Thứ Tư, 29 tháng 3, 2017

Cuộc đời bí ẩn của Phó Quốc trưởng nước Đức phát xít


 
Hình: Rudolf Hess bên cạnh Adolf Hitler. Nguồn: Smithsonian Magazine


Tối 10/5/1941, ra-đa Anh phát hiện một máy bay tiêm kích Đức bay vào vùng Scotland. Cùng lúc ấy 500 máy bay ném bom của Đức đang bay về phía London, thực hiện lệnh của Quốc trưởng Hitler ném bom tan tành thủ đô Anh Quốc.
Từ Scotland, hai máy bay Anh cất cánh đón đánh chiếc tiêm kích Đức. Khi sắp chạm trán máy bay Anh thì viên phi công Đức nhảy dù, bỏ mặc chiếc máy bay rơi xuống tan xác.

Đây là lần nhảy dù đầu tiên của Rudolf Hess (1894-1987), đương kim phó Quốc trưởng nước Đức. Hess sang Anh với sứ mạng đàm phán hoà bình thay mặt Hitler hay với tư cách cá nhân (như nhiều nhà sử học nghĩ)? – cho đến nay bí ẩn lớn nhất này vẫn chưa có lời giải, ngay cả khi các hồ sơ mật được công khai vào năm 1992.

Sau khi chạm đất, Hess bị bắt và bị giam giữ không xét xử cho tới hết chiến tranh thì bị Toà án Quốc tế Nuremberg kết án tù chung thân. Cho đến ngày chết, chưa bao giờ Hess để lộ điều gì về chuyến bay mạo hiểm đến Scotland. Vì thế người ta càng quan tâm đến cuộc đời của Hess.

Hess sinh ra tại Ai Cập, cha làm nghề buôn, sống khá giả, năm nào cũng về thăm Đức. Cha Hess dạy con theo truyền thống kỷ luật sắt, tự kiềm chế, giầu tinh thần trách nhiệm và nghĩa vụ. Hess thông minh, giỏi khoa học tự nhiên. 20 tuổi, Hess tự nguyện đi lính, chiến đấu dũng cảm 4 năm ở mặt trận phía Tây. Bị trúng đạn vào ngực, xuất viện, Hess lại ra trận; tại đây thiếu uý Hess gặp một binh nhì quân đội nước Áo trốn sang xin vào đại đội của Hess để được phục vụ nước Đức. Đó chính là Hitler mà mãi sau này Hess mới biết.

Năm 1918, Hess xin chuyển sang không quân, vì mơ ước được bay. Tháng 11/1918, Thế chiến I kết thúc. Đức thua, dân tộc Đức chia rẽ. Hess cho rằng đó là do những người cộng sản và xã hội dân chủ xúi giục dân Đức phản chiến. Hess xuất ngũ, tham gia một hội kín cực hữu tại Munich, hoạt động phá hoại nền cộng hoà Weimar. Hess học đại học và tôn giáo sư địa-chính trị K. Haushofer như một người cha. Thuyết “Không gian sinh tồn” của Haushofer chủ trương Đức mở rộng về phía Đông đã tác động lớn đến Hess.

Bước ngoặt bắt đầu từ lần Hess dự buổi diễn thuyết của một đảng viên đảng Công nhân Đức (DAP), nghe nói là họa sĩ. Hess bị hút hồn trước giọng nói say sưa hào hùng và lập luận kiên quyết của diễn giả: Nhân dân Đức không chấp nhận Hoà ước Versailles, chính phủ tư sản Đức đã phản bội quân đội Đức, tình hình rối ren hiện nay là do người Do Thái gây ra.

Cứu tinh của nước Đức đây rồi! Hess nghĩ và quyết định đi theo người ấy – ai ngờ, đó chính là tay lính Áo năm xưa mà bây giờ Hess mới biết tên: Adolf Hitler. Hess tôn Hitler là “Lãnh tụ dân tộc”.

Hess đẹp trai, giản dị, không rượu và thuốc lá, không khiêu vũ, ưa thể thao. Tại Munich, Hess gặp cô gái sau này là vợ Hess, một nữ đảng viên Quốc xã đầu tiên. Tính cách hai mặt là một đặc điểm của Hess: gan dạ chiến đấu nhưng lại giầu tình cảm, yêu động vật; gương mẫu giữ luân lý đạo đức, mặt khác lại chủ trương hình phạt lao lực với người Do Thái; kiên nghị, ưa tự ra quyết định, nhưng lại hạ mình trung thành với Hitler như một con chó.

Năm 1921 Hitler giành được quyền lãnh đạo đảng Công nhân Xã hội chủ nghĩa Quốc gia Đức (Quốc Xã); Hess làm thư ký riêng cho Hitler. Hess kém tài ăn nói nhưng lại có tài viết lách. Hess đã viết bài trình bày chính cương của Đảng Quốc Xã: chống nghị viện, chống chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa Do Thái.

Ngày 8/11/1923, Hitler làm đảo chính cướp chính quyền ở Munich, nhưng thất bại. Hess trốn thoát. Hitler bị đưa ra xử tại Toà án Nhân dân. Trong phiên toà, Hitler trổ tài hùng biện đọc một bài diễn thuyết dài, sau đó được báo chí đăng tải, khiến Hess càng nổi  tiếng. Toà kết án rất nhẹ: 5 năm tù giam (thực ra ngồi tù có 9 tháng) và phạt 200 đồng Mác vàng. Biết tin ấy, Hess ra đầu thú và bị tù 18 tháng. Hess và “Lãnh tụ” ở kề phòng nhau. Sau khi được “giác ngộ”, Hess tham mưu cho Hitler viết tự truyện “Cuộc chiến đấu của tôi”. Thuyết “Không gian sinh tồn” do Hess truyền lại cho Hitler đã trở thành quan điểm cốt lõi của sách này. Hai người trở thành bạn “cậu tớ” với nhau suốt đời.

Sau khi Hitler làm Thủ tướng Đức (1/1933), Hess được cử làm “Đại diện của Quốc trưởng”. Ngày 1/9/1939, Hitler tuyên bố cử Goering làm người kế vị số Một, và nói “Nếu đồng chí Goering có chuyện gì thì đồng chí Hess sẽ thay thế.”

Hess được coi là nhà lãnh đạo đứng đắn, liêm khiết. Goebbels khen “Hess là người cao thượng nhất, điềm đạm, thân mật, thông minh.” Con trai Hess nhận xét: “Cha tôi là người theo chủ nghĩa lý tưởng, mục tiêu của ông là một nước Đức hạnh phúc. Giống như Hitler, ông sống rất khắc khổ.”

Tuy hết lời ca ngợi và tuyệt đối phục tùng Hitler, nhưng Hess không tán thành việc Hitler vì để ổn định chính trị mà khử hết các “đồng chí” cũ trong đội xung kích ở Munich ngày xưa. Hess cũng không đồng ý chủ trương đàn áp người Do Thái trong cái đêm kinh hoàng 9/11/1938. Tối hôm ấy, Hess làm lễ đặt tên cho con trai mình, Hitler đến dự với tư cách cha nuôi đứa bé. Mặt khác, Hess lại ký “Luật Chủng tộc” và chủ trương dùng hình phạt lao động với người Do Thái ở Ba Lan khi Đức chiếm Ba Lan. Dù sao, với việc bay sang Anh tháng 5/1941, Hess đã đi khỏi nước Đức trước khi xảy ra việc Himmler tổ chức tàn sát người Do Thái trong các trại tập trung.

Hess và Hitler đều không muốn đánh nhau với Anh, vì biết Đức khó thắng nổi đảo quốc kiên cường có trình độ công nghiệp hoá cao ấy; vả lại người Anh thuộc một chủng tộc Hitler cho là cao quý không kém gì chủng tộc Đức. Nhưng việc Đức chiếm Ba Lan tháng 9/1939 đã khiến Anh tuyên chiến với Đức. Khi thấy Hitler để yên cho 224 nghìn lính Anh bị Đức bao vây ở Dunkirk (Pháp) rút về nước bằng các loại tầu biển, Hess cho rằng đây là một tín hiệu nhượng bộ của Đức.

Hiểu rằng chủ nghĩa cộng sản mới là kẻ thù không đội trời chung, Hitler đã nhiều lần công khai hoặc bí mật đề nghị Anh không can thiệp việc Đức chiếm lục địa châu Âu; nhưng tân Thủ tướng Anh Churchill kiên quyết không đàm phán với một kẻ xâm lược trắng trợn như Hitler. Để tìm cách giải quyết bế tắc này, Hess đã đến nhà Haushofer. Ông này nói bóng gió “Bây giờ là lúc nên ngăn chặn hậu quả vô cùng tai hại.” Gia đình Haushofer có dòng máu “phi Aryan”, từng được Hess bảo vệ tránh bị đàn áp, cho nên họ muốn đền ơn bằng cách bố trí Hess gặp một đại diện của Anh là Hamilton, nhà quý tộc xứ Scotland Hess từng gặp trên lễ đài Thế vận hội Olympic Berlin 1936.

Mượn cớ bay thử, Phó Quốc trưởng Hess kiếm được một chiếc máy bay. Hess bắt đầu học tiếng Anh. Ngày 10 tháng 1, Hess cất cánh sau khi đã giao cho phó quan của Hess một lá thư gửi Hitler và một lá thư yêu cầu chỉ đọc sau khi Hess ra đi được 4 giờ. Ai ngờ bay được 2 giờ Hess đã phải quay về vì thời tiết xấu. Viên phó quan trung thành giữ bí mật cho Hess.

Tháng 3, Hess về Berlin. Hitler đang tối mắt bận chuẩn bị tấn công Liên Xô. Hess biết nước Đức sắp phải chiến đấu trên cả hai phía Tây và Đông. Hess trao đổi bí mật liền 4 giờ với Quốc trưởng. Sau này người ta tìm thấy một văn bản Hess viết rằng Hitler chủ trương để Anh tự do hoạt động ở Tây Âu, song không được can thiệp vào Đông Âu. Nhưng Churchill thẳng cánh phản đối chủ trương này. Ngày 3 tháng 5, Hess gặp Hitler lần cuối. Chưa bao giờ Hess để lộ cho Hitler biết Hess chuẩn bị bay sang Anh.

Vụ Hess bay sang Scotland như một quả bom nổ trong lúc tình hình đang vô cùng căng thẳng. Hitler gầm lên như điên vì sợ Hess để lộ ý định tấn công Liên Xô. Nhật ký của Goebbles viết: đây là kết quả của việc Hess “chữa bệnh bằng cách cầu nguyện và ăn kiêng”. Hitler bắt giam phó quan và thư ký của Hess; nhưng sau đó lại do dự chờ tin từ nước Anh. Khi biết sứ mạng của Hess thất bại, đài phát thanh Đức tung tin Hess bị điên. Nhưng Goebbles lại nói Hess sang Anh “với mục đích cao cả nhất”, có lẽ là để tránh dư luận cho rằng trong ban lãnh đạo cao nhất của đảng Quốc Xã lại có một kẻ tâm thần.

Mấy ngày liền, đài BBC hài hước đưa tin “Hôm nay không có vị bộ trưởng Đức nào bay sang Anh cả.”. Nước Đức cố nhanh chóng quên Hess. Bormann lên thay cương vị của Hess. Hitler nói nếu bị dẫn độ về Đức, Hess sẽ bị xử bắn hoặc vào nhà thương điên. Thế nhưng trước ngày chết ít lâu, Hitler từng bảo vợ Hess rằng chồng bà là “người theo chủ nghĩa lý tưởng, trong sáng như giọt nước”.

Churchill không thèm đàm phán với Đức, cho nên không hoan nghênh Hess. Hamilton nói: “Thật kỳ lạ là bọn Quốc Xã hiểu quá ít về chúng ta!” Trong các lần thẩm vấn, Hess đều nói Hess đến đây với “sứ mạng của nhân loại”. Hess viết thư cho Hitler nói chuyến đi của mình có thể đem lại hoà bình và hiểu biết cho hai nước Đức và Anh, và kết thúc bằng câu “Quốc trưởng muôn năm”, rồi nhảy lầu tự tử. Hess đã 3 lần tự tử nhưng không chết mà chỉ gãy một chân.

Hess ngày càng tỏ ra hoang tưởng, mất trí nhớ. Tại toà án quốc tế Nuremberg, Hess chỉ im lặng hoặc từ chối trả lời. Công tố viên Liên Xô yêu cầu xử tử Hess, Mỹ đề nghị xử tù. Cuối cùng Toà xử tù chung thân. Lẽ ra Toà đã xử nhẹ hơn nếu Hess không nói một câu như sau: “Trong hơn nghìn năm lịch sử, dân tộc chúng tôi mới sinh ra được một người con vĩ đại nhất mà Thượng đế đã cho phép tôi được phục vụ. Tôi không hối hận gì hết. Sẽ có một ngày tôi đứng trước quan toà của Thượng đế để bào chữa cho mình, và tôi biết rằng vị quan toà ấy sẽ phán xử tôi vô tội.” Hai câu cuối hệt như lời của Hitler tại phiên toà ở Munich năm xưa.

Vì ngoan cố nên sau năm 1966, Hess là kẻ duy nhất còn lại trong nhà tù Spandau Prison ở phía Tây Berlin, khi các tội phạm tù chung thân khác đều đã được tha. Mặc dù Mỹ, Anh, Pháp và Tây Đức đề nghị thả Hess khi Hess đã cao tuổi, nhưng do Liên Xô phủ quyết nên Hess phải ngồi tù cho đến ngày Hess chết (17/8/1987). Đến năm 1969 Hess mới cho người nhà vào thăm.

Cái chết của Hess cũng là một bí ẩn. Nhiều lần khám nghiệm xác đều kết luận Hess tự tử. Tuy vậy, con trai Hess vẫn nói Hess bị người Anh ám sát để diệt khẩu vì ông biết quá nhiều về việc chính nước Anh cũng có trách nhiệm với cuộc chiến tranh. Hôm mai táng Hess, hàng nghìn kẻ cực hữu bao vây nghĩa trang khiến cho tang lễ phải hoãn khá lâu. Hiện nay vẫn có nhiều người đến viếng mộ Rudolf Hess, một nhân vật bí ẩn chưa ai hiểu.


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét