhân. Trong khi đó ngày 15/3 vừa qua tại Đài Loan, người dân Đài Loan biểu tình, yêu cầu Formosa phải đền bù thỏa đáng cho người Việt và phải giải quyết triệt để thảm họa môi trường thì được nhà cầm quyền và cảnh sát Đài Loan bảo vệ.

Người Việt chúng ta của cải bị cướp, nhân phẩm bị chà đạp, nhân quyền bị tước đoạt, tự do bị loại bỏ. Một đất nước có hơn 3000 km bờ biển lại phải nhập khẩu muối, một đất nước với hơn 90 triệu người, trong đó có đến 80% nông nghiệp lại phải đi nhập trứng gà. Trong khi đó người dân không chỉ lưu vong trên chính quê hương của mình mà còn phải đi làm tôi, làm điếm, làm ác một cách ồ ạt ở xứ người.” (Trích Website Tin Mừng Cho Người Nghèo – Dòng Chúa Cứu Thế Sàigòn).

Với những đau xót như thế đã và đang diễn ra trên đất nước Việt Nam, thử hỏi quyền của người dân đang nằm ở đâu mà Lê Hải Bình, Phát ngôn viên Bộ Ngọai giao Việt Nam vẫn còn mê sảng nói rằng: “ Chính sách nhất quán của VN là bảo vệ và thúc đẩy các quyền cơ bản của người dân. Các nỗ lực và thành tựu của VN trong việc không ngừng đảm bảo và cải thiện các quyền cơ bản của người dân thời gian qua đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao.” (Bộ Ngọai giao, 13/03/2017)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét