Hoàng Việt Quốc
Định nghĩ một cách đơn giản, tình trạng vô chính phủ để chỉ
tình trạng không có một quyền lực và luật pháp nào ở trên để giữ sự trật tự và ổn
định cho xã hội. Trong tình trạng vô chính phủ, mỗi cá nhân phải tự bảo vệ cho
chính sự tồn tại của mình. Vì nhu cầu của sự tồn tại, mọi người đều là kẻ thù của
nhau, sàng chém giết lẫn nhau để giành các phương tiện nhằm cho việc phục vu
nhu cầu sinh sống.
Tình trạng này thiếu hẳn sự liên kết giữa các cá nhân với
nhau và không hề có tính đồng lọai tinh thần vì cộng đồng. Đây chính là mức độ
thấp kém của con người, ngang bằng với cuộc sống của các lòai sinh vật khác vì
trong tình trạng vô chính phủ sự sống của chính bản thân là mục đích cao của mỗi
cá nhân.
Dựa trên sự rối lọan của xã hội Việt nam hiện nay và hệ quả
tồi tệ của tệ nạn xã hội diễn ra trên đất nước này thì có thể nói đất nước Việt
Nam hiện đang rơi vào tình trạng vô chính phủ.
Đảng Cộng Sản (ĐCS) hiện giờ, dù hiến pháp Việt Nam hiện
hành quy định sự lãnh đạo tuyệt đối về mọi phương diện, đã hiện ra như là một tầng
lớp cướp bóc với đầy đủ phương tiện. Từ sự kiểm sóat đối với chính phủ, công
an, quân đội và sự độc quyền về mặt kinh tế. sợ hãi cho tồn vong của mình đã
làm cho ĐCS không còn ý thức được và khiến chính quyền độc tài này nhìn người
dân như những kẻ thù cần bị chà đạp thậm chí tiêu diệt.Thứ, ĐCS đã không còn khả
năng đáp ứng những nhu cầu cần thiết cho sự tồn tại của một quốc gia, đó là an
ninh trật tự xã hội và sự an tòan của người dân. Thứ hai, lợi ích quốc gia đã
là điều xa vời của ĐCS. Thay vào đó, mục đích của ĐCS hiện giờ chỉ là duy trì sự
tồn tại của chính bản thân mình càng lâu càng tốt. Đây chính là biểu hiện rõ
ràng của các cá thể sống dưới tình trạng vô chính phủ. Sự khác biệt duy giữa một
kẻ cướp bình thường và ĐCS chỉ có thể là ĐCS thực hiện việc cướp bóc một cách
công khai trong những họat động thường ngày của chúng ít một sự kháng cự mãnh
liệt nào từ xã hội nhiều phương tiện hơn cho việc cướp bóc tài sản của người
dân.
Nhìn chung nguồn gốc của sự bất công và lọan lạc trong xã hội
Việt Nam chủ yếu xuất phát từ sự lãnh đạo tuyết đối về mọi mặt của ĐCS sự bóp
nghẹt sức sống của xã hội như là hệ quả của việc độc quyền lãnh đạo này.
Mọi nguồn lực, thay vì để tập trung vào việc phát triển đất
nước và xây dựng phúc lợi cho người dân, đã được sử dụng để duy trì sự tồn tại
của ĐCS, một lực lượng dù tự cho phép mình quyền lãnh đạo đất nước nhưng lại
bao gồm những kẻ cướp bóc mất nhân tính và lo cho sự an nguy của bản thân hơn
những khác. Tình trạng tham nhũng ở Việt Nam đã vượt lên trên bản chất như là một
vấn nạn và sự yếu kém của hệ thống chính trị mà nay đã trở thành một phương
cách để các thành phần trong ĐCS cùng nhau duy trì sự sống của chính mình trên
sự chịu đựng và bần cùng của người dân. Tập quán tham nhũng đã ăn sâu vào chính
quyền trung ương đến địa phương. Những viện trợ và vay từ nước ngòai, khi vào
Việt Nam, đều đã không được sử dụng để đầu tư vào cơ sở hạ tầng, cải thiện phúc
lợi của người dân và phát triển các ngành công nghiệp dịch vụ. Thay vào đó, những
khỏan viện trợ và vay từ nước ngoài để nuôi cho sự họat động của một bộ máy
công quyền cồng kềnh. Tiền từ nước ngòai qua hệ thống bộ máy quan liêu và đến
tay nhà thầu chịu trách nhiệm cho các dự án dùng để "vỗ béo" cho hệ
thống hành chính này. Nhật Bản, vốn là nước cung cấp khỏan vay viện trợ ODA cho
Việt Nam nhiều , cũng đã phải ngán ngẩm về tình trạng tham nhũng không điểm dừng
ở Việt Nam khi thông tin về việc tham nhũng vốn ODA, vốn dùng để hỗ trợ trong
việc để đầu tư vào dự án đường sắt, bị phát. Ngòai ra còn dự án khác, từ trung
ương đến địa phương, đều là cơ hội cho chính quyền chiếm lấy những tiền khổng lồ
để nuôi lấy cái sinh mạng của chính nó trong khi người nhân dường như không nhận
được bất cứ sự hỗ trợ về mặt kinh tế, giáo dục hay y tế từ những đồng tiền thuế
đóng để nuôi chính quyền.
Tâm lý giành sự sống cũng được biểu hiện rất rõ trong mối
quan hệ giữa chính quyền và người dân. Trong mắt của ĐCS luôn coi người dân Việt
Nam là những kẻ có thể cướp lấy sự sống của chính mình. ĐCS luôn xem người dân
là những thành phần có tiềm năng phản lọan và cần phải được dạy dỗ để thể hiện
sự trung thành đối với chúng.Từ tâm lý này có thể phán xét rằng ĐCS sẽ không
khước từ quyền lực mà nó đã sử dụng để bảo đảm sự tồn tại của nó trên trên
chính xương máu và thể xác của người dân. Biểu hiện rõ của việc đàn áp người
dân và duy trì sự quyền lãnh đạo đất chính là việc từ chối cho người dân có những
quyền tự do chính tự do dân sự thẳng tay đàn áp những đứng lên đấu tranh tự do,
dù rằng những quyền này đã được thế giới công nhận như những quyền phổ quát của
người. Chúng ta còn có thể thấy tâm lý tranh giành sự sống của ĐCS khi chính
quyền rắp tâm cướp đất và nhà cửa của người dân. Sẽ là điều không thể khi một bộ
máy quan liêu trải dài từ trung ương đến địa phương tiêu thu tòan bộ nguồn lực
để cho bản thân nó tồn tại mà quyền lợi và cuộc sống của người dân bị chà đạp.
Từ năm 1975 khi ĐCS đã giành quyền lãnh đạo trên tòan lãnh thổ VN đã có biết
bao nhiêu người mất nhà cửa và đất đai. Cái điều "đất đai sở hữu tòan
dân" như là một cái cớ để ĐCS thực hành hành vi cưỡng chế đât đai và nhà cửa
của người dân. Từ lúc mở cửa kinh tế, dã tâm duy trì quyền lực để tồn tại đã
thúc ép chính quyền cấu kết với những doanh nghiệp chiếm đọat đất đai của người
dân, mà trong những vụ này chính quyền đều đã nhận dược những chi phí "bôi
trơn" không lồ từ doanh nghiệp.
Một khi cấp lãnh đạo đều mang tâm lý sợ hãi, "ham sống
sợ chết" và tìm mọi cách đàn áp những thế lực,thành phần khác có khả năng
cạnh tranh quyền lực với ĐCS thì cũng chính là lúc chính quyền này đã rời xa những
vai trò đúng đắn của một chính quyền và tham gia vào việc chém giết lẫn nhau để
có thể duy trì sự sống nhỏ nhoi của chính mình. Vì vậy, những vụ bạo lực, chém
giết nhau và sự đối xử thiếu nhân tính giữa người với người trong XH Việt Nam
cũng chỉ là những biểu hiện của sự vô chính phủ ở Việt Nam và là hệ quả của sự
mất niềm tin vào luật pháp và quyền lãnh đạo của ĐCS. Trong mắt con người Việt
Nam hiện nay, luật pháp cũng chỉ là công cụ cho ĐCS cương lĩnh hóa những ý đồ
giữ quyền lãnh đạo và thâu tóm mọi nguồn lực để dành riêng cho sự tiêu thụ của
chính nó. Thiếu hẳn pháp luật và một quyền lực thực sự để giữ gìn trật tự và ổn
định trong xã hội thì bản năng sinh tồn của người dân cũng được bật lên như là
một cơ chế bảo vệ tính mạng của cá nhân trước các mối đe dọa tiềm ẩn bên ngòai.
Chính điều đã làm gia tăng tính bạo lực trong xã hội và làm tệ hại hơn sự mất
nhân tính của con người Việt Nam. Hằng ngày báo, chúng ta có thể biết được những
vụ chém giết giữa bạn bè với nhau hay giữa gia đình với nhau chỉ vì những lý do
rất nhỏ nhặt. Con có thể giết cha mẹ để lấy tiền hay là một người đàn ông có thể
ra tay giết bạn gái chỉ vi chuyện sứt mẻ trong tình cảm. Hay gần đây nhứt có những
vụ tai nạn giao thông khi mà dù cho người bị nạn vẫn cố gắng nài nỉ van xin tài
xế xe tải đừng cán qua nhưng vì nghĩ đến chi phí lo đám tang cho người chết sẽ
thấp hơn lo viện phí cho một nguời bị thương những tên tài xế nhẫn tâm chết nạn
nhân. Hay những vụ cả làng sẵn sàng đập chết một vài kẻ giết chó chỉ vì một số
người trong làng này bị mất chó. Một người nước ngòai khi nhìn vào đất nước Việt
Nam có thể sẽ cảm thấy ghê tởm, sợ hãi tột độ va không ngừng thắc mắc rằng tại
sao con người lại có thể sử dụng phương thức hành xử của lòai thú vật để giải
quyết các xung đột lẫn nhau. Nhưng làm thế nào để có được sự nhân bản trong
cách hành xử của con người Việt Nam khi niềm tin của người dân vào pháp luật đã
biến mất, khi quyền lợi của họ đã bị chà đạp bởi nhà cầm quyền và những điều
tuyệt vọng này đã khiến họ bế tắc khi giải quyết những mâu thuẩn trong cuộc sống?
Điều tồi tệ hơn là cái tâm lý giành sự sống cũng đã ăn sâu
vào thế hệ trẻ. Ngày nay, tình trạng bạo lực học đường càng ngày càng gia tăng.
Một khi các bậc cha mẹ điều đã quen với thói sử dụng vũ lực để giải quyết vấn đề
thì những đứa trẻ học theo cái lề lối này cũng là điều chắc chắn sẽ xảy ra. Nếu
như tâm lý bế tắc và dùng bạo lực này để giải quyết thấm dần từ thế hệ này qua
thế hệ kia thì chưa cần đến ngọai xâm, nước Việt Nam có khả năng sẽ tan vỡ
trong bạo lực và hỗn lọan do sự leo thang của xung đột từ bên trong đất nước.
Nguồn gốc của tình trạng vô chính phủ
Triết lý về sự vô chính phủ bắt nguồn từ nhà triết gia
Thomas Hobbes. Vào thế kỷ 16 khi nước đứng trước sự xâm lược của Tây Ban Nha, cả
quốc gia đã chìm trong sợ hãi. Nhưng cũng từ đó tác phẩm triết học "Con
Quái Vật Của Địa Ngục" (Levathian) của Hobbes đã ra đời như là một sự cảnh
tỉnh cho một trạng thái tự nhiên đầy hỗn lọan và điều cần thiết của một nhà nước
dựa trên nền tảng trật tự và luật pháp cứng rắn. Trong trạng thái tự nhiên, khi
không có một chính thể nào đứng trên để áp đặt sự trật tự và ổn định cho xã hội
thì chắc chắn "sẽ xảy ra tình trạng hỗn lọan, giống như nhất định sau một
ngày trong xanh sẽ là tối mịt mù vậy. Và khi đó mọi công dân bình thường sẽ phải
sống cả đời như một lòai vật bị săn đuổi, luôn phải tìm cách để tránh cái chết
rình rập. Cuộc sống sẽ trở thành "xấu xa, tàn bạo và ngắn ngủi trong một
xã hội mà mọi người chống lọai mọi người giống như đang có chiến tranh."
Sau này, lý luận của tình trạng vô chính phủ đã được phát
triển thêm bởi hai nhà chính trị học Waltz và Mearsheimer. Từ đó, tình trạng vô
chính phủ đã được gán cho một cái tên là "góc nhìn thực tiễn"
(realism). Tuy nhiên, thực chất là ngày nay góc nhìn thực tiễn dùng để chỉ cấu
trúc của chính trường quốc tế. Đó là tình trạng không có một quyền lực nào đứng
trên quyền lực của chính phủ của các quốc gia để có thể ngăn cản các quốc gia
đi tới chiến tranh như là một phương thức để giải quyết xung đột. Chính vì
không có một định chế nào đứng trên các quốc gia và có thực quyền duy trì an
ninh và hòa bình quốc tế, các quốc gia phải tự nâng cao sức phòng vệ của chính
mình (ở đây là gia tăng đầu tư quân sự). Nhưng chính vì sự nghi ngờ lẫn nhau và
tâm lý phòng vệ, sự gia tăng quân sự của một nước này chính là mối đe dọa thường
trực đối với những nuớc kia. Sự chạy đua vũ trang và xung đột quân sự giữa các
quốc gia chính là hệ quả của sự nghi ngờ hành động giữa các nước với nhau và nỗi
sợ hại về khả năng bị tấn công dưới tình trạng vô chính phủ. Vì vậy, lịch thế
giới đã chứng kiến hàng lọat các xung đột giữa các quốc gia qua từng thế kỷ,
hai lần chiến tranh thế giới và chiến tranh lạnh trong TK 20. Ngày nay tình trạng
xung đột giữa các quốc gia vẫn còn tồn tại dù cho đã có những định chế và tổ chức
quốc tế như là Liên Hiệp Quốc và luật pháp quốc tế. Chừng khi nào chưa có một
thể chế đứng trên các chính phủ quốc gia thì vẫn còn tiềm ẩn sự xung đột về lợi
ích giữa các quốc gia.
Tuy nhiên, đó là chính trị ở tầm quốc tế. Còn ngày nay, đa số
các quốc gia không phải trải qua tình trạng vô chính phủ vì sự hiệu quả của luật
pháp ở những nước này trong việc bảo vệ lới ích cho người dân. Có thể nói tình
trạng vô chính phủ đối với con người chỉ có thể xuất hiện ở hai tình trạng của
xã hội như sau:
1. Khi xã hội con người còn sơ khai. Khi đó con người chưa đủ
phương tiện để có thể tổ chức thành những cộng đồng, những nhóm để cùng họat động
và chung sống với nhau. Trong tình trạng này, thì bức tranh mà Hobbes vẽ ra về
điều kiện tự nhiên hòan tòan trùng khớp. Đó là chiến tranh của mọi người chống
lại mọi người để bảo vệ sự tồn tại của bản thân.
2. Khi môt chế độ độc tài đã đi đến hồi cáo chung. Có lẽ xã
hội ngày nay không còn điều nào tệ hơn bằng tình trạng của một xã hội lọan lạc
trước giờ phút sụp đổ của các chế độ độc tài. Trong suốt quá trình cai trị, các
chế độ độc tài đã tập trung đa phần các nguồn lực chỉ để trấn áp sự phản kháng
của người dân và nuôi bộ máy chính quyền kéo dài sự độc quyền lãnh đạo. Theo
cách này, tập đòan cầm quyền đã biến chất trở thành những kẻ mất nhân tính và sẵn
sàng cướp bóc hết các nguồn lực để phát triển đất nước, và giết chết tiềm năng
phát triển của cả quốc gia để đổi lấy sự tồn tại như "một xác chết biết
đi" của chế độ độc tài. An trật tự của xã hội không phải là mục tiêu của
các chế độ độc tài mà chính là việc duy trì sự tồn tại của chế độ mới là vấn đề
sống chết của tập đòan lãnh đạo. Do vậy dưới sự cai trị của các chế độ độc tài
bạo lực sẽ là luật chơi cho cả đất nước, ở đó kẻ mạnh thì sẽ thắng còn kẻ yếu
hơn thì sẽ bị tiêu diệt. Và tình trạng bạo lực sẽ kép dài đến khi chế độ không
còn nguồn lực để tiêu thụ nữa thì cũng là lúc cả đất nước sẽ rơi vào vòng lẩng
quẩn của tình trạng vô chính phủ và sẽ vỡ ra trong bạo lực và hỗn lọan.
Điều đáng nguy cấp là tình trạng Việt nam hiện giờ lại diễn
ra đúng như tình trạng thứ hai vừa nêu trên. Sự hỗn lọan và bạo lực và phương
thức dùng vũ lực để bảo vệ lợi ích của mình từ phía người dân và cả nhà cầm quyền
chính là những đặc tính cho tình trạng giai đọan cuối của chế độ độc tài và nếu
tiếp tục có thể dẫn đến sự vỡ tung của xã hội. Bức tranh của Thomas Hobbes về
"cuộc sống sẽ trở thành xấu xa, tàn bạo và ngắn ngủi" phản ánh rất
chân thực về tình trạng xã hội Việt Nam hiện nay
Chấm dứt tình trạng vô chính phủ: Sự quay trở lại đúng vai
trò của nhà nước và sự nới rộng không gian họat động cho các cá nhân và xã hội
ngòai chính quyền
Điều tôi hy vọng bạn đọc rút ra từ bài viết này đó chính là
nhận ra được tình trạng hỗn lọan ở Việt Nam và biết được mô thức về nền chính
trị và xã hội để chấm dứt tình trạng vô chính phủ, xây dựng lại sự an tòan và ổn
định cho xã hội và bảo đảm và tạo dựng được sự phát triển về mặt xã hội (con
người, văn hóa, giáo dục, y tế,...) và kinh tế (tăng trưởng, phúc lợi xã hội và
thu nhập và điều kiện sống được nâng cao).
Ở hai phần trước tôi đã trình bày tường tận về những nguyên
do và hệ quả của tình trạng vô chính phủ và những tương lai có thể dự báo trước
của xã hội Việt Nam nên trong phần này tôi sẽ trình bày về một mô thức tốt nhứt
để có thể chấm dứt tình trạng của Việt Nam hiện nay.
Nếu như vào thời của Hobbes, ông mong mỏi xã hội hay đất nước
có được "trùm cảnh sát đầy quyền uy-Ngài Trật Tự và Pháp Luật" để đem
lại an ninh trật tự thì vào ngày nay xã hội lại không cần một thế lực quyền lực
hay một ông vua như thế. Khi con người chịu sự lệ thuộc và sai khiến từ nhà nước
với quyền lực tuyệt đối thì sự đổ máu của người dân cho sự tồn vong của nhà nước
với cái cớ là ổn định và trật tự cho xã hội là điều sớm muộn gì sẽ xảy ra. Với
quyền lực tuyệt đối nhà nuớc sẽ nhân danh vì lợi ích quốc gia để giết hại dân
chủng hay là lùa họ vào những cuộc chiến tranh, gây hao tổn sinh mạng cho người
dân. Kinh nghiệm của lịch sự thế giới về hai cuộc chiến tranh thế giới đã chứng
minh điểm này. Cai trị bằng bạo lực và sự căm hờn sẽ dẫn đến sự hổn lọan và sự
vỡ tung của xã hội trong bạo lực, đó chính là tình trang vô chính phủ.
Do vậy chính tình trạng hỗn lọan và sự hòanh hòanh của bạo lực
ở Việt Nam hiện giờ phải càng làm cho chúng ta ý thức được rằng vai trò của nhà
nước cần phải thu nhỏ lại, nhấn mạnh vào việc tạo điều kện cho các cá nhân và
xã hội tự làm giàu và tự phát triển, chứ không phải áp đặt các hướng đi mà xã hội
cần phải theo. Vai trò của nhà nước chỉ có thể là: duy trì an ninh và trật tự
cho xã hội, bảo vệ đất nước khỏi các mối đe dọa từ bên ngòai và giải quyết các
kiện tụng và tranh chấp giữa các cá nhân.
Về luật pháp, người dân chỉ tin vào luật pháp được thi hành
bởi nhà nước khi luật pháp đó thực sự giúp bảo vệ quyền lợi của người dân chứ
không phải bảo đảm đặc quyền đặc lợi của phe cầm quyền. Luật pháp do nhà nước sọan
thảo tứt nhiên phải thể hiện ý chí của người dân trong đó. Và điều này chỉ được
thực thi khi có một thực thể đầy quyền lực và nằm ngoài nhà nước, đó là sự kết
hợp của các cá nhân xã hội. Các kết hợp trong xã hội sẽ tạo ra nguồn động lực
buộc luật pháp của nhà nước phải phản ánh đúng quyền lợi của xã hội. Ví dụ luật
về kinh tế phải bảo đảm rằng các doanh nghiệp được phép họat động tự do và
không chịu sức ép từ nhà nước trừ phi hành động của doanh nghiệp gây hại đối với
đất nước, nền kinh tế và người tiêu dùng, luật pháp phải ngăn chặn nạn độc quyền,
không quy định sự dài dòng về giấy tờ để cho doanh nghiệp có cơ hội họat động
càng nhanh càng tốt và phải quy định sự giới hạn của nhà nước đối với các họat
động kinh tế. Pháp luật mà tạo được điều kiện cho sự phát triển của xã hội,
nâng cao chất lượng sống của người dân thì đó mới chính là sự bảo đảm ổn định
và trật tự của xã hội vì các thành phần trong xã hội cảm thấy đều được có quyền
lợi khi sống dưới pháp luật do nhà nước thi hành và không có lý do gì để mang
tâm lý giành giật sự sống.
Hơn thế nữa, một bộ máy quan liêu cồng kềnh với nhiều chức vụ
và lãnh đạo tòan diện đối với xã hội sẽ đè bẹp ý chí và tiếng nói của cá nhân.
Trong hệ thống cấu trúc phức tạp của bộ máy nhà nước như thế này, mọi cá nhân
chí có một cách để mưu cầu cuộc sống tốt đẹp: đó là kéo dài sự sống của hệ thống.
Khi cá nhân đó đứng ngòai chính phủ thì chỉ sẽ cảm nhận thấy sự bất lực. Sự bất
công xã hội sẽ càng ngày càng dâng cao khi những kẻ trung thành với chệ độ lại
được cơ cấu vào bộ máy và hưởng một cuộc sống sung túc trong khi những người
mang tư tưởng cấp tiến, đặc quyền lợi của người dân lên trên thì bị lọai khỏi
việc đưa ra các quyết định mang tính chính trị trị và có ảnh hưởng đến tất cả
người dân thì bị lọai ra hoặc là thủ tiêu. Do vậy, để ngăn chặn sự bất công,
nhiệm vụ của nhà nước phải là nâng đỡ những cá nhân, những người kỳ tài có tấm
lòng với quốc gia và nhân dân. Nhà nước phải tạo điều kiện và không gian để cho
các cá nhân có thể thể hiện tài năng và sự thông minh của chính mình, phải nhìn
nhận những điều này như là những tiềm năng của đất nước chứ không phải là những
mầm móng cần phải tiêu diệt.
Ngạn ngữ của chúng ta có câu "dân giàu nước mạnh",
điều đó biểu hiện rất đúng việc khi nào các cá nhân trong xã hội thỏai mái và
hài lòng với điều kiện sống và sự tự do của mình thì lúc đó nhà nước mới còn giữ
được khế ước mà người dân đã trao cho mình, bảo đảm được sự ổn định và phồn thịnh
của quốc gia và ngăn chặn khả năng quay lại tình trạng vô chính phủ.
Nguồn:
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét