Nguyễn Quốc Tấn Trung
Dự thảo Luật về Hội Việt Nam hiện nay đang trong giai đoạn
soạn thảo, hoàn chỉnh với rất nhiều tranh cãi và ý kiến. Dự thảo, cho đến hiện
nay, cũng trải qua nhiều thăng trầm. Từ việc cực kỳ cởi mở với đầy đủ tiêu chuẩn
quốc tế đối với việc thành lập hội, cho đến những quy định thậm chí có phần hà
khắc hơn cả Nghị định 45 về Hội hiện tại.
Nhưng tiêu chuẩn quốc tế ra sao? Khó khăn về việc thành lập
Hội tại Việt Nam là những khó khăn gì? Bài viết này hy vọng giúp bạn đọc có được
một cái nhìn cơ bản về các quy định về Hội hiện nay. Điều này có thể giúp chúng
ta có cái nhìn khách quan riêng cho mình khi dự thảo Luật về Hội mới chính thức
được đệ trình lên Quốc hội hay thông qua trong thời gian tới đây.
1. Đạo luật gần 60 năm tuổi: sống cũng như chết
Hiện nay, Sắc lệnh số 102/SL/L004 ngày 20 tháng 5 năm 1957
ban hành Luật quy định quyền lập hội vẫn được xem là văn bản nguồn cơ bản nhất
của hệ thống pháp luật về Hội. Tuy nhiên, văn bản này chỉ mang giá trị hình thức
vì không có nội dung cụ thể nào được áp dụng.
Tiếp đó là Nghị định 45/2010/NĐ-CP, văn bản pháp luật “thực
quyền” quy định về Hội và quản lý nhà nước về Hội hiện nay. Nghị định 45 được sửa
đổi bổ sung bởi Nghị định 33/2012/NĐ-CP cũng như được hướng dẫn bởi một số văn
bản dưới luật khác như Thông tư 03/2012/TT-BNV của Bộ Nội vụ hướng dẫn thi hành
nghị định và Quyết định 68/2010/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ xác định các tổ
chức đặc thù.
2. Nguồn gốc Trung Quốc
Một trong những lập luận thường được sử dụng để phản bác việc
áp dụng mô hình kinh tế, pháp luật nước ngoài tại Việt Nam là mọi thứ phải dựa
trên tình hình thực tế ở địa phương.
Tuy nhiên, Nghị định 45 là một trong những minh chứng cho kiểu
“tiêu chuẩn kép” của nhiều nhà lập pháp Việt Nam. Một mặt, họ cho rằng việc học
hỏi pháp luật nước ngoài phải phù hợp với mô hình kinh tế – xã hội Việt Nam, mặt
khác lại sao chép và sử dụng gần như nguyên bản một văn bản pháp luật nước
ngoài – mà ở đây là Trung Quốc.
Cụ thể hơn, Nghị định 45 hiện nay có thể được xem là bản
copy từ Quyết định của Hội đồng Nhà nước Trung Hoa (State’s Council) quy định về
đăng ký và quản lý nhà nước các tổ chức xã hội (Regulations on the Registration
and Management of Social Organizations). Hai văn bản này tương đồng từ lời mở đầu,
cách loại trừ tổ chức đặc thù, những hoạt động không được thực hiện, hai lớp thủ
tục kiểm soát đăng ký, phương án và điều kiện đặt ra để đăng ký hội, phân hội
theo cấp bậc hành chính địa phương, nội dung chính phải có của điều lệ hay kể cả
cấu trúc của văn bản.
Việt Nam có chung kiến trúc thượng tầng chính trị với Trung
Quốc không đồng nghĩa với việc mô hình quản lý nhà nước, thực trang kinh tế, xã
hội của hai nước cũng tương đồng. Ảnh: Bejing, April 7, 2015 (Xinhua).
3. Yêu cầu… 100 thành viên sáng lập hội
Thông thường, hội được hiểu là nơi sinh hoạt, kết nối, tập hợp
của một nhóm gồm hai công dân trở lên. Cách hiểu này được công nhận ở nhiều nước.
Pháp yêu cầu 2 công dân trở lên thì được đăng ký lập hội, trong khi ở Nga là 3.
Ngay cả tại Trung Quốc, với dân số chiếm 1/7 dân số thế giới, con số này cũng
chỉ là 5o.
Trong khi với Nghị định 45, do cách phân chia hội theo cấp
quản lý hành chính, các hội “quốc gia” phải có đến 100 sáng lập viên ở nhiều tỉnh
thành, với đầy đủ đơn “đăng ký tham gia thành lập hội”. Yêu cầu này đối với các
tổ chức địa phương là 10 sáng lập viên.
Yêu cầu một hội nhóm chưa thành lập chạm đến con số thành
viên 100 rải rác trên nhiều tỉnh thành là một yêu cầu gần như không thể. (Ảnh: Cuộc đình công ở Santa Monica)
Việc đòi hỏi phải có từ 10 đến 100 thành viên sáng lập cho bất
kỳ hội nhóm nào mới thành lập đều tỏ ra bất hợp lý, đặc biệt khi những hội này
còn chưa có hoạt động nào đáng kể.
4. Độc quyền Hội
Dù trong Nghị định 45 không có ghi nhận rõ việc “độc quyền hội”,
kết quả độc quyền luôn tồn tại do quy định giới hạn phạm vi hoạt động, cũng như
quy trình xem xét hội có… “cần thiết” hay không.
Cụ thể, tại Khoản 1, Điều 5, Nghị Định 45, Hội mới thành lập
phải “không trùng lặp về tên gọi và lĩnh vực hoạt động chính với hội đã được
thành lập hợp pháp trước đó trên cùng địa bàn lãnh thổ”.
Với sự tồn tại của Hội Bảo Vệ Quyền Lợi Người Tiêu Dùng Việt
Nam - VINASTAs tại gần như hầu hết các tỉnh thành; theo pháp luật hiện hành,
các hội nhóm nằm trong phạm vi "bảo vệ người tiêu dùng" sẽ không thể
nào được đăng ký mới. Ảnh: vinastas.org
Với sự tồn tại của Hội Bảo vệ Quyền lợi Người tiêu dùng Việt
Nam – VINASTAS tại gần như hầu hết các tỉnh thành, theo pháp luật hiện hành,
các hội nhóm nằm trong phạm vi “bảo vệ người tiêu dùng” sẽ không thể nào được
đăng ký mới. Ảnh: vinastas.org
Điều này, cộng với thực tế có hàng loạt các hội nhóm thân chính
phủ và do chính phủ bảo trợ, từ mang tính chính trị (Hội Nông dân, Liên đoàn
Lao động…) cho đến xã hội – kinh tế thông thường (như Hội bảo vệ người tiêu
dùng, Hiệp hội doanh nghiệp…) khiến cho việc thành lập các hội mới trong cùng
lĩnh vực là bất khả thi.
5. Muốn thành lập hội? Phải thành lập Ban vận động.
Được quy định cụ thể tại Điều 6 của Nghị định 45, pháp luật
Việt Nam hiện nay yêu cầu những cá nhân tổ chức có mong muốn buộc phải thành lập
Ban vận động thành lập hội, trước khi được phép thực hiện các thủ tục thành lập.
Đây là bước mà nhiều học giả trong ngành cho là biện pháp “loại từ vòng gửi xe”
các hội nhóm độc lập tại Việt Nam.
Trước tiên, yêu cầu phải hình thành Ban vận động nghe cũng
phi lý giống như việc phải thành lập Hội đồng quản trị vận động thành lập doanh
nghiệp trước khi thành lập công ty. Thêm vào đó, những thông tin phải cung cấp
trong quy trình thành lập Ban vận động thật ra hoàn toàn trùng khớp hoặc có thể
đưa vào nhóm thủ tục thành lập hội thông thường. Cũng cần kể đến yêu cầu dành
riêng cho thành viên của Ban vận động, vốn lệ thuộc vào ý kiến và sự xem xét chủ
quan của cơ quan quản lý, như “có sức khoẻ và có uy tín trong lĩnh vực hội dự
kiến hoạt động”.
6. Hội của tập thể, hoạt động theo quyết định nhà nước
Có nhiều quy định cho thấy sự lệ thuộc tương đối lớn giữa hoạt
động của Hội và cơ quan quản lý nhà nước, mà rõ nhất là yêu cầu báo cáo kết quả
đại hội hay phê duyệt điều lệ hội. Trong đó, hội sau khi thành lập phải thông
qua đại hội thành lập và phải báo cáo cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền các nội
dung sau:
Điều lệ và biên bản
thông qua điều lệ hội;
Biên bản bầu ban
lãnh đạo, ban kiểm tra (có danh sách kèm theo) và lý lịch người đứng đầu hội;
Chương trình hoạt
động của hội;
Nghị quyết đại hội.
Cùng với đó, điều lệ hội cũng phải được cơ quan nhà nước này
“phê duyệt”.


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét