Hà Tường Cát/Người Việt
(tổng hợp)
LTS. Trong hai ngày Thứ Bảy và Chủ Nhật, 18 và 19 Tháng Sáu,
tới đây, Đức Đạt Lai Lạt Ma sẽ đến chùa Điều Ngự, Westminster. Trong ngày Thứ Bảy,
ngài sẽ có một buổi thuyết pháp. Trong ngày Chủ Nhật, ngài sẽ ban đạo từ nhân dịp
Đại Lễ Lạc Thành chùa Điều Ngự. Đây là lần đầu tiên Đức Đạt Lai Lạt Ma gặp gỡ cộng
đồng Việt Nam tại Little Saigon. Sau đây là bài tổng hợp về con người của ngài.
Đức Đạt Lai Lạt Ma. (Hình: Mark Wilson/Getty Images)
Đức Đạt Lai Lạt Ma, 80 tuổi, hiện nay là vị thứ 14 của Tây Tạng
kể từ vị Đạt Lai Lạt Ma thứ nhất hồi thế kỷ 14. Dù đã phải sống lưu vong từ hơn
nửa thế kỷ, ngài vẫn là nhà lãnh đạo tinh thần và chính trị của Tây Tạng, là biểu
tượng của sự đấu tranh giành lại chủ quyền cho đất nước hiện nay vẫn còn đang bị
sát nhập vào Trung Quốc.
Mặc dù nói mình chỉ là một nhà sư Phật Giáo bình thưởng, Đức
Đạt Lai Lạt Ma được nhìn nhận là nhà lãnh đạo có ảnh hưởng nhất trên thế giới.
Dân Tây Tạng coi ngài là vị Phật sống, hiện thân lòng từ của chư Phật, người chọn
con đường tái sinh trở lại kiếp người để cừu giúp chúng sinh. Đối với mọi Phật
tử, ngài là hiện thân của từ bi và trí tuệ, một mẫu mực về tinh thần bảo vệ đức
tin, trí tuệ soi sáng cho trần thế bằng học thuật rất cao thâm với lòng nhân ái
bao la. Dư luận quốc tế coi ngài là một thể hiện cho sự bênh vực và cổ vũ hòa
bình của nhân loại.
Theo đức tin và truyền thuyết Tây Tạng, vị Đạt Lai Lạt Ma thứ
14 hiện nay, có tên Tenzin Gyatso, là con thứ năm trong 16 người con trong một
gia đình nông dân ở miền Đông-Bắc Tây Tạng, nhưng chỉ còn bảy người sống sót
qua tuổi ấu thơ. Căn cứ theo những tín hiệu thần bí cho rằng vị Đạt Lai Lạt Ma
đã tái sinh, người ta tìm thấy ngài khi mới 2 tuổi và được chính thức công nhận
là Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 lúc 15 tuổi. Bắt đầu được học hành từ lúc 6 tuổi, tới
23 tuổi, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã lấy bằng tiến sĩ triết lý Phật Giáo.
Vào thời gian Tentzin Gyatso chưa trưởng thành, mối quan hệ
giữa Trung Quốc với Tây Tạng đang dần dần xấu đi. Năm 1949, nhận thấy Cộng Sản
sắp đánh bại Quốc Dân Đảng trên toàn thể lục địa Trung Hoa, chính quyền tự trị
Tây Tạng ra lệnh trục xuất phái đoàn Trung Hoa Dân Quốc, đồng thời gởi văn thư
cho Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ và một bản sao cho Chủ Tịch Mao Trạch Đông, tuyên bố sẽ
tự vệ bằng mọi phương cách chống quân đội Trung Quốc vào Tây Tạng. Cả Trung Hoa
Dân Quốc và Trung Quốc vẫn coi Tây Tạng là một phần của nước Trung Hoa, sau khi
chính quyền Quốc Dân Đảng chạy ra Đài Loan các cuộc thương thuyết giữa Tây Tạng
và Trung Quốc không đem đến kết quả cụ thể.
Năm 1950, Hồng Quân Trung Quốc tiến vào Tây Tạng đánh bại lực
lượng kháng cự nhỏ bé và yếu ớt. Đức Đạt Lai Lạt Ma lúc đó đã trưởng thành, được
đưa lên nắm trọn quyền lực Tây Tạng và cử phái đoàn sang Bắc Kinh thương lượng.
Thỏa hiệp 17 điểm năm 1951 chấp nhận cho quân đội Trung Quốc đóng ở Tây Tạng,
chính quyền nhân dân cầm quyền, nhưng tôn trọng vị trí của vị Đạt Lai Lạt Ma.
Năm 1959, nhân dân Tây Tạng nổi dậy nhưng lực lượng yếu
không chống nổi sự đàn áp của quân đội Trung Quốc, và vị Đạt Lai Lạt Ma quyết định
rời khỏi Lhasa. Ngài cưỡi ngựa vượt qua dãy núi Hy Mã Lạp Sơn đến Tezpur, tiểu
bang Assam, Ấn Độ. Thủ Tướng Ấn Độ Jaeaharlal Nehru cho phép Đức Đạt Lai Lạt Ma
và chính quyền lưu vong Tây Tạng lưu trú ở Dharamshala, tiểu bang Himachal
Pradesh, ở miền Bắc. Nhiều cơ sở, trường học, chùa được thành lập và nơi đây trở
thành thủ đô tị nạn của Tây Tạng với khoảng 100,000 dân từ hơn nửa thế kỷ.
Đức Đạt Lai Lạt Ma đã cho lập viện Tây Tạng bao gồm thư viện
và văn khố, cơ sở duy nhất trên thế giới lưu trữ hơn 80,000 văn bản và nhiều
tài liệu liên quan đến lịch sử, văn hóa, chính trị có giá trị giúp cho những học
giả nghiên cứu sâu rộng về xứ sở này.
Đức Đạt Lai Lạt Ma là người đã đi khắp nơi trên thế giới hơn
bất cứ nhà lãnh đạo tinh thần và chính trị nào khác. Ngài gặp gỡ và trao đổi
quan điểm với nhiều nhà lãnh đạo tinh thần và chính trị, cử hành nghi thức tôn
giáo, thuyết giảng và nói chuyện với quảng đại quần chúng, chứ không chỉ là Phật
tử ở khắp quốc gia. Ngài đến Mỹ rất nhiều lần.
Năm 1973, Đức Đạt Lai Lạt Ma tiếp kiến Đức Giáo Hoàng Paul
VI ở Tòa Thánh Vatican. Ngài cũng đã nhiều lần gặp Đức Giáo Hoàng John Paul II
vào những năm 1980, 1982, 1986, 1988, 1990 và 2003.
Ngài cũng đã nhiều lần đối thoại về tín ngưỡng với dân Do
Thái. Phái đoàn Do Thái Giáo đã đến Dharamshala và ngài viếng thăm Israel ba lần
trong đó có lần gặp giáo sĩ trưởng Do Thái Giáo.
Qua những việc làm này, năm 1989, Đức Đạt Lai Lạt Ma được
trao giải Nobel Hòa Bình.
Năm 1996, Đức Đạt Lai Lạt Ma đến Nam Phi gặp Tổng Thống
Nelson Mendela.
Bất chấp sự phản đối của Trung Quốc, các tổng thống Mỹ từ
Bill Clinton (1998) đến Barack Obama (2008) đều mời Đức Đạt Lai Đạt Ma vào Tòa
Bạch Ốc. Năm 2007, ngài được Tổng Thống George W. Bush trao tặng huy chương
vàng Quốc Hội. Năm 2009, bà Chủ Tịch Hạ Viện Nancy Pelosi trao tặng ngài giải
thưởng Nhân Quyền Lantos.
Trong nhiều sinh hoạt quốc tế, năm 1967 Đức Dạt Lai Lạt Ma đến
Washington tham dự và nói chuyện trong một hội nghị nội bộ về nhân quyền tại Quốc
Hội Mỹ. Năm 2007 Đức Đạt Lai Lạt Ma tham dự kỳ họp thứ ba của các nhà lãnh đạo
tôn giáo thế giới ở Amstar, Ấn Độ.
Không thể nào liệt kê đầy đủ hàng trăm hoạt động như vậy của
Đức Đạt Lai Lạt Ma trong hơn bốn thập kỷ.
Đức Đạt Lai Lạt Ma không chỉ quan tâm đến tôn giáo và chính
trị mà rất chú ý đến các vấn đề xã hội, kinh tế, môi trường, văn hóa và tinh thần.
Ngài là tác giả của nhiều cuốn sách đề cập đến các đề tài này. Ngài tin tưởng rằng
chủ nghĩa Marxism đúng nghĩa là tốt nhưng mạnh mẽ lên án chính sách của một số
nước Cộng Sản.
Khi có dịp tiếp xúc với Đức Đạt Lai Lạt Ma, dù là trong một
sự kiện quy tụ hàng chục ngàn người, mỗi người đều cảm nhận được thái độ từ bi
và nhận thức sâu sắc về lời thuyết giảng khoan hòa tràn đầy trí tuệ sâu sắc của
ngài cho đời sống cá nhân mình.
Nhân loại chưa bao giờ có một Đức Đạt Lai Lạt Ma như ngài, một
tặng phẩm quý báu khó có thể tìm được trong thế giới đầy rẫy phức tạp này.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét