Thứ Ba, 30 tháng 12, 2014

Những tuyên bố thành thật nhất 2014

Những tuyên bố thành thật nhất 2014

Trương Trọng Nghiã - ĐBQH
1. "Nếu họ làm giàu giỏi thế sao không chỉ cho nhân dân cách làm giàu đi? Bí mật làm chi?"
                            Trần Quốc Thuận, Nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội.
2. "Chiếc phong bì không còn chứa đủ tiền hối lộ“   
                            Phạm Duy Nghĩa - Trưởng khoa luật Trường ĐH Kinh tế TP.HCM
3. “Sâu bọ lằng nhằng thế này không cách gì phát triển được”
                        Nguyễn Sinh Hùng - Chủ tịch Quốc hội
4. “Tiền chi rất nhiều mà ngập vẫn cứ ngập. Các đồng chí cũng được cho đi tây đi tàu về nhưng làm thì không giống ai, mà lại tiếp tục rơi vào tình trạng chính mình làm ngập nặng hơn"
                        Nguyễn Hữu Tín - Phó chủ tịch UBND TP.HCM, về tình trạng ngập lụt tại Sài Gòn.
5. "Học sinh bị nhồi nhét ra trường như siêu nhân nhưng không làm được gì”       
                           Phạm Khánh Phong Lan - Phó giám đốc Sở Y tế TPHCM
6. “Tòa nói không phải lỗi tại tòa. Viện nói không phải lỗi của viện. Vậy thì lỗi do ai? Nếu cái gì cũng ngon hết rồi thì sao dân vẫn kêu ca?”       
                           Phạm Văn Bá - Trưởng ban Pháp chế HĐND TP.HCM
7. “Những gì dính đến vốn nhà nước thì như một cây khế ngọt, qua lại và cứ trèo hái như vậy”    
                            Trương Trọng Nghĩa - ĐBQH Tp.HCM
8. “Toàn là Đảng viên, cán bộ giữ tài sản sao mất nhiều thế?”        
                           Nguyễn Bá Thuyền - ĐBQH Lâm Đồng
9. "Cơ chế chúng ta là cho tiền cho những người không biết gì mà quyết định“
                        Bùi Quang Vinh - Bộ trưởng Bộ Kế hoạch &Đầu tư
10. "Có đồng nào “ăn hết” đồng đó, rồi lại đi vay nợ, đáo nợ;         
                        Nguyễn Sinh Hùng - Chủ tịch quốc hội
11. “Tại sao người tài thì ngày càng ít, còn người ham muốn, lười nhác thì ngày càng nhiều?”     
                            Đỗ Văn Đương - ĐBQH TP.HCM
 
 
 
 http://diendanctm.blogspot.com/2014/12/nhung-tuyen-bo-thanh-that-nhat-2014.html

Cái nhìn đúng về cơn sốt Khổng Tử hiện nay ở Trung Quốc

Lưu Hiểu Ba - Hôm qua làm chó không nhà, hôm nay làm chó gác cửa: Cái nhìn đúng về cơn sốt Khổng Tử hiện nay ở Trung Quốc (1)

Lưu Hiểu Ba

Người Trung Quốc đang đẩy mạnh sự trỗi dậyi của một siêu cường. Sự đi lên của nền kinh tế dẫn tới sự đi lên văn hóa, với túi tiền to mang đi rải khắp toàn cầu kèm theo việc xuất khẩu sức mạnh mềm. Trong nước thì sau khi người ta tiếp tục cơn sốt đọc kinh thư, thờ Khổng Tử, thờ Nho Giáo, bây giờ CCTV qua chương trình “ Bách gia giảng đường” khơi ra cơn sốt đọc lại các tác phẩm của Khổng Tử nhằm phục hồi lại hệ thống đạo đức truyền thống; ở hải ngoại, Trung Cộng bỏ ra khoản tiền khổng lồ xây dựng hệ thống các học viện Khổng Tử nhằm quảng bá sức mạnh mềm ra thế giới. Tâm lí muốn làm bá chủ thiên hạ sau khi bị đè nén hơn trăm năm nay lại được dịp phát tiết ra ngoài, Khổng thánh nhân ở trong nước lẫn hải ngoại hợp lại làm một trận tuyến, cơn sốt Khổng Tử càng lúc càng nóng.


Áp phích cổ động về phong trào đánh đổ Khổng Tử trong Cách mạng văn hóa

Đằng sau cơn sốt này, tôi không cho rằng đó là sự phục hưng của văn hóa truyền thống, mà là làm sống lại truyền thống sung bái thánh nhân, là một phần trong kế hoạch nhằm đẩy mạnh làn sóng dân tộc cực đoan trong nước. Nguyên nhân là từ sau vụ thảm sát Thiên An Môn ngày 4/6/1989, nhà nước một mặt chống lại xu hướng tự do hóa và chống “ diễn biến hòa bình”, một mặt khác thì châm ngòi, chổng mông thổi bùng lên làn sóng dân tộc cực đoan. Chủ nghĩa dân tộc cực đoan đã trở thành một trong những rường cột chính của chính quyền Trung Cộng về mặt ý thức hệ, phối hợp với “ ngày hội của tầng lớp trung lưu” đã đẩy chủ nghĩa dân tộc dâng cao một cách tràn lan. Ví dụ, trong đoạn kết của “Khổng Tử đại điển tế văn “ ở liên hoan văn hóa quốc tế Khúc Phụ năm 2005 có viết như sau: “ tiểu khang sơ thành, đại đồng tại mộng. Hân phùng thịnh hội, cường quốc uy phong” tạm dịch là “ Việc xây dựng xã hội trung lưu bước đầu có thành quả, giấc mộng thế giới đại đồng đang được nuôi dưỡng. Vui mừng hân hoan vì gặp thời thế, thể hiện được uy phong nước lớn”. Đây chính là bản hợp tấu điển hình của chủ nghĩa dân tộc cực đoan với bản phúc âm của thời thịnh vượng.


Áp phích cổ động về phong trào đánh đổ Khổng Tử trong Cách mạng văn hóa

Trong năm vừa rồi, việc quảng bá văn hóa truyền thống trên chương trình “ Bách gia giảng đường” của CCTV đã tạo nên “cơn sốt Vu Đan” trên toàn quốc. Một mặt thì CCTV đã thành công trong việc đem Khổng Tử biến thành một món hàng thương mại thời thượng có sức hút cao( dùng theo từ ngữ của Lỗ Tấn là Modern Khổng Tử), cũng giống như việc đem Mao Trạch Đông biến thành một món hàng thương mại thời thượng mấy năm trước đây. Những sách vở, thư tịch có liên quan tới Khổng Tử đã trở thành những món hàng bán rất chạy, trên khắp cả nước cũng rộ lên phong trào mở ra những lớp học văn hóa truyền thống với lợi nhuận cao chót vót, ( tỉ như các “ lớp quốc học “ ở đại học Thanh Hoa thu học phí là 26000 RMB/ học viên, đại học Phúc Đán thu 38000 RMB/ học viên, những lớp dạy cho trẻ con lại càng có giá ở trên trời).
Một mặt khác thì Vu Đan đã trở thành hiện tượng với việc bán những lời giảng về Khổng Tử trên cơ sở sự kết hợp giữa lời của cổ nhân với ca từ của dòng nhạc thị trường hiện nay., cô ta diễn giải những lời của Khổng Tử một cách tùy tiện và nông cạn, như đang bơm một liều Doping tinh thần cho việc thông tục hóa cơn sốt“ phục hưng Nho Giáo” . Theo như những tinh hoa trong sự lý giải về Khổng Tử ở “ Luận ngữ tâm đắc” của Vu Đan mà nói, ai ai cũng có thể có một tâm thái sống thoải mái cho dù có gặp chuyện gì đi nữa, chỉ cần không ôm hận trong lòng mà hãy bao dung yêu thương, biết thuận theo hoàn cảnh thì có thể chuyển nguy thành an, tìm được hạnh phúc.

Trong cơn sốt học tập theo Khổng Tử đang tăng nhiệt từng ngày thì giáo sư Lý Linh của Đại học Bắc Kinh xuất bản cuốn “ Chó nhà có tang: tôi đọc Luận ngữ” với sự khảo cứu nghiêm túc về Khổng Tử, đã bóc tách những thứ huyễn hoặc và trả lại một Khổng Tử chân thực. Ông ở trong lời mở đầu có viết về thái độ của bản thân khi đọc Luận ngữ: “ Sách của tôi được viết theo góc nhìn của bản thân tôi, tôi cũng không dựa theo người khác theo kiểu “ quan một cũng ừ, quan tư cũng vậy”. Tôi cũng mặc xác cái gì là nhị thánh nhân, tam thánh nhân rao giảng cái gì. Cũng mặc kệ đại sư, tiểu sư nói cái gì, chỉ cần là không phải nguyên tác, tôi đều bỏ qua một bên. Tôi đọc “ Luận ngữ” là tìm tới cái nguyên bản của nó. Muốn biết Khổng Tử nghĩ như thế nào thì phải xem nguyên bản. Tất cả những kết luận của tôi đề là từ những lời nói từ bản thân Khổng Tử, không tranh cãi cùng với giới trí thức, cũng không bợ đỡ, vỗ mông ngựa của đại đa số người đọc. “Sau khi đọc sách của Khổng Tử, không nên nâng bi, cũng không nên dìm hàng, nói một cách kĩ càng thì ông ta là một Don Quixote”.

Với thái độ thực sự cầu thị, không sung bái thánh nhân cũng không mị dân như vậy. Lý Linh đã phá phá thủng bức màn che của chủ nghĩa sung bái đức thánh Khổng trong hơn 2000 năm qua. Ông viết: “ trong cuốn sách này, tôi muốn nói với mọi người rằng Khổng Tử không phải là thánh nhân. Khổng Tử mà đời đời nay các hoàng đế tôn sùng, phong thánh không phải là Khổng Tử thật, đó là một “ Khổng tử do người ta tạo nên” mà thôi. Khổng Tử thật sống ngoài đời thực không phải là một vị thánh, cũng không phải là vương hầu gì cả, càng không đáng để nói tới cái gì mà “ nội thánh ngoại vương” cả. “ Khổng Tử chỉ là một con người, một người có xuất thân bần tiện, lại là tiêu chuẩn lập thân dựng sự nghiệp của giới quý tộc thời cổ đại ( chân thiên tử); Một người yêu chuộng tìm tòi những gì từ cổ xưa, học hành chăm chỉ, không nản chí, không mệt mỏi truyền đạt văn hóa truyền thống của người xưa và một người khích lệ học trò học tập kinh sách cổ; Một người có đạo đức lẫn học vấn lại là một người không có chức có quyền, dám phê phán đám quý tộc đương thời; Một người lang bạt tứ xứ du thuyết, lao tâm thay cho kẻ cai trị, liều mình khuyến dụ tầng lớp cai trị cải tà quy chính; Một người nhiệt tình, ước mơ khôi phục xã hội theo lối cai trị của nhà Chu để thiên hạ thái bình; một người luôn bị giằng xé, hoang mang vô lực khi du thuyết tới rã bọt mép mà không ai nghe, nay đây mai đó không nhà cửa, giống hành trạng của một con chó vô chủ, lang bạt. Đó mới là Khổng Tử thật.”

Những nhận xét của Lý Linh về “ Luận ngữ” trên phương diện khảo chứng hay là giải thích đều hơn xa những hiểu biết hời hợt nông cạn của Vu Đan. Càng quan trọng hơn, với tư các là một phần tử trí thức đương đại, góc nhìn của ông có nhiều sự đồng cảm sâu sắc đối với một phần tử trí thức từ hơn 2000 năm trước là Khổng Tử. Lý Linh viết: Khổng Tử tự nhận mình chính là một con chó nhà có tang. Ông ta tuyệt vọng với chính tổ quốc của mình, cùng đám đồ đệ phiêu bạt khắp nơi, gặp gỡ với tất cả đám chư hầu nhưng lại không có chút thành tựu nào, cuối cùng ông ta cũng quay về cố hương. Vào những năm cuối đời, sống trong cô độc và đau thương. Con chết, học trò yêu của ông cũng chết đã làm ông khóc cạn nước mắt. Ông đã nói tới sự đau thương của Kỳ Lân vốn ám chỉ ông ấy. Ông đã chết ở nhà mình nhưng ông lại không cảm thấy nơi nào là nhà cả. Cho dù tư tưởng của ông đúng hay sai thì chúng ta cũng có thể qua đó nhìn thấy được vận mệnh thu nhỏ của giới tri thức đương thời.


Áp phích cổ động về phong trào đánh đổ Khổng Tử trong Cách mạng văn hóa

Cuốn sách bình luận về chó nhà có tang của Lý Linh ra mắt, đã phê phán cơn sốt học tập khổng tử và cơn sốt học lại giá trị truyền thống giống như việc ném một tảng đá lớn vào mặt nước hồ đang lên. Gây nên những cơn sóng phản đối dữ dội từ những kẻ bảo vệ đạo Nho. Bọn họ hợp công xúm vào chửi bới, nhục mạ Lý Linh tới nỗi nước miếng văn tung tóe khắp bốn phía. Ông bị tố cáo là người phao tin đồn nhảm về ngày tận thế, bị gọi là “ phẫn thanh”, nhiều người chưa đọc qua sách của ông còn mạnh miệng cho đó là rác rưởi. Tất cả những chuyện này là do Lý Linh đã đặt tên cho cuốn sách bàn về Khổng Tử với cái tên “ chó nhà có tang” . Từ đây có thể thấy được sự sùng bái của tầng lớp nhà nho mới đối với “ Khổng thánh nhân “ đã tới mức không ai có thể chạm tới. Chỉ tiếc là trong tay đám nhà nho mới nổi này trong tay không có bao nhiêu quyền thế, nếu không thì xã hội lại quay về cái thời đại “ mở mồm ra mỗi câu đều là chân lý, một câu của lãnh tụ bằng ngàn vạn câu của kẻ khác ( thời Mao với tệ sùng bái cá nhân).

Lý Linh là một nhà lịch sử học nghiêm túc, ông đọc “ Luận ngữ “ không phải xem sách của thánh hiền, mà là để nghiên cứu lịch sử; từ lịch sử ông tìm ra một Khổng Tử không phải là thánh nhân mà là một phần tử trí thức không có nhà để quay về. Giống như trong lời tự bạch của tác giả: “ tôi đem “ Luận Ngữ” để làm nghiên cứu lịch sử chứ không phải là công cụ để tôn sùng. “ Thực ra cái mà Lý Linh nói trong “ chó nhà có tang” là trả lại sự thật khi cho thấy tầng lớp trí thức sống trong nỗi bất an tinh thần triền mien khi không được sử dụng trong thời Xuân Thu. Ông đã đem chó nhà có tang biến thành chó lang thang không nhà” bất cứ kẻ nào ôm hoài bão, trong đời thực không tìm được nơi chốn cho tinh thần của mình, đều là chó nhà có tang”. “ Theo góc nhìn của tôi, dùng “ mất đi quê hương tinh thần” để đánh giá Khổng Tử là hơi quá đề cao ông ta rồi. Trên thực tế thì Khổng Tử du thuyết thiên hạ không phải là để tìm kiếm quê hương tinh thần mà là để tìm một nơi cho ông ta thể thể hiện quyền lực của mình. Ông ta một lòng muốn làm quân sư cho các bậc đế vương mà không được, là một con chó lang thang không tìm được nơi chốn. Nếu như lúc đó có bậc đế vương nào dùng ông ta thì có lẽ ông đã sớm trở thành con chó gác cửa rồi.

Người đưa ra cái tên gọi “ chó nhà có tang” để dành cho Khổng Tử cũng không phải là Lý Linh, mà cổ nhân từ xưa đã đánh giá như vậy. Bản thân Khổng Tử cũng tự nhận xét mình như vậy. Đi du thuyết khắp thiên hạ mong kiếm được chức quan, đến năm hơn 40 tuổi mà vẫn không có thành quả nào, lúc thất vọng tới cực độ, ông ta nói” ta cùng đường rồi! “ trong thiên hạ không có chỗ dung thân”. Chính từ việc này mà sau này hậu thế mới đánh giá ông ta là con chó nhà có tang. Nhưng đối với đám nhà nho vệ đạo đương thời mà nói, việc Khổng Tử tự nhận mình là chó nhà có tang chính là lời dặn dò của thánh nhân, bao hàm trong đó là bao nhiêu lời lẽ huyền diệu để trị quốc và giáo dục quốc nhân; mà Lý Linh gọi gọi Khổng thánh nhân của họ là con chó nhà có tang chính là đại nghịch bất đạo, là một thứ rác rưởi không đáng để đọc. Thậm chí còn có những nhà nho phẫn nộ nói “ thầy Lý Linh điên rồi!”.

Bất kể cho bao nhiêu lời lẽ lăng mạ Lý Linh của đám nhà nho mới vì cuốn “ chó nhà có tang” thì tôi vẫn cho rằng cuốn sách mà ông viết, nhất là đoạn văn mở đầu rất chân thực mà xuất sắc, đã hơn hẳn rất nhiều những thứ nói về Khổng Tử của đám nhà nho mới như Tưởng Khánh…vậy nên có một số học giả nổi tiếng đánh giá rất cao cuốn sách này.

Nhà nghiên cứu lịch sử Ngô Tư trong bài viết “ tính khả thi của nhân nghĩa – bình luận về cuốn “ chó nhà có tang – tôi đọc Luận ngữ “ của Lý Linh” có viết: “ Tôi cho rằng Lý Linh đã làm một nghiên cứu tốt, không kể sau này chúng ta xây dựng nền văn hóa như thế nào, đều phải dựa trên những phiên bản thật đáng tin cậy. Với phiên bản Lý Linh thì tôi cho rằng nó còn lợi hại hơn cả của Chu Hy.”

Giáo sư Tiền Lý Quần ở khoa Trung văn Đại học Bắc Kinh trong bài viết” Phải làm gì với truyền thống từ Khổng Tử cho tới Lỗ Tấn – đọc “ chó nhà có tang - tôi đọc Luận ngữ” của Lý Linh” có nói: “ Dưới góc nhìn của tôi, Lý Linh với tâm thế nghiên cứu từ trái tim tới trái tim và sự đồng cảm sâu sắc chính là đặc điểm lớn nhất của ông khi nói về “ Luận ngữ”, cũng là một cống hiến của ông. Kết quả của quá trình này chính là tìm ra một Khổng Tử “ là chó nhà có tang” … khi tôi đọc từ này, cảm giác có một chút châm biếm trong đó, nhưng càng có một cảm giác suy tư, một sự bi thương bao hàm ở bên trong.”

Trong một cuộc phỏng vấn ông Lưu Mộng Khê, giám đốc trung tâm nghiên cứu văn hóa Trung Quốc thuộc viện nghiên cứu nghệ thuật Trung Quốc đã tán dương Lý Linh đã có nghiên cứu công phu với lập luận vững chắc về Luận ngữ, đã trừ bỏ đi những thần thoại hóa cũng như tinh thần phê phán.

Giáo sư Tần Huy của Đại học Thanh Hoa trong bài viết “ Luận ngữ - con đường trở thành kinh điển” đăng trên báo “ Phương Nam cuối tuần “ số ngày 12/07/2007 có đoạn viết: “ Ngày nay có một bộ phận muốn đem “ Luận ngữ” trở thành “ Nho gia thánh kinh”, cũng giống như việc mấy mươi năm trước đem cuốn “ Bản ghi chép những lời nói của Mao chủ tịch ( tức Mao tuyển) mỏng dính trở thành đỉnh cao của chủ nghĩa Mác. Ngày nay cuốn “ Luận ngữ “ cũng đang là món hàng bán chạy của Nho gia, so với việc tung hứng “ Mao tuyển” thì kết quả thế nào? Là quảng bá hay là dẫm lên chủ nghĩa Mác?”

Với một Trung Hoa vốn có truyền thống sùng bái thánh nhân từ lâu, tự cổ chí kim trong mắt các nhà nho vệ đạo thì Khổng Tử là một thánh nhân không cần phải có chút hoài nghi bàn cãi nào cả, là người thầy đời đời của các đế vương, là đấng chi tôn với danh hiệu “ Tố Vương”, là người mà mọi đế vương đều phải bái lạy với cái tên “ Đại Thành Chí Thánh Văn Tuyên Vương, Với Khang Hữu Vi ( 1858-1927 - lãnh tụ phái duy tân ở Trung Quốc cuối thế kỷ 19) và giáo hội Khổng Giáo của ông ta thì Khổng Tử được tôn là giáo chủ vừa được tôn là thần thánh đầy quyền uy, ngày nay được tầng lớp nhà nho mới tôn làm biểu tượng văn hóa mới của Trung Hoa. Mỗi lời nói của Khổng Tử đều là những lời vàng trị nước cứu dân huyền diệu thâm thúy, cũng là đường lối tu thân dưỡng tính với mọi người. Lối bốc thơm phét lác nhất, ở thời cổ đại thì có câu “ nửa bộ Luận ngữ cũng có thể trị được cả thiên hạ”. Ngày nay lại có thuyết “ đạo lý của đức thánh Khổng trước quản cả 5000 năm, sau này cũng quản thêm 5000 năm nữa”. Lại có thuyết” không đọc sách Khổng Tử, không làm người nổi”. Đám học giả Nho Giáo đương thời còn không tiếc công sức bày ra tin vịt : vào năm 1988 có 75 người từng đoạt giải Nobel trên khắp thế giới tề tựu tại Pais, cùng bầu chọn Khổng Tử là nhà tư tưởng số một thế giới. Vãi quá!!!

(còn tiếp)



 http://www.danluan.org/tin-tuc/20141230/luu-hieu-ba-hom-qua-lam-cho-khong-nha-hom-nay-lam-cho-gac-cua-cai-nhin-dung-ve-con

Vòng quanh thế giới ngày 30/12/14



Vòng quanh thế giới ngày 30/12/14

1. Tin Việt Nam: Tiếp tục tìm cách ngăn chặn internet

Trong bài phát biểu được xem là rất quan trọng mới đọc sáng nay tại Hà Nội nhân hội nghị toàn quốc tổng kết công tác của ngành tuyên giáo, Lê Hồng Anh, Thường Trực Ban Bí Thư Đảng Cộng Sản Việt Nam nhấn mạnh ngành tuyên giáo có trách nhiệm nghiên cứu, đưa ra những biện pháp để ngăn chận, vô hiệu hóa những thông tin xấu, độc hại xuất hiện trên trang mạng internet.

Lê Hồng Anh cũng nhắc nhở mọi người phải nỗ lực đấu tranh, chống điều mà ông gọi là thủ đoạn âm mưu diễn biến hòa bình, ngăn chận không để cho nội bộ lung lay tư tưởng.


2. Tin Trung Quốc: Dịch vụ Gmail bị chặn ở Trung Quốc

Sự kiểm soát đối với tự do Internet ở Trung Quốc lại thắt chặt hơn nữa khi dịch vụ thư điện tử Gmail của Google phần nhiều không thể truy cập được sang ngày thứ tư.
Trang mạng GreatFire.org theo dõi sự minh bạch trên Internet báo cáo dịch vụ email của Google bị chặn khoảng 81% ở Trung Quốc sau nhiều tháng gián đoạn.


3. Tin Hoa Kỳ: ‘Ông Putin không khôn ngoan lắm’

Tổng thống Mỹ Barack Obama đã nói rằng Tổng thống Nga Vladimir Putin đã phạm ‘sai lầm chiến lược’ khi ông sáp nhập bán đảo tự trị Crimea của Ukraine và động thái này ‘không khôn ngoan lắm’. Cuộc khủng hoảng kinh tế của Nga đã chứng tỏ những ai cho rằng vị nguyên thủ của Nga là ‘thiên tài’ đã ‘sai’, ông Obama nói.
Ông Obama đưa ra những bình luận này trong cuộc phỏng vấn với phóng viên Steve Inskeep của Đài NPR ở phòng Bầu dục trước khi lên đường đi Hawaii nghi cuối năm.


4. Tin Indonesia: QZ8501: Mảnh vỡ 'của phi cơ mất tích'

Giới chức Indonesia đính chính chỉ mới tìm được ba thi thể, chứ không phải 40 người như hải quân nói ban đầu. Đây là thông báo mới nhất của người đứng đầu nhóm tìm kiếm Indonesia, Bambang Soelistyo.
Chính quyền Indonesia xác nhận những thi thể và mảnh vỡ tìm thấy trên biển Java ngoài khơi Borneo đúng là của chiếc phi cơ QZ8501 thuộc hãng hàng không AirAsia bị mất tích hôm Chủ Nhật, một tuyên bố của AirAsia nói.


5. Tin Trung Quốc: Đại gia bị 13 năm tù vì xơi thịt cọp

Một doanh nhân Trung Quốc giàu có đã mua ba con cọp và làm thịt đãi tiệc, đã bị lãnh án 13 năm tù giam. Báo chí chính thức nước này hôm nay 30/12/2014 cho biết như trên. Theo Tân Hoa Xã, nhà kinh doanh bất động sản họ Xu rất ưa thích món cốt-lết cọp nướng và rượu pha máu cọp. Ông ta cũng chuộng món chân cọp rút xương, và rất mê món « pín » cọp.


6. Tin Nga: Hạ thủy tàu ngầm thứ năm, Trung Quốc lo ngại

Tập đoàn Admiralty của Nga mới hạ thủy tàu ngầm thứ năm có tên gọi Khánh Hòa mà hãng này đóng cho Việt Nam, trong khi báo chí Trung Quốc dường như cho thấy sự lo ngại về khả năng tấn công của ‘các át chủ bài’ trên biển của Việt Nam.
Việt Nam đặt mua 6 tàu ngầm của Nga với giá trị nhiều tỷ đôla trong chuyến công du tới Moscow hồi năm 2009 của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.


7. Tin Nga: Người phản đối ông Putin bị án tù treo

Một người chỉ trích Tổng thống Putin bị tòa án ở Nga tuyên phạt ba năm rưỡi tù treo về tội lừa đảo. Anh trai của ông Alexei Navalny, Oleg Navalny, bị án ba năm rưỡi tù giam.
Ông Alexei Navalny luôn nói cáo buộc có động cơ chính trị. Ông nói chính phủ Nga đã nhắm vào người thân của những nhà chỉ trích. Phóng viên BBC Steven Rosenberg tại Moscow nói ông Alexei Navalny là “nhân vật đối lập mà điện Kremlin sợ nhất”.


8. Tin Hoa Kỳ: Sẽ tiếp tục dẫn dắt kinh tế toàn cầu trong năm 2015

WASHINGTON (AP) – Sau nhiều năm suy thoái, nền kinh tế Hoa Kỳ nay đã hồi phục và sẵn sàng để dẫn dắt kinh tế toàn cầu phát triển trong năm 2015. Tuy nhiên không hẳn năm mới sẽ cho thấy nhiều dấu hiệu tốt đẹp ở các cường quốc kinh tế khác.
Trung Quốc tăng trưởng chậm vào thời điểm chuyển từ đầu tư sang tiêu thụ. Nhật Bản suy thoái trở lại. Nga có nhiều nguy cơ đi đến khủng hoảng. Âu Châu chỉ phát triển trung bình. Tăng trưởng quý 3 ở Hoa Kỳ đạt 5%, mức cao nhất kể từ 2003, khiến người ta hy vọng 2015 sẽ là năm phát triển nhanh nhất từ một thập niên.


9. Tin Indonesia: Hải quân Indonesia phá nổ 2 tàu cá Thái Lan

Trong chiến dịch răn đe tàu cá nước ngoài vào đánh bắt trộm trong vùng biển Indonesia, Hải quân nước này hôm Chủ nhật 28/12/2014 đã cho đặt chất nổ đánh chìm thêm hai tàu cá nước ngoài, lần này là của Thái Lan. Hai chiếc tàu này đã bị bắt giữ hồi tháng 11/2014 khi vào hoạt động trái phép tại vùng biển Anambas thuộc tỉnh đảo Riau.


10. Tin Nga: Kinh tế Nga bắt đầu suy giảm

Đồng rúp của Nga giảm mạnh hôm thứ Hai sau khi một báo cáo của chính phủ cho thấy nền kinh tế nước này sụt giảm trong tháng 11, và dự đoán sẽ giảm 4% vào năm sau.
Vào ngày thứ Hai, có lúc đồng rúp của Nga trượt giá 6%, xuống mức 56 rúp đổi một đô la. Đây là lần đầu tiên kinh tế Nga suy giảm kể từ năm 2009 và sau khi giá dầu thô, mặt hàng xuất khẩu chủ chốt của Nga, giảm mạnh.




Tư Thẳng@S:




Thứ Hai, 29 tháng 12, 2014

Đừng để xẩy ra những vụ tử hình oan

Đừng để xẩy ra những vụ tử hình oan


Bà NguyễnThị Loan đã đội đơn đi kêu oan khắp chốn sáu năm liền. Hình ảnh bà Loan đội biểu ngữ đi kêu oan cho con được đăng trên nhiều trang mạng xã hội
Bà NguyễnThị Loan đã đội đơn đi kêu oan khắp chốn sáu năm liền. Hình ảnh bà Loan đội biểu ngữ đi kêu oan cho con được đăng trên nhiều trang mạng xã hội
Courtesy Lanthang

Trường hợp oan sai của hai tử tù Hồ Duy Hải và Nguyễn Văn Chưởng tiếp tục đuợc dư luận quan tâm vì chứng cứ ngọai phạm rõ ràng. Ngòai việc kêu oan của gia đình, nhiều người trong và ngòai nuớc cũng tham gia lên tiếng.

Một nhóm trí thức hiện làm việc ở nước ngoài và trong nước vừa có thư khẩn cấp gửi đến các đại sứ quán tại Việt Nam về hai trường hợp tử tù oan vừa nêu.

Vấn đề cấp bách

Thư khẩn cấp gửi đến các đại sứ tại Việt Nam do hơn 30 người Việt hiện ở tại các quốc gia Âu-Mỹ- Úc và Việt Nam ký tên vào ngày 25 tháng 12 vừa qua.

Bức thư điểm lại một số can thiệp trong thời gian qua đối với vụ án Hồ Duy Hải ở Long An. Can thiệp thứ nhất của chủ tịch nuớc Trương Tấn Sang hồi ngày 4 tháng 12 vừa qua yêu cầu hõan thi hành tiêm thuốc độc tử tù 30 ngày và báo cáo nội vụ cho văn phòng chủ tịch nứơc truớc ngày 4 tháng giêng tới đây.
Nay thời hạn sắp đến mà vẫn chưa có chuyển biến gì mới trong vụ việc này từ phía các cơ quan chức năng nên những người ký thư cho là khẩn cấp. Ông Nguyễn Hòang Linh, từ Budapest, Hungary, một trong những nguời ký tên nói về tính chất cấp thiết của vấn đề như sau:

“Trong tháng 12 nhiều người đều biết vụ của tử tủ Hồ Duy Hải, sau khi đuợc chủ tịch nước có ý kiến hõan lại một tháng nhưng thời hạn 4 tháng một tới vẫn chưa đến một tuần. Và vụ anh Nguyễn Văn Chưởng cũng đuợc thông báo sẽ thi hành án trong tháng 12 này. Như vậy mọi nguời đều thấy câu chuyện hết sức khẩn cấp rồi, không thể chờ đợi được nữa, do đó một số cá nhân trong đó có tôi cùng nhau viết và ký một lá thư như thế để gửi đến các tổ chức. Thực ra cũng mong muốn going lên một tiếng chuông như thế để chính quyền có thể nghe, để tâm đến để trước hết ngăn chặn hành động trong tháng 12 hay tuần tới mà có thể nguy hại đến tính mạng của hai con nguời như vậy”.

Sự lên tiếng cần thiết

Ngòai sự can thiệp của chủ tịch nước Trương Tấn Sang vào ngày 4 tháng 12 đối với trường hợp tử tù Hồ Duy Hải, thư khẩn cấp gửi các đại sứ  ở Hà Nội cũng bày tỏ ủng hộ đối với thông điệp ngày 5 tháng 12 vừa qua của trưởng phái đòan Liên Minh Châu Âu tại Việt Nam, ông Franz Jessen khi hoan nghênh sự tạm hõan thi hành án tử hình đối với Hồ Duy Hải. Ông đại sứ Liên Minh Châu Âu còn kêu gọi đình chỉ án tử hình này và thiết lập cơ chế không áp dụng thi hành mọi án tử hình tại Việt Nam.
Ông Nguyễn Hòang Linh cho rằng chính quyền Việt Nam đã tham gia nhiều công ước quốc tế và Hà Nội cần phải tôn trọng những cam kết với cộng đồng thế giới chứ không thể tiếp tục vi phạm quyền con người như bấy lâu nay. Theo ông Nguyễn Hòang Linh thì thư khẩn cấp đuợc gửi đi cũng nhằm đến mục đích đó.

Cha mẹ anh Nguyễn Văn Chưởng kêu cứu cho con
Cha mẹ anh Nguyễn Văn Chưởng kêu cứu cho con

“Chúng ta thấy ở Việt Nam khi gửi các thư đến những cơ quan chức năng thuờng họ rất ít xem xét hay để được xem xét cũng rất khó. Tuy nhiên có phương pháp khác nữa theo chúng tôi nghĩ là Việt Nam hiện là nước có gia nhập những tổ chức ở trên thế giới; ứng với trường hợp hai tử tù này thì Việt Nam cũng đã ký kết những hiệp định về nhân quyền thế giới do đó nếu có tiếng nói hay tiếng vang nào đò ở những nước có  nhân quyền trên thế giới thì có lẽ cũng là hồi chuông cảnh báo, hay ít nhất cũng mang tính cảnh tỉnh trong truờng hợp này mà nguời ta thấy có những vi phạm rất trầm trọng về tố tụng.

Như vậy chúng tôi nghĩ đây cũng là một cách bên cạnh chuyện viết thư gửi đến những tổ chức trong nước. Các ký giả trong nước họ đã làm chuyện đó rồi cho nên (thư của chúng tôi) là phương cách để chính quyền lắng nghe hơn nữa nguyện vọng của nguời dân’. 

Những điểm sai trái

Trong thực tế vụ việc của hai tử tù Hồ Duy Hải và Nguyễn Văn Chưởng đã đuợc gia đình kêu oan từ bao năm qua; thế nhưng tiếng kêu của họ vẫn không được cơ quan chức năng nào đóai hòai đến. Nay do thời gian thi hành án đã cận kề nên gia đình phải thêm một lần nữa khẩn thiết kêu oan.

Luật sư Trần Hồng Phong, người từng bỏ nhiều thời gian để thu thập những chứng cứ giúp gia đình tử tù Hồ Duy Hải kêu oan trong 8 năm qua tóm lược lại những sai trái trong quá trình xét xử vụ án Hồ Duy Hải như sau:

“Trong vụ án Hồ Duy Hải theo tôi những kết luận trong hai bản án sơ thẩm và phúc thẩm đều không phù hợp với những chứng cứ khách quan mà có thể dẫn đến oan cho anh Hồ Duy Hải. Việc xét xử đã bỏ quan tình tiết ngọai phạm của Hồ Duy Hải. Quá trình xét xử thiếu khách quan có nhiều dấu hiệu vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, có dấu hiệu làm sai lệch vụ án. Trong vụ án này còn buộc tội anh Hồ Duy Hải cướp tài sản, điều này tôi cho là không phù hợp với bản luận tội. Với những sai phạm như trên thì anh Hải có thể bị kết tội oan mà bỏ lọt kẻ phạm tội thực sự. Đó là những sai phạm chính, còn rất nhiều sai phạm chi tiết nữa.”

Giáo sư Chu Hảo, một trong những người ký tên vào thư khẩn cấp gửi đến các đại sứ nứơc ngòai ở Hà Nội, ngòai việc nêu ra những sai phạm về tố tụng trong hai vụ án Hồ Duy Hài và Nguyễn Văn Chưởng còn chia xẻ đây là những vụ án oan làm thương cảm nhiều người, giáo sư Chu Hảo nói:

“Đó là vấn đề mà bản thân tôi và rất nhiều người quan tâm bởi theo những thông tin mà chúng tôi được biết thì đó là những trường hợp oan sai một cách rất đáng thương tâm.”

Trong thời gian qua, nhiều người trong nứơc đã cùng đồng hành với gia đình của hai tử tù Hồ Duy Hải và Nguyễn Văn Chưởng trong quá trình đến kêu oan tại các cơ quan chức năng  trung ương.

Tại vườn hoa Lý Thái Tổ ở Hà Nội một số người đã đến bày tỏ sự ủng hộ khi cha mẹ của tử tù Nguyễn Văn Chưởng ngồi tọa kháng suốt nhiều ngày trong tháng 12.

Nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế tại Hà Nội và Sài Gòn trong những thánh lễ cầu nguyện cho công lý- hòa bình như vào chiều chủ nhật 28 tháng 12 cũng đặc biệt nêu ra trường hợp của hai tử tù Hồ Duy Hải và Nguyễn Văn Chưởng.

Linh mục Phạm Trung Thành, giám tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế nói rằng ‘Chúng tôi kêu gọi suy xét lại các án tử hình, nhất là các vụ án có dấu hiệu oan sai, đặc biệt là vụ án Hồ Duy Hải và Nguyễn Văn Chưởng. Xem xét lại cẩn thận và công minh. Chúng ta không mất gì cả, nhưng nếu quả thật là oan sai, chúng ta cứu được mạng người; mà sự sống thì vô giá, không ai gầy tạo đuợc sự sống.”

Ông Nguyễn Hòang Linh từ Budapest cho biết thư khẩn cấp gửi đến các đại sứ tại Hà Nội cũng là một cách đánh động những người trong nước để họ lên tiếng cho những vấn đề liên quan đến chính họ tại Việt Nam.


 http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/nw-cal-for-just-revw-deat-sen-12292014134542.html

Lắng nghe bài hát Giáng sinh Việt Nam 100 tuổi

  Lắng nghe bài hát Giáng sinh Việt Nam 100 tuổi
 
image
Ảnh: Giang Đông Du

Mùa Giáng sinh đến với người Việt Nam đầy những giai điệu của một mùa yêu thương và chia sẻ. Giáng sinh chưa bao giờ có thể thiếu âm nhạc. Và những gì được ghi chép từ âm nhạc Giáng Sinh được biết đến ở Việt Nam, đang làm thay đổi mọi nhận thức về lịch sử tân nhạc Việt Nam từ thời tiền Đệ nhị Thế chiến.
Theo các tài liệu được biết về âm nhạc Giáng Sinh được người Việt nội hóa, tức sáng tác mới từ tiếng Việt chứ không hề chuyển ngữ, thì từ năm 1911, đã có bài Nửa đêm mừng Chúa ra đời do hai linh mục Phao-lô Đoàn Quang Đạt và Gabriel Long soạn thành bài, dựng nên tiết mục hoạt cảnh cho sinh hoạt của nhà thờ. Linh mục Grabriel Long là thầy của linh mục Đoàn Quang Đạt, và là người góp ý để bài hát này ra đời hoàn chỉnh.

Đầu thế kỷ 20, nơi mọi thứ còn rất mông muội trong sinh hoạt văn hóa của người Việt, chính các linh mục với nền Tây học đầu tiên, là người đem nhạc lý và trình diễn âm nhạc đến sớm nhất với người dân theo đạo trong vùng của mình. Nhiều tiết mục âm nhạc, kịch nghệ… lẫn sáng tác mới đã hình thành từ đây. Tuy nhiên, do yếu tố sinh hoạt còn khép kín trong những người theo đạo, nên sự quảng bá không rộng rãi như bây giờ. Âm nhạc lúc bấy giờ chỉ được dùng trong các nghi lễ và sinh hoạt tôn giáo, nên chưa có sức lan tỏa mạnh với quần chúng. Hơn nữa, thị trường âm nhạc Tây học vẫn chưa có chỗ đứng với người Việt, khi đô thị và sinh hoạt kiểu phương Tây chỉ mới bắt đầu hình thành.

Bài hát Nửa đêm mừng Chúa ra đời thường được ghi với tên của linh mục Đoàn Quang Đạt, một phần vì ông là tác giả chính, phần khác là linh mục Gabriel Long với sự khiêm tốn trong việc giới thiệu phần đóng góp của mình, nên cũng ít được nhắc tới. Văn bản viết bằng nốt nhạc hoàn chỉnh trên những dòng kẻ tay của linh mục Đoàn Quang Đạt (1877-1956), được ghi nhận có từ 1911, tức trở thành dữ liệu được tìm thấy sớm nhất về âm nhạc Tây học của người Việt. Hơn nữa, từ năm 1911, bài hát này đã được dàn dựng và trình diễn không ngừng đến tận hôm nay. Năm 1910, nhà sách Tân Định Ấn Quán (Imprimerie de la Mission de Tan Dinh) đã cho ra tập nhạc bản này.

Thật ra, dựa theo tập nhạc nói trên, người ta tìm thấy một bài hát khác của linh  mục Đoàn Quang Đạt, viết từ năm 1907 tên là Ca Vịnh Đức Bà. Do bài hát này ít phổ biến hơn, cũng như thất lạc văn bản gốc, nên tạm thời bài Nửa Đêm Mừng Chúa Ra Đời được coi là bài hát đi theo dòng tân nhạc, có mặt sớm nhất trong lịch sử Việt Nam. Và mùa Giáng sinh năm nay, bài hát này được vang lên với độ dài hơn một thế kỷ để chúc lành cho mọi người trong thế giới chưa bao giờ bình an thật sự này.

Nói về nhạc thuật, cũng như lời hát, nếu một lần được nghe qua, bất kỳ ai yêu âm nhạc cũng ngạc nhiên về sự tinh tế trong sáng tác, cũng như hòa nhập tính cách Nam bộ của người Việt theo đạo Công giáo từ miền khác vào đồng bằng Cửu Long. Trong thời điểm mà quốc ngữ còn đang còn nhiều khiếm khuyết, sự hoàn chỉnh của ngôn ngữ trong bài hát này đã làm nhiều nhà ngôn ngữ phải kinh ngạc.

Sự ra đời của bài hát Nửa Đêm Mừng Chúa Ra Đời là một bước ngoặt quan trọng trong việc nhìn nhận sự xuất hiện của tân nhạc Việt Nam. Với những tài liệu được biết, bao gồm đĩa nhựa 78 vòng được xuất bản, người ta chỉ biết đến nhạc sĩ Nguyễn Văn Tuyên với bài Kiếp Hoa, xuất hiện năm 1938, trong sự trợ giúp của Thống đốc Nam Kỳ Henri Georges Rivoal (1886-1963) để vận động cho tour âm nhạc cải cách từ miền Trung ra miền Bắc bằng xe lửa. Dựa trên dữ kiện này, lịch sử tân nhạc Việt Nam cần phải được ghi chú lại, với bài hát đầu tiên được tìm thấy là tác phẩm của linh mục Đoàn Quang Đạt.

Theo ghi nhận của nhạc sĩ Trần Quang Hải, giai đoạn trước năm 1937 là thời gian được coi là tượng hình, tức chưa rõ ràng gì về âm nhạc, cũng như việc nhìn nhận. Còn với nhạc sĩ Phạm Duy (1921-2013) thì đây là giai đoạn đi tìm nhạc ngữ mới. Tức người sáng tác phải đi tìm ngôn ngữ ca từ lẫn các phương thức sáng tác cho tân nhạc Việt. Ấy vậy mà, khi nghe lại Nửa Đêm Mừng Chúa Ra Đời, người nghe sẽ không khỏi ngỡ ngàng như bài hát này chỉ mới được sáng tác gần đây bởi tính hiện đại và hấp dẫn của nó.

Những tư liệu này sẽ là cơ hội cho các nhà nghiên cứu và ghi chép lịch sử âm nhạc bổ sung vào tiến trình hình thành âm nhạc hiện đại của người Việt qua hơn một thế kỷ.

Nhưng trước mắt, chúng ta lại đón một mùa Giáng Sinh với những điều chúc lành, bên cạnh đó được nghe lại một bài hát đã có hơn một thế kỷ. Đó cũng là một món quà êm dịu của mùa cuối năm đầy gió lạnh. Món quà được gửi đến từ quá khứ trăm năm, mà ngỡ như mới hôm qua.
(tổng hợp, theo gợi ý của bs Lê Đình Phương)

 http://nhacsituankhanh.wordpress.com/

Truyền thống truyền khẩu trong văn học Việt Nam

Truyền thống truyền khẩu trong văn học Việt Nam



Kết thúc bài “Người Việt Nam lười viết”, tôi nêu lên câu hỏi: Tại sao người Việt, nói chung, lười viết thư và nhật ký như vậy?

Tôi ngờ lý do chính là tình trạng mù chữ cả hàng ngàn năm của dân tộc Việt Nam. Theo tôi, tình trạng mù chữ phổ biến và kéo dài này chính là yếu tố quan trọng hàng đầu trong việc định hình diện mạo của nền văn học Việt Nam từ xưa đến nay. Chứ không phải là truyền thống chống ngoại xâm, chống thiên tai, nạn phong kiến kéo dài hay truyền thống hoà đồng các luồng tư tưởng lớn của Đông Phương (Nho, Phật và Lão) như điều mà giới nghiên cứu văn học Việt Nam lâu nay thường khẳng định.

Cho sự mù chữ ấy là một truyền thống của Việt Nam có thể làm cho nhiều người cảm thấy như bị thương tổn. Tuy nhiên không thể vì tự ái mà né tránh sự thật. Chắc chắn hiện tượng mù chữ kéo dài ấy đã để lại rất nhiều dấu ấn trong nền văn học dân tộc. Tìm hiểu và ghi nhận những dấu ấn ấy may ra cũng là một cách để thoát dần ra khỏi nhà tù của quá khứ vốn, theo tôi, là một trong những nguyên nhân chính khiến nền văn học Việt Nam lâu nay cứ trì trệ mãi.

Điều dễ được chấp nhận là suốt cả ngàn năm Bắc thuộc, Việt Nam là một dân tộc mù chữ. Từ khi dành được độc lập năm 939, dần dần hình thành một lực lượng trí thức ngày càng đông đảo. Ít nhất cho đến thế kỷ 14, thứ văn tự mà họ học, họ sử dụng là chữ Hán. Chỉ là chữ Hán. Chúng ta vẫn có thói quen xem biết chữ Hán là biết chữ, đồng nhất khái niệm "chữ Hán" và khái niệm "chữ" nói chung. Tuy nhiên, theo tôi, sự đồng nhất ấy thật đáng ngờ. Chữ Hán, với người Việt Nam, chỉ là một tử ngữ. Đó là thứ ngôn ngữ học thuật chứ không phải thứ ngôn ngữ giao tiếp. Về phương diện văn hoá, những trí thức chỉ biết chữ Hán là những người biết chữ, hơn nữa, có thể là một bậc thông thái, bởi vì thứ tử ngữ mà họ thông thạo ấy có thể giúp họ thu lượm được khá nhiều kiến thức kim cổ.

Nhưng về phương diện văn học, theo tôi, họ lại là những kẻ mù chữ:  họ không viết ra được cái thứ tiếng mà họ thường dùng để tâm tình với người thân hay thường nói thầm trong đầu, cái thứ tiếng đã tan hoà vào trong máu thịt, trong từng nhịp thở và từng giấc mơ của họ. Khối óc của họ thì ăm ắp chữ nghĩa mà trái tim của họ thì lại mù chữ. Khi muốn tự thể hiện họ, họ phải đóng vai một người khác, sử dụng một thứ ngôn ngữ khác.
Biết chữ, với người Việt Nam, chỉ có nghĩa là biết chữ Nôm hay chữ quốc ngữ. Chữ quốc ngữ thì không nói làm gì: mặc dù được hình thành từ thế kỷ 17, nhưng chỉ được công nhận là một văn tự chính thức từ cuối thế kỷ 19, lúc Việt Nam đã thành thuộc địa của Pháp, và chỉ thực sự được phổ dụng từ giữa thế kỷ 20, trước và sau thời điểm Việt Nam được độc lập một tí, do đó, nó không có ảnh hưởng gì đáng kể trong di sản văn hoá và văn học dân tộc. Còn chữ Nôm, tuy xuất hiện từ khá sớm, có thể ngay từ thế kỷ thứ 10 hay 11 hoặc muộn hơn một chút, nhưng mãi đến thế kỷ 14, nó mới tương đối hoàn chỉnh để có thể được sử dụng như một phương tiện văn học.

So với nhiều quốc gia khác trên thế giới, thời điểm xuất hiện như thế không phải là quá muộn. Nhưng vấn đề là: từ khi chữ Nôm tương đối hoàn chỉnh cho đến hết thế kỷ 19, chỉ trừ hai thời kỳ cực kỳ ngắn ngủi dưới thời nhà Hồ và nhà Tây Sơn, thứ chữ ấy vẫn chỉ được xem là thứ chữ ngoại hôn, không được cả dân chúng lẫn chính quyền thừa nhận như một thứ văn tự chính thống.

Hậu quả là, thứ nhất, thứ chữ ấy vĩnh viễn "tương đối hoàn chỉnh" chứ không bao giờ thực sự hoàn chỉnh; không có cá nhân hay tổ chức nào bỏ công sức để hệ thống hoá cách cấu tạo chữ Nôm để ai cũng có thể đọc giống nhau, tránh được cảnh đoán mò kéo dài đến tận bây giờ.

Thứ hai, quan trọng hơn, thứ chữ ấy chưa bao giờ thực sự được coi trọng. Trong tâm lý của dân chúng, Nôm đồng nghĩa với quê mùa (nôm na); hơn nữa, đồng nghĩa với cả sự thiếu đứng đắn và đáng bị khinh bỉ (nôm na là cha mách qué). Cả giới cầm bút cũng không thoát khỏi tâm lý ấy, xem những tác phẩm bằng chữ Nôm là lời quê ("Lời quê góp nhặt dông dài"). Các tuyển tập văn học lớn của Việt Nam ngày xưa, từ Trích diễm thi tập của Hoàng Đức Lương (đầu đời Lê) đến Toàn Việt thi lục của Lê Quý Đôn, Hoàng Việt thi tuyển của Bùi Huy Bích... đều chỉ tập hợp các tác phẩm bằng Hán văn. Ngay đến giữa thế kỷ 19, khi viết lời tựa cho cuốn Hoa Tiên, Cao Bá Quát cũng còn phân vân: "Than ôi! Lấy quốc ngữ [tức chữ Nôm] mà làm văn chương thì ta chưa dám" (1).

Cuối cùng, như là hậu quả của tất cả những sự kiện trên, chữ Nôm chưa bao giờ được phổ biến sâu rộng. Số người biết chữ Hán đã ít; số người biết chữ Nôm hẳn lại càng ít hơn (2).

Ít là bao nhiêu? Theo David G. Marr, tác giả cuốn Vietnamese Tradition on Trial 1920-45, vào cuối thập niên 30 của thế kỷ này, khoảng 10 phần trăm dân số Việt Nam biết chữ; trước đó hơn 10 năm, vào giữa thập niên 1920, con số này chỉ hơn năm phần trăm mà thôi. Trước thế kỷ 20, trong thời Hán học thì sao? David G. Marr đoán là có thể đến khoảng 25 phần trăm những người trên 15 tuổi có thể biết khoảng vài trăm từ Nôm và Hán Việt đủ để đọc được gia phả và các loại văn bằng hay khế ước thông thường (3). Không ai biết chính xác con số những người biết chữ Hán và chữ Nôm đến trình độ có thể sáng tác hay thưởng thức các tác phẩm văn học. Nhưng khó tin được là nó vượt quá năm phần trăm dân số.

Số người biết chữ (tức là biết chữ Nôm) vốn cực kỳ hiếm hoi. Điều kiện xuất bản lại lạc hậu và khó khăn đến ngặt nghèo. Một phần vì kỹ thuật in ấn và kỹ thuật sản xuất giấy lạc hậu, phần khác, vì sự kiểm soát chặt chẽ của các triều đình phong kiến: suốt đời Lý, đời Trần và đầu đời Lê, trừ kinh sách trong chùa, còn thơ văn, muốn in thì phải được phép của nhà vua (4). Đến thời Trịnh Nguyễn phân tranh, việc in ấn ít nhiều vượt ra ngoài tầm kiểm soát của vua chúa, tuy nhiên, các vua chúa lại nhìn điều ấy như một dấu hiệu suy thoái về phong hoá, do đó, năm 1663, Trịnh Tạc sai Phạm Công Trứ soạn 47 điều giáo hoá, trong đó, có điều ngăn cấm dân chúng tự tiện in thơ văn, đặc biệt thơ văn bằng chữ Nôm. Gần đúng một trăm năm sau, vào năm 1760, chúa Trịnh lại sai Nhữ Đình Toản diễn nôm 47 điều giáo hoá ấy để phổ biến rộng rãi trong dân gian, trong đó, có đoạn:

Ngũ kinh chư sử xưa nay,
Với chư tử tập cùng rày văn chương,
Dạy bèn có ích đạo thường,
Mới nên san bản bốn phương thông hành.
Kỳ như Thích, Đạo, phi kinh,
Lời tà mối lạ tập tành truyện ngoa,
Cùng là truyện cũ nôm na,
Hết thơ tập ấy lại ca khúc này,
Tiếng dâm dễ khiến người say,
Chớ cho in bán, hại nay thói thuần (5).

Trong những điều kiện kỹ thuật, xã hội và văn hoá như thế, số lượng sách được in cực kỳ hiếm hoi. Hình như trong số các nhà thơ lớn của Việt Nam không có ai được may mắn nhìn thấy sách của mình được in lúc còn sống. Ngay cả những nhà thơ tương đối gần đây, thuộc thế kỷ 19, như Nguyễn Du (1766-1820), Nguyễn Công Trứ (1777-1858); và ngay cả Nguyễn Khuyến (1835-1909) và Trần Tế Xương (1780-1907) ở tận cùng thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, cũng không bao giờ được cầm trong tay một cuốn sách nào của chính mình. Mãi đến những năm 1920, sách báo dưới dạng in mới tương đối phổ biến tại Việt Nam (6).

Điều này có nghĩa là, cho đến thời điểm đó, tuyệt đại đa số các tác phẩm văn học của Việt Nam chỉ tồn tại dưới dạng chép tay và được phổ biến dưới hình thức truyền miệng. Bởi vậy, hoàn toàn không cường điệu chút nào nếu chúng ta nói là, từ đầu thế kỷ 20 trở về trước, văn học Việt Nam chủ yếu là văn học truyền miệng.

Sự phân chia văn học ra làm hai dòng, dòng văn học thành văn (hay bác học) và dòng văn học truyền khẩu (hay dân gian) như thói quen phổ biến từ trước đến nay thực chất chỉ là một sự phân chia có phần giả tạo và có ý nghĩa rất tương đối bởi vì tuyệt đại đa số những tác phẩm được gọi là "thành văn" hay "bác học" ấy chủ yếu được xuất bản miệng rất lâu trước khi được người đời sau sưu tập và in lại dưới hình thức văn bản cố định. Tôi muốn xem khuynh hướng truyền miệng ấy như là một đặc điểm nổi bật đầu tiên của văn học Việt Nam.

***

Khuynh hướng truyền miệng có nhiều biểu hiện khác nhau. Ở nhà trường, đó là thói quen "nghe sách" và "bình văn".

"Nghe sách" là hoạt động thường xuyên, hầu như hàng ngày: vì không phải ai cũng có sách, ngay cả loại sách giáo khoa căn bản, cho nên, thầy giáo thường phải nhờ một học sinh có giọng tốt đọc một đoạn trong kinh sách để mọi người cùng nghe, sau đó, thầy giáo mới giảng giải, phân tích và bình luận. Từ đầu đến cuối, học sinh chỉ chăm chú lắng nghe và ghi nhớ.

"Bình văn" cũng tương tự: người ta đọc to thơ và văn của ai đó một cách trầm bổng, ngân nga, theo những nhịp điệu và tiết tấu nhất định để mọi người cùng thưởng thức. Cách đọc trong các buổi bình văn không giống hình thức lãng tụng ở Trung Hoa và cũng không giống hình thức đọc diễn cảm ở phương Tây, theo Lê Trí Viễn, "có lẽ chỉ có ở ta" (7).

Ở các trường học còn thế, ngoài xã hội, việc tiếp xúc trực tiếp với văn bản một tác phẩm văn học nào đó là một điều hy hữu. Phần lớn, người ta chỉ nghe đọc và ghi nhớ, sau đó, đọc lại cho người khác hoặc chính mình nghe. Hầu hết các tác phẩm văn học nổi tiếng của Việt Nam đều được lưu hành trong dân gian, từ đời này qua đời kia, bằng phương cách ấy, trước khi được in thành sách để người ta có thể cầm trên tay mà nghiền ngẫm.

Khuynh hướng truyền miệng như thế nhất định có nhiều hệ quả quan trọng.

Thứ nhất là sự mất mát cũng như nạn tam sao thất bổn trong các tác phẩm văn học.

Thứ hai là tâm lý coi trọng lời nói hơn chữ viết của cái lời nói ấy (chữ Nôm) ở cả tác giả lẫn độc giả. Câu tục ngữ "Trăm năm bia đá thì mòn / Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ" là minh chứng rõ rệt nhất cho cái tâm lý ấy.

Thứ ba, nó cũng là nguyên nhân chính làm cho văn vần có vị thế áp đảo trong nền văn học Việt Nam: có thể nói nền văn học bằng tiếng Việt trước thế kỷ 20 chủ yếu là một nền văn học bằng văn vần. Thơ bằng văn vần, đã đành. Người ta cũng viết cả lịch sử, tuỳ bút, chính luận và tiểu thuyết bằng văn vần. Tại sao? Có lẽ có nhiều lý do nhưng chắc chắn lý do chính không phải là vì người Việt Nam yêu thơ như chúng ta thường nhầm tưởng mà là vì một sự chọn lựa đầy tính chất thực dụng: văn vần dễ nhớ và dễ lưu truyền trong một xã hội hoặc chưa có chữ viết hoặc đã có nhưng rất hiếm người biết cái thứ chữ viết ấy.

Những hệ quả trên tương đối dễ thấy. Theo tôi, khuynh hướng truyền miệng còn có tác động lên cả ngôn ngữ chúng ta sử dụng.

Trước hết, trong hoạt động xuất bản miệng, chúng ta chỉ làm quen với khía cạnh âm thanh của ngôn ngữ, do đó, dù muốn hay không, khía cạnh âm thanh của ngôn ngữ cũng dần dần nổi bật: cho đến nay, phần lớn người Việt Nam vẫn còn bị mê hoặc bởi những câu văn mang hơi hướm biền ngẫu du dương và trầm bổng. Dần dần, một cách tự phát, chúng ta ít nhiều đồng nhất cái đẹp của văn chương với việc thuận tai. Điều này chắc chắn là gây nhiều ảnh hưởng tai hại trong lãnh vực thẩm mỹ: nó dẫn đến ưu thế của sự tròn trịa, êm ái, ngân nga. Thơ, do đó, cứ oằn mãi dưới gánh nặng của những vần điệu dễ dãi và quen thuộc. Từng được thử nghiệm cả hơn nửa thế kỷ, đến nay, thơ tự do vẫn chưa được quần chúng công nhận là... thơ có lẽ cũng vì thế.

Hơn nữa, khuynh hướng truyền miệng một mặt làm phát triển tính chất cụ tượng trong tiếng Việt (8), nhưng mặt khác, lại làm giảm bớt tính chất duy lý và trừu tượng của nó. Khi sự truyền thông chủ yếu dựa trên lời nói, sự giản dị và cụ thể là những nguyên tắc chủ đạo. Chỉ khi chữ viết phát triển, người ta mới nâng cao được khả năng tư duy trừu tượng mơ hồ và phức tạp: người viết có nhiều thì giờ để nghĩ ngợi, nối kết ý này với ý kia, xây dựng các câu văn có lối kiến trúc nhiều tầng nhiều lớp, và người đọc cũng có thể đọc đi đọc lại, nghiền ngẫm, trăn trở, nhìn lui nhìn tới để nắm bắt mạch luận lý của tác giả.

Theo Eric Havelock, triết học của Plato, với những tư tưởng duy lý và cực kỳ tinh tế, là sản phẩm của một hệ thống văn tự hoàn chỉnh, khác với thơ ca của Homer vốn là sản phẩm của một nền văn hoá truyền miệng (9).

Một sự kiện tương tự cũng có thể được nhìn thấy ở Trung Hoa: sự phát triển rất sớm của hệ thống văn tự đã làm nở rộ nền triết học Trung Hoa thời cổ đại với những tên tuổi kiệt hiệt như Khổng Tử, Lão Tử, Mạnh Tử... hay bách gia chư tử nói chung.

Điều này có lẽ giải thích tại sao hầu hết các quốc gia có nền triết học cổ đại phong phú đều là những quốc gia có chữ viết rất sớm: Trung Hoa, Hy Lạp, La Mã, Ấn Độ và Ai Cập. Điều này phần nào cũng giải thích tại sao Việt Nam không những không có một nền triết học hoàn chỉnh mà cũng không có, hoặc có rất ít, những thể loại văn học thiên về tư duy trừu tượng như văn chính luận, biên khảo, lý luận và phê bình văn học.

Khuynh hướng truyền miệng dẫn đến thói quen ham kể chuyện, chỉ biết kể chuyện của người cầm bút và thói quen nghe kể chuyện, chỉ thích tò mò nghe kể chuyện của người đọc. Người Việt Nam nào mở miệng ra cũng khen ngợi Truyện Kiều là kiệt tác và dường như sẵn sàng bóp cổ bất cứ ai tuyên bố điều gì ngược lại. Nhưng có bao nhiêu người Việt Nam thực sự đọc Truyện Kiều? Đọc cả Truyện Kiều chứ không phải đọc lõm bõm vài ba đoạn trích ngắn trong chương trình giáo dục cấp phổ thông. Bao nhiêu người?

Trong tâm lý chỉ thích kể chuyện và nghe kể chuyện, các yếu tố kỹ thuật và ngôn ngữ bị xem là thứ yếu. Cả đến văn bản cũng trở thành thứ yếu. Thói quen này biểu hiện rất rõ trong cả việc giảng dạy lẫn việc phê bình và nghiên cứu văn học của chúng ta: chỉ thích sa đà trong các vấn đề chung chung về bối cảnh lịch sử, tiểu sử tác giả và việc tóm tắt cốt truyện nhưng rất ít khi dừng lại phân tích các yếu tố hình thức trong từng tác phẩm cụ thể.

Cuối cùng, khuynh hướng truyền miệng kéo dài cũng góp phần ngăn cản việc đa dạng hoá các phong cách văn học. Tồn tại dưới hình thức truyền miệng là một cách tồn tại vô hình và thường thì vô danh. Nó không giống hình thức tồn tại dưới dạng sách với một hình thù nhất định để gợi ra cho người đọc và cả người viết ý niệm về cấu trúc, về hệ thống, về các yếu tố hình thức của nghệ thuật; với một cách đọc thầm lặng và cô độc để gợi ra ý niệm về nhu cầu diễn dịch và phân tích, từ đó, làm nở rộ các hoạt động phê bình và nghiên cứu văn học; và với một tên tác giả nhất định để gợi cho người đọc và cả người viết ý niệm về bản sắc cá nhân. Tính chất truyền khẩu đã làm cho hàng ngàn câu ca dao từ vô số địa phương khác nhau trở thành hao hao như nhau: đó là một sinh hoạt tập thể, mang nặng tính chất tập thể.

Cho nên không có gì lạ khi diện mạo các tác giả cổ điển Việt Nam ít khi có nét riêng và thường thì rất dễ lẫn vào nhau.

***

Chú thích:
  1. Thơ chữ Hán Cao Bá Quát, nxb Văn Học, Hà Nội, 1976, tr. 350.
  2. Nên lưu ý là tuy ở Nhật Bản và Đại Hàn, người ta cũng chịu ảnh hưởng nặng nề của văn học Trung Hoa và văn tự của họ cũng thoát thai từ chữ Hán, nhưng so với Việt Nam, văn tự của họ có vị trí khác hẳn. Thứ nhất là, chúng không bị khinh rẻ như chữ Nôm. Thứ hai là chúng được hoàn chỉnh khá sớm: Ở Đại Hàn, từ giữa thế kỷ 15, chữ hangul đã hoàn chỉnh đủ để dịch hầu hết các tác phẩm kinh điển của Nho giáo (Đại Học, Trung Dung, Mạnh Tử, v.v...) và của Phật giáo (Suraamgàmasutra, Lotus Sutra, Diamond Sutra, v.v...). Và thứ ba, chúng được phổ biến khá sâu rộng: trong khi tầng lớp bên trên sính dùng chữ Hán thì tầng lớp trung lưu và giới bình dân vẫn dùng chữ hangul để ghi chép sổ sách buôn bán, dạy dỗ con cái, viết thư từ và nhật ký, nghĩa là hầu hết các sinh hoạt bình thường trong ngày. Có lẽ vì thế mà cũng giống như ở Nhật Bản, số lượng nhật ký còn lại ở Đại Hàn khá nhiều, trong đó nổi tiếng nhất là các cuốn Sansong ilgi, Hwasong ilgi, Kyech'uk ilgi, Uiyudang ilgi... (Xem Understanding Korean Literature, của Kim Hunggyu, do Robert J. Fouser dịch sang tiếng Anh, M.E. Sharpe, New York, 1997).
  3. Marr, David G. (1981), Vietnamese Tradition on Trial 1920-45, University of California, Berkeley, tr. 34.
  4. Trần Văn Giáp (1990), Tìm hiểu kho sách Hán Nôm, nxb Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, tr. 38-9.
  5. Dẫn lại theo Đinh Gia Khánh, Bùi Duy Tân và Mai Cao Chương (1978), Văn học Việt Nam  thế kỷ 10 - nửa đầu thế kỷ 18, tập 1, nxb Đại Học và Trung Học Chuyên Nghiệp, Hà Nội, tr. 26.
  6. Xem Shawn McHale (1995), "Printing and Power: Vietnamese Debates over Women's Place in Society, 1918-1934", in trong tập Essays into Vietnamese Pasts, do K.V. Taylor và John K. Whitmore biên tập, Cornelle University Press, Ithaca, tr. 174.
  7. Lê Trí Viễn (1997), Đến với thơ hay, nxb Giáo Dục, Hà Nội, tr. 10.
  8. Về tính cụ tượng của tiếng Việt, xin xem phần "Chúng ta qua tiếng nói" in trong cuốn Tiểu luận của Võ Phiến, nxb Văn Nghệ, California, 1988, tr. 315-363.
  9. Dẫn theo Alvin Karnan (1990), The Death of Literature, Yale University Press, New Haven, tr. 128-9.


 http://www.voatiengviet.com/content/truyen-thong-truyen-khau-trong-van-hoc-vietnam/2577791.html

Viện Khổng Tử, cơ quan tuyên truyền và tình báo Trung Cộng



Trần Trung Đạo: Viện Khổng Tử, cơ quan tuyên truyền và tình báo Trung Cộng


Các nước trên thế giới, dù nhỏ hay lớn đều muốn nhân loại biết đến những cái hay cái đẹp của nước mình. Viện Goethe (Goethe-Institut), đặt tên theo nhà văn và chính khách Đức Johann Wolfgang von Goethe, có 159 cơ sở hoạt động gần khắp thế giới để trao đổi văn hóa và ngôn ngữ. Viện Goethe tự trị về tài chánh và độc lập điều hành từ chính phủ Đức. Hội Liên Minh Pháp (Alliance Française) do một số trí thức Pháp trong đó có nhà khoa học Louis Paster, nhà văn JulesVerne, sáng lập từ 1883, có mặt trên 137 quốc gia với tổng số gồm 850 trung tâm cũng hoạt động độc lập với chính phủ Pháp.



Các nước Phi Châu tuy nghèo nàn, lạc hậu về kỹ thuật, bị thực dân xâm lược rồi nội chiến triền miên nhưng không phải vì thế mà họ không kiêu hãnh với nền văn hóa và cũng luôn tìm mọi cách để giới thiệu cùng nhân loại những nét đặc thù của dân tộc họ. Hiến chương Phục Hưng Văn Hóa Phi Châu được Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc chuẩn y ngày 24 tháng Giêng 2006 đã tạo điều kiện phục hưng các giá trị và giới thiệu văn hóa Phi Châu đến các quốc gia thành viên Liên Hiệp Quốc. Ngày nay nhiều viện văn hóa Phi Châu do tư nhân tài trợ có mặt nhiều nơi trên thế giới.



Phát huy văn hóa là lẽ tự nhiên và đáng ca ngợi. Ngoài trừ những kẻ tự thu mình trong góc tối, sống trong ảo tưởng “quê hương mình là đẹp hơn cả” dù suốt đời không ra khỏi nhà để rồi trở nên ngày thêm u mê lạc hậu, phần lớn các lãnh đạo và con người trên thế giới đều biết trong cái riêng bao giờ cũng có cái chung, văn hóa của một dân tộc là một phần của văn minh nhân loại.



Thế nhưng, những khái niệm văn hóa, độc lập, tự trị, phi chính phủ của các trung tâm, các viện văn hóa nêu trên không áp dụng trong trường hợp các Viện Khổng Tử của Trung Cộng, bởi vì thực chất của các viện này chỉ là cơ quan tuyên truyền, tình báo và được đặt dưới sự lãnh đạo của Cục Tuyên Truyền Trung Ương đảng Cộng Sản Trung Quốc. Tuyên truyền là xương sống của chế độ CS. Từ khi thành lập đảng CSTQ năm 1921 đến nay, tuyên truyền luôn đóng một vai trò quyết định trong việc thực thi các chính sách của đảng. Cục Tuyên Truyền Trung Ương do Lý Trường Xuân, Ủy viên Bộ chính trị đứng hàng thứ năm làm Cục Trưởng.



 Tại sao là Viện Khổng Tử mà không là Viện Mao Trạch Đông hay Viện Đặng Tiểu Bình?



Bản chất của CS từ Âu sang Á là giấu mặt và vận dụng ảnh hưởng của các nhân vật lịch sử trong đó Khổng Tử là một trong những nạn nhân.



Trong thời kỳ sau 1949 đến 1966, lãnh đạo Trung Cộng dựa vào Khổng Tử như biểu tượng của quyền hạn gia đình bởi vì trong giai đoạn đó Mao chủ trương phân tán quyền sở hữu đất đai xuống các đơn vị gia đình qua trung gian các chính sách cải cách ruộng đất và Bước Tiến Nhảy Vọt đầy thảm họa.



Mao ca ngợi Khổng Tử “nhiệm vụ của chúng ta là nghiên cứu các thành tựu lịch sử và đánh giá chúng với quan điểm Mác Lê. Trung Hoa có một lịch sử dài nhiều ngàn năm với đặc tính riêng và là những kho tàng quý báu… Chúng ta phải tổng hợp từ Khổng Tử đến Tôn Dật Tiên và kế thừa các truyền thống giá trị này”. Lưu Thiếu Kỳ còn đi xa hơn khi cho rằng Khổng Tử có nhiều đặc điểm của một người CS tốt.



Tuy nhiên, trong thời kỳ Cách Mạng Văn Hóa, bao nhiêu thất bại, sai lầm của Mao đều được đổ lên đầu Khổng Tử khi chiến dịch Chống Bốn Cũ (nhận thức cũ, văn hóa cũ, truyền thống cũ, tập quán cũ) được phát động. Nội dung của Cách Mạng Văn Hóa được tóm tắt là “cái mới” chống “cái cũ” và trong đó Khổng Tử đại diện cho mọi “cái cũ” và biểu tượng của xã hội giai cấp. Không chỉ chống Khổng Tử về mặt tư tưởng mà cả đền thờ, di tích, sách vở đều bị đục bỏ hay đốt phá. Mao phát biểu “đọc sách nhiều quá sẽ làm tê liệt khả năng nhận thức”. Mục đích chống Khổng Tử của Mao là để đương đầu với sự thất bại kinh tế do chính y gây ra và chống lại những lãnh đạo thực tâm sùng bái Khổng Tử trong đó có Lưu Thiếu Kỳ. Kết quả, 60 phần trăm lãnh đạo CS các cấp bị thanh trừng qua nhiều hình thức.



Khi nhân loại bước vào thiên niên kỷ thứ ba, thế giới thay đổi và sẽ thay đổi một cách nhanh chóng trong thời gian tới. Sự toàn cầu hóa không chỉ diễn ra trong lãnh vực kinh tế mà cả văn hóa, xã hội. Nhân vật lịch sử cần được đánh bóng không phải là hai hồn ma CS Mao hay Đặng mà chính là Khổng Tử. Lãnh đạo Trung Cộng Hồ Cẩm Đào khi giới thiệu Khổng Tử đã ca ngợi ông ta chủ trương một “xã hội hài hòa”. Bộ máy tuyên truyền Trung Cộng in Luận Ngữ và là tác phẩm phát hành nhiều nhất ở Trung Quốc, và các ấn bản ngoại ngữ cũng được giới thiệu nhiều nơi trên thế giới.



Theo Giáo sư Gilbert Rozman thuộc khoa xã hội học, đại học Princeton, Trung Cộng “muốn thế giới nhìn vào lịch sử Trung Quốc và những vinh quang quá khứ để khuyến khích họ chấp nhận một Trung Quốc hiện nay nhiều hơn”. Phê bình quan điểm của Hồ Cẩm Đào, Giáo sư Perry Link, Ban Đông Á, đại học Princeton cho rằng có sự mâu thuẫn về căn bản là cái cách chính phủ Trung Cộng sử dụng Khổng Tử để đại diện cho văn hóa Trung Hoa hài hòa ở nước ngoài trong khi đó đảng áp dụng chính sách toàn trị hà khắc đối với người dân trong nước.



Lịch sử hình thành Viện Khổng Tử



Kế hoạch Viện Khổng Tử được chính thức ra đời vào tháng Sáu năm 2004. Sau vài lần thử nghiệm tại Uzbekistan, viện đầu tiên được khánh thành ngày 21 tháng 11 năm 2004 tại Seoul, Nam Hàn. Đến nay, 2014, đã có 480 Viện Khổng Tử rải rác khắp sáu lục địa. Lãnh đạo Trung Cộng tuyên bố vào năm 2020 con số Viện Khổng Tử sẽ lên đến một ngàn viện.



So với Hội Liên Minh Pháp (Alliance Française) được thành lập 131 năm trước, con số một ngàn đầy tham vọng và cấp bách của Trung Cộng rõ ràng không phải chỉ thuần mục đích văn hóa. Tạp chí The Economist nhận xét Viện Khổng Tử chỉ là “cơ quan nhà nước” CS và do đó chấp hành một cách nghiêm chỉnh các chủ trương của đảng. Với điều kiện thông tin ngày ngay, nhận xét của tạp chí The Economist có thể kiểm chứng một cách dễ dàng.



Các chức năng mặt nổi của Viện Khổng Tử



Theo tài liệu chính thức, Viện Khổng Tử là bộ phận của Hán Ban (汉办) “một cơ quan của Hội Đồng Quốc Tế Hoa Ngữ, một tổ chức không lợi nhuận, phi chính phủ, liên kết với Bộ Giáo Dục Trung Quốc” Nhiệm vụ công khai của Viện Khổng Tử là “giảng dạy Hoa ngữ ” và “đóng góp vào sự thành hình một thế giới đa dạng và hài hòa”.



Hán Ban, về cơ cấu trực thuộc Hội Đồng Quốc Tế Hoa Ngữ, trong thực tế chẳng phải phi lợi nhuận, tự trị gì mà do một lãnh đạo CS cấp trung ương điều hành. Chủ tịch Hội Đồng Quốc Tế Hoa Ngữ là bà Chen Zhili. Bà Chen sinh tháng 11 năm 1942, nguyên Cố Vấn Nhà Nước kiêm Bộ Trưởng Giáo Dục Trung Cộng. Bà gia nhập đảng CSTQ năm 1961. Nguyên là Bí Thư đảng bộ Ban Khoa Học Kỹ Thuật Thượng Hải, sau đó được thăng cấp giữ chức Giám Đốc Ban Tuyên Truyền Thượng Hải kiêm Phó Bí Thư Ban Chấp Hành Đảng Bộ Thượng Hải. Từ năm 2008 bà Chen là Phó Chủ Tịch Quốc Hội Trung Cộng. Về cấp bậc đảng, bà Chen là ủy viên Ban Chấp Hành Trung Ương đảng CSTQ tại các đại hội 15, 16, 17 đảng CSTQ. Tổng giám đốc hiện nay của Hán Ban là bà Xu Lin, cấp thứ trưởng trong chính phủ, thành viên của Hội Đồng Nhà Nước và ủy viên Hội Đồng Tham Vấn Chính Trị. Điều đó cho thấy cả hai lãnh đạo Viện Khổng Tử đều là cán bộ tuyên truyền cao cấp chứ chẳng thuần túy văn hóa, ngôn ngữ gì.



Về tài chánh, theo Chinadigitaltimes, Viện Khổng Tử được sử dụng một ngân sách rất cao lên đến nhiều tỉ yuan và website của Viện Khổng Tử cũng được xếp vào một trong những website tốn kém nhất tại Trung Cộng. Bà Chen Zhili ra ngoại quốc được quyền sử dụng tiền bạc một cách rộng rãi so với các ngân sách giáo dục khác. Mặc dù rất ngạc nhiên trước thái độ yểm trợ tài chánh dồi dào của Trung Cộng, nhiều đại học quốc tế, kể cả Mỹ, cần tiền bảo trợ cho các chương trình Hoa Ngữ nên cũng không khó khăn lắm trong việc chấp nhận sự thành lập Viện Khổng Tử.



Các chức năng mặt chìm của Viện Khổng Tử



- Thực hiện chủ trương tuyên truyền “sức mạnh mềm”: Theo Giáo sư Joseph Nye Jr., sức mạnh mềm được định nghĩa như là khả năng đạt được mục tiêu bằng ảnh hưởng, hợp tác với đối phương thay vì ép buộc đối phương phải tuân hành. Người viết đã phân tích chi tiết trong bài Từ Hồ Cẩm Đào đến Obama, bài học về chính sách Sức mạnh mềm (Soft power).



Joseph Nye Jr. tóm tắt quan điểm này trong tác phẩm Sức mạnh Mềm: Phương tiện để Thành công trong Chính trị Thế giới (Soft Power: The Means to Success in World Politics): “Một quốc gia có thể đạt được kết quả mong muốn trong chính trị thế giới bởi vì các quốc gia khác – khâm phục giá trị của nó, tích cực noi gương các thành tựu nó đạt được, khát vọng để đạt đến mức độ thịnh vượng và mở rộng của nó, muốn theo chân nó. Trong ý nghĩa đó, quan trọng là đặt ra một nghị trình và thu hút các quốc gia khác trong chính trị thế giới, và không chỉ buộc họ thay đổi bằng các đe dọa quân sự hay trừng phạt kinh tế.”



Cũng theo Joseph Nye Jr., sức mạnh mềm của một quốc gia đặt trên ba nguồn: văn hóa, giá trị chính trị và chính sách đối ngoại. Áp dụng chính sách sức mạnh mềm trong phạm vi thế giới đã trở thành mục tiêu hàng đầu trong chính sách tuyên truyền quốc tế của Hồ Cẩm Đào và các lãnh đạo Trung Cộng hiện nay.



Trung Cộng có hai đường lối tuyền truyền tương đối độc lập gồm tuyên truyền đối nội nhằm kiểm soát nhận thức người dân và tuyên truyền đối ngoại tập trung vào việc ảnh hưởng dư luận quốc tế một cách phù hợp với chính sách đối ngoại của đảng CSTQ. Tạp chí Economist giải thích các Viện Khổng Tử được sử dụng nhằm giành được sự đồng thuận của dư luận thế giới.



Mục đích cụ thể của đường lối tuyên truyền đối ngoại gồm (1) trấn an dư luận thế giới về một Trung Cộng đe dọa, (2) bảo đảm nguồn nguyên vật liệu cung ứng cho nền kinh tế tăng nhanh nhưng lãnh phí, (3) xây dựng các liên minh quốc tế và làm yếu vai trò của Đài Loan trong cộng đồng thế giới, và (4) phát huy một thế giới đa phương và giới hạn sức mạnh của Mỹ.



Khi Hồ Cẩm Đào công bố chủ trương áp dụng “sức mạnh mềm” trên thế giới đầu năm 2009, Lý Trường Xuân không giấu diếm khi cho rằng các Viện Khổng Tử là “cửa ngõ quan trọng để làm sáng danh văn hóa Trung Quốc, giúp mở rộng văn hóa Trung Quốc, đó là phần của chiến lược tuyên truyền quốc tế”.



Mặc dù luôn bào chữa là “khách quan”, “độc lập”, các vấn đề nhạy cảm như biến cố Thiên An Môn, Pháp Luân Công, Tây Tạng v.v. đều bị gạch bỏ khỏi các chương trình giảng dạy tại các Viện Khổng Tử và các học viên không được phép bàn đến các vấn đề này. Do đó, khác với nội dung do Joseph Nye phác họa, chính sách của CSTQ thực chất là một chính sách tuyên truyền và mua chuộc, tương tự như chính sách thực dân trước đây.



- Hang ổ tình báo: Trung Cộng hiện có 60 triệu Hoa Kiều sinh sống gần như tại hầu hết quốc gia trên thế giới và việc sử dụng nguồn lực của đạo quân thứ năm này để phục vụ một cách hữu hiệu đường lối đảng là một quan tâm lớn của lãnh đạo Trung Cộng.



Tờ báo có uy tín của Mỹ Forbes, trong tháng 10 2014, tố cáo một trong những trường đại học rất uy tín tại Mỹ, đại học Stanford, đã hợp tác với Trung Cộng qua trung gian Viện Khổng Tử. Ngân sách của viện do Trung Cộng tài trợ. Tác giả bài viết trên Forbes trích lời phát biểu của Arthur Waldron khi nói rằng “Viện Khổng Tử có thể đóng vai trò then chốt trong việc ảnh hưởng chính sách tình báo của Trung Cộng”.



Cũng trên Forbes, tác giả Eamonn Fingleton, chỉ trích các trường đại học Mỹ bán rẻ lương tâm trí thức qua việc im lặng trước sự kiện Thiên An Môn. Lý do, tiền của Bộ Giáo Dục Trung Cộng đổ vào các đại học này một cách ồ ạt qua cửa Viện Khổng Tử. Hiện nay có khoảng 220 ngàn sinh viên Mỹ theo học các Viện Khổng Tử. Tuy nhiên, điều ngạc nhiên và nguy hiểm là các hợp đồng giữa Bộ Giáo Dục Trung Cộng và các đại học Mỹ đều phải được giữ kín.

Theo Abrice De Pierrebourg, một cựu chuyên viên ngành tình báo Pháp, nhiều “chuyên viên ngôn ngữ Trung Quốc” lại có lý lịch gốc an ninh tình báo. Chức năng của những người này không phải là giáo dục mà là kiểm soát sinh viên gốc Hoa sinh ra ở nước ngoài và đồng thời tuyển dụng tình báo để làm việc cho Trung Cộng.



Phóng viên Omid Ghoreishi của báo The Epoch Times, trong điều tra Bắc Kinh Sử Dụng Viện Khổng Tử cho mục đích Gián Điệp (Beijing Uses Confucius Institutes for Espionage) đã trích dẫn lời của Michel Juneau-Katsuya, cựu Trưởng Cơ Quan An Ninh Tình Báo đặc trách Á Châu Thái Bình Dương của chính phủ Canada rằng với kinh nghiệm nhiều chục năm của ông hoạt động trong khu vực, cho thấy Trung Cộng không ngừng nỗ lực để gây ảnh hưởng đến các quốc gia khác.



Cũng theo lời ông Michel Juneau-Katsuya, đương kim chủ tịch chấp hành công ty an ninh Northgate SSI và một trong những chuyên viên an ninh được trích dẫn nhiều nhất tại Canada, Viện Khổng Tử là một đe dọa đối với chính phủ và nhân dân Canada. Ông khẳng định “Có những thông tin cho thấy rõ ràng các cơ quan tình báo Tây phương đã xác định Viện Khổng Tử như hình thức của cơ quan tình báo do Trung Cộng sử dụng và cũng do Trung Cộng tuyển dụng”.



Bài báo trên The Epoch Times cũng nhắc lại lời tuyên bố của Hồ Cẩm Đào như một bằng chứng cho thấy các Viện Khổng Tử thực chất là hang ổ gián điệp. Họ Hồ phát biểu “Sau nhiều năm nỗ lực, chúng ta đã tìm ra cách để trồng cấy và chuẩn bị những người ủng hộ đảng chúng ta”. Dĩ nhiên các lãnh đạo Trung Cộng luôn bác bỏ những lời tố cáo của các chuyên viên tình báo quốc tế và uy tín như Michel Juneau-Katsuya.



Các lãnh đạo Trung Cộng hãnh diện khi nhắc đến Viện Khổng Tử như một phần của “mặt trận đoàn kết” chống kẻ thù. Nhưng kẻ thù của “mặt trận” này là ai? Không ai khác hơn là “năm nọc độc” gồm Đài Loan, Tây Tạng ly khai, thiểu số Uighurs, Falun Gong, các nhà tranh đấu dân chủ, và “thế lực thù địch Tây Phương” đứng đầu là Mỹ.



Một chế độ dựa trên lừa dối và khủng bố sớm muộn cũng sẽ sụp đổ



Mặc dù phát triển kinh tế nhanh trong hai chục năm qua, Trung Cộng đang đương đầu với những khó khăn khách quan về lâu dài không thể vượt qua bao gồm yếu tố dân số thặng dư và mất cân đối, y tế công cộng thiếu hụt trầm trọng, môi sinh độc hại nhưng quan trọng nhất vẫn là cơ chế chính trị độc tài toàn trị, bóp nghẹt hầu hết các quyền căn bản của con người và tham nhũng đã trở thành một đặc tính trong mọi ngành, mọi cấp từ trung ương đến địa phương.



Lãnh đạo CSTQ đã và đang làm mọi cách để tồn tại bất chấp dư luận và thể diện của một đất nước có nhiều ngàn năm văn hóa.



Sự lừa dối bỉ ổi thể hiện khi Ủy Ban Thế Vận Quốc Tế đến kiểm nghiệm điều kiện môi sinh tại Bắc Kinh vào năm 2001 trước khi chấp thuận cho Trung Cộng làm quốc gia tổ chức. Ngày trước đó, lãnh đạo Trung Cộng đã ra lịnh xịt nước xanh lên hai hàng cây dọc đường phố có đoàn xe của Ủy Ban Thế Vận chạy qua để đánh lừa họ rằng Bắc Kinh là thành phố cây xanh. Hành động này giống hệt chuyện xảy ra hơn nửa thế kỷ trước khi các lãnh đạo CS tỉnh Hồ Bắc cho dời các ruộng lúa ra sát đường nơi có xe lửa của Mao chạy qua để gây ấn tượng cho Mao rằng mùa màng dư giả. Bản chất lừa dối của chế độ CS không thay đổi và một chế độ dựa trên lừa dối và khủng bố để tồn tại, chế độ đó sớm nay muộn rồi sẽ sụp đổ.



Trần Trung Đạo



Tham khảo:





– Mao’s China, A history of the People ‘s Republic. The Free Press, NY 1977

– The New Chinese Empire, Ross Terrill, Basic Books, 2003

– Hiến chương Phục Hưng Văn Hóa Phi Châu ( CHARTER FOR AFRICAN CULTURAL RENAISSANCE), Unesco, 2006

– Chen Zhili http://en.wikipedia.org/wiki/Chen_Zhili

– Viện Khổng Tử (http://en.wikipedia.org/wiki/Confucius_Institute)

– Confucius and the Cultural Revolution: A Study in Collective Memory, Tong Zhang và Barry Schwarz, International Journal of Politics, Culture and Society, Vol. 11, Nọ 2, 1997

– Propaganda in the People’s Republic of China, WikipediA

– List of all Confucius Institutes in the U.S. (http://confucius.gmu.edu/upload/Resources_Alphabetical-list-of-Confucius-Institutes-in-the-USA.pdf)

– Follow The (Chinese) Money: The Tiananmen Anniversary And A Scandalous Silence On U.S. Campuses (http://www.forbes.com/sites/eamonnfingleton/2014/06/01/follow-the-chinese-money-the-tienanmen-anniversary-and-a-strange-silence-on-u-s-campuses/)

– Beijing Uses Confucius Institutes for Espionage (http://www.theepochtimes.com/n3/1018292-hosting-confucius-institute-a-bad-idea-says-intelligence-veteran/)

– Joseph S. Nye, Jr. Soft Power, Hard Power and Leadership,, Harvard University, 2006