Cao Huy Huân
Không dưới chục người tâm sự với tôi, kể cho tôi nghe về những
ngày tháng sau chiến tranh. Họ ra nước ngoài sống vài thập kỷ, nhưng những kỷ
niệm về quê hương vẫn theo họ đến suốt cuộc đời. (Ảnh minh họa)
Vài hôm trước tôi đọc thấy thông tin về người Việt lại âm thầm
kéo nhau sang nước ngoài. Theo số liệu của Tổ chức Di cư Quốc tế và Vụ Liên Hiệp
Quốc về Vấn đề Kinh tế và Xã hội của Liên Hiệp Quốc, từ năm 1990 đến năm 2015
đã có hơn 2,5 triệu người Việt Nam di cư ra nước ngoài. Như vậy, trung bình mỗi
năm có khoảng 100.000 người Việt bỏ nước ra đi. Đây là những con số làm người
ta đau lòng, không phải vì nó lớn mà vì nó cho thấy dường như nỗi lo của người
dân ngày càng tăng.
Tôi từng đi đây đi đó rất nhiều, gặp gỡ không ít kiều bào.
Điều khiến tôi bất ngờ là càng đi xa, những người Việt này càng nhớ và hướng về
Việt Nam. Có người mỗi ngày đều xem kênh truyền hình Việt, theo dõi thông tin về
đời sống - xã hội - con người ở quê hương. Họ khắc khoải với những ký ức, hoài
niệm và cả những câu chuyện dài lê thê về bản thân và đất nước.
Nếu có ai hỏi họ “bạn có yêu đất nước Việt Nam không?”, tôi
tin chắc họ sẽ không ngại ngùng khẳng định: “Có”. Bởi nơi đó có ông bà tổ tiên,
những ngôi mộ xa nhà cỏ xanh che khuất mà có khi đôi ba năm họ mới về thắp được
nén nhang. Bởi nơi họ từng chôn nhau cắt rốn nay chỉ vỏn vẹn trên vài ba trang
giấy báo hay trên một đoạn tin tức truyền hình. Những “hóa thạch ngoại biên” mà
những Việt kiều còn giữ sẽ cho quý vị cảm giác về sự day dứt khi họ rời xa quê
hương, chỉ vì những nỗi sợ hãi và niềm tin bất định.
Không dưới chục người tâm sự với tôi, kể cho tôi nghe về những
ngày tháng sau chiến tranh. Họ ra nước ngoài sống vài thập kỷ, nhưng những kỷ
niệm về quê hương vẫn theo họ đến suốt cuộc đời. Tôi hỏi: “Thế ông (bà) sẽ về
Việt Nam chứ?” Nhiều người bảo về chơi chứ không ở, vì ở cũng không thấy an
tâm. Họ nói nhiều với tôi về những bất an của họ, theo một khái niệm mà bà Nguyễn
Phương Mai, Phó Giáo Sư Tiến sĩ chuyên ngành giao tiếp và quản trị đa văn hóa,
hiện đang giảng dạy tại Đại học Khoa học Ứng dụng Amsterdam, Hà Lan, đưa ra và
được đón nhận nồng nhiệt: “Tị nạn niềm tin”.
Đã có quá nhiều câu chuyện khiến những người Việt bên kia đại
dương khi nhìn về đất nước cảm thấy bất an. Những án tù oan kéo dài hàng thập kỷ,
làm chấn động ngành tư pháp; những vụ ẩu đả, xô xát giữa cảnh sát và quần chúng
nhân dân, để rồi kẻ ra tay đấm vào mặt một nhà báo vô tội lại được cấp trên
khéo léo chơi chữ “gạt tay trúng má”; những vụ bê bối, tham nhũng vỡ lỡ khiến
người dân choáng váng nhận ra rằng bấy lâu nay họ đóng thuế để nuôi những gia
đình từ ông cha đến con cháu làm quan, để rồi núi nợ công cứ cao thêm từng ngày
mà thế hệ con cháu họ phải tiếp tục cày sâu cuốc bẩm để trả; hay những vùng biển
đang chết vì những doanh nghiệp như Formosa và sự thiếu quyết đoán trong khâu
quản lý khiến hàng ngàn người lao đao, nhưng đơn kiện thì bị tòa trả lại. Rồi
nào là thực phẩm bẩn tràn lan, y tế yếu kém, giáo dục thì, than ôi, bằng cấp
cao ngất trời nhưng không biết bao nhiêu người thất nghiệp.
Không ít kiều bào muốn trở về sinh sống, lập nghiệp trên
chính mảnh đất quê hương mình để họ gần lại gia đình. Cuộc sống họ phải ngụp lặn
giữa hai bờ đại dương, một bên là đấu tranh vì bản thân còn bên kia chính là
gia đình, quê hương của họ. Nhưng môi trường nhiều bất ổn, pháp luật còn chưa đủ
tạo niềm tin, nạn tham nhũng vẫn là bài toán nan giải, và ngay cả bữa cơm họ ăn
hàng ngày mà chính họ cũng khó chắc chắn có bị nhiễm độc hay không, thì họ biết
dựa vào đâu để tìm về quê hương? Đến lúc gần nhắm mắt xuôi tay, khi sinh mạng
không còn quan trọng bằng tình cảm con người, họ buộc phải trở về để được nằm
xuống trên chính mảnh đất quê hương cùng với những hoài niệm đẹp, đưa những đau
thương, mất mát, lo toan và cả những chuyện lợi danh vào dĩ vãng. Nhưng than ôi,
người nằm xuống rồi thì không còn gì phải lo lắng và nghĩ ngợi, nhưng kẻ sống
thì vẫn phải sống tiếp một cuộc đời ngụp lặn.
Giới trẻ của chúng tôi, những người sinh ra thời hội nhập,
chỉ cảm nhận lịch sử qua sách vở và lời kể của ông bà, càng dễ dàng vị tha với
quê hương mình. Nhưng với chúng tôi, sống là nhìn về phía tương lai. Dẫu vậy với
chúng tôi cũng vô cùng gian khó. Biết bao nhiêu người tốt nghiệp đại học rồi thất
vọng vì bị xã hội lãng quên; thất vọng vì tấm bằng trên tay và những ước mơ của
mình đều dừng lại, lung lay và tan vỡ; thất vọng vì xung quanh mình sao vẫn còn
quá nhiều bất công mà ngay cả một đứa trẻ phương Tây cũng nhận ra: quyền được học
hành tử tế, được đối xử công bằng, được cạnh tranh và tuyển dụng minh bạch,
lành mạnh... Thế nên lắm kẻ tha phương, bỏ tấm bằng đại học lại quê hương để
sang xứ người làm công việc vụn vặt. Ừ, thì thà làm việc chân tay mà có nhiều
tiền, được hưởng phúc lợi tốt và được đối xử công bằng trong môi trường lành mạnh,
hơn là lây lất với tấm bằng đại học trong một hệ thống giáo dục quá khó lường,
quá nhiều bất trắc và bất định.
Tôi rảo bước cùng một người ngấp nghé 60 tuổi. Ông tha
phương đã lâu ngày, nhìn tôi ông bảo: “Một ngày nào đó, lúc gần đất xa trời bác
sẽ về lại quê hương để nghe mùi đồng nội”. Tôi biết ông nhớ quê nhà, nhớ cả những
nấm mồ lâu ngày vắng khói hương và vài cành hoa nhỏ. Ông sắp xong cuộc rong
chơi của đời ông, nên cũng không đắn đo nhiều về niềm tin về miền đất mẹ đẻ.
Nhưng những người trẻ như tôi, vẫn mệt nhoài giữa đôi bờ ngụp lặn, thì biết đến
bao giờ quê cha đất tổ mới cho chúng tôi lại những niềm tin để quay về?
Nguồn:

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét