
Hòa Thượng Thích Không Tánh đứng tại chỗ trước đây không lâu
là chùa Liên Trì. (Hình: Blog anhbasam)
Theo tin của BBC, sau nhiều tháng tạm hoãn, chùa Liên Trì tại
Sài Gòn bị chính quyền “cưỡng chế” hôm 8 Tháng Chín. Nhưng “cưỡng chế” là gì? Theo quan điểm của nhà nước Cộng Sản, cưỡng chế là một tính
chất cơ bản của pháp luật. Tính chất cưỡng chế làm cho pháp luật khác với đạo đức
và phong tục. Theo Lenin thì pháp luật sẽ không còn là gì nữa “nếu không có một
bộ máy có đủ sức cưỡng bức người ta tuân theo những tiêu chuẩn của pháp quyền
thì pháp quyền có cũng như không.”
“Các quy tắc đạo đức, phong tục được con người tuân thủ, chủ
yếu nhờ vào sự tự giác, lòng tin, trình độ hiểu biết và lên án của xã hội; còn
quy phạm pháp luật được nhà nước bảo đảm thi hành, nếu ai không chấp hành thì
nhà nước cưỡng chế thi hành.”
“Sự cưỡng chế của pháp luật không phải đơn thuần nhằm mục
đích trừng trị mà trước hết là răn đe, ngăn chặn những hành vi vi phạm pháp luật,
giáo dục người vi phạm. Sự cưỡng chế ở đây được thực hiện trên cơ sở pháp luật,
trong khuôn khổ pháp luật, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành. Nhà nước
XHCN không thừa nhận các hành vi bạo lực trái với pháp luật trong việc xử lý
các vi phạm pháp luật.”
“Tính chất cưỡng chế của pháp luật không chỉ là răn đe, ngăn
chặn, trừng trị, mà còn là sự giáo dục sâu sắc đối với các chủ thể pháp luật. Bản
thân quy phạm pháp luật là chuẩn mực để con người rèn luyện ý thức công dân,
hình thành ý thức pháp luật, tạo ra cho mỗi công dân một khả năng tư duy pháp
lý, tránh được những ngẫu nhiên, tùy tiện, coi thường pháp luật nhà nước.”
Luật cưỡng chế có nói đến cưỡng chế tài sản, tiền bạc nhưng
hiện nay tại Việt Nam, những vụ cưỡng chế đất là chủ yếu, vì “đất là vàng!”
Chúng ta đã nghe nhiều vụ cưỡng chế (tịch thu) đất đai nổi
tiếng như vụ Đoàn Văn Vươn ở Hải Phòng; Vương Quang Hiển ở Hà Nội; Nguyễn Thành
Thiện ở Sài Gòn; Cấn Thị Thêu ở Hải Dương; hai mẹ con bà Phạm Thị Lài ở Hưng
Phú, Cái Răng, Cần Thơ trần truồng chống cưỡng chế; cưỡng chế đất ở Bình Phước,
dân và công an cùng đổ máu; xe ủi đất cán qua người dân chống lại cưỡng chế;
Văn Giang có hàng nghìn nông dân “liều chết giữ đất cưỡng chế” đất; tại huyện
Thạnh Hóa, tỉnh Long An, Cộng Sản đưa ra xét xử và bỏ tù 12 người dân. Trên
toàn cõi Việt Nam, có hàng trăm nghìn gia đình nông dân trắng tay vì chính quyền
cưỡng chế đất đai, trở thành “dân oan,” cơm đùm gạo bới, biểu tình, khiếu nại,
kêu oan, nhưng chẳng đi đến đâu trước bạo quyền với dùi cui, súng điện, chó
săn…
Bà Lê Hiền Đức, một người tham gia đấu tranh chống tham
nhũng tại Việt Nam và được Tổ Chức Minh Bạch Quốc Tế trao giải Liêm Chính năm
2007, vừa qua cũng tiếp xúc với những người khiếu kiện đất đai từ các tỉnh về
trung ương, đưa ra nhận xét sau khi nghiên cứu trường hợp của bà con: “Tất cả
nhân dân đều bị ‘cướp’ đất, tôi không dùng từ thu hồi, vì đâu phải cho mượn mà
thu hồi. Không ai được quyền dùng từ ‘giải phóng mặt bằng’ nếu đất dân không đồng
ý. Dân đã kéo lên từng đoàn người thì có nghĩa quyền lợi họ giống nhau, với
tinh thần đất đai họ sử dụng mấy chục năm nay và đổ ra trên đó bao nhiêu mồ
hôi, nước mắt.”
Như vậy ngoài lý do “giải toả mặt bằng” để dùng đất vào việc
có lợi cho chính quyền, chùa Liên Trì bị cưỡng chế có thể còn do những chuyện
khác. Phía Hội Đồng Liên Tôn ở Việt Nam cho rằng: “Việc giải tỏa chùa Liên Trì
của nhà cầm quyền đã có dự tính từ lâu nhằm triệt hạ những cơ sở tôn giáo độc lập
không chịu nằm dưới sự kiểm soát của chính quyền. Có thể một trong những lý do
khiến chính quyền tìm mọi cách cưỡng chế, giải tỏa chùa là vì lâu nay vẫn diễn
ra các hoạt động ‘ngoài luồng’ như phát quà cho thương phế binh của chế độ cũ,
trợ giúp dân oan mất đất hay họp mặt các cựu tù chính trị hoặc các hội đoàn xã
hội dân sự.”
Tuy nhiên, phía chính quyền cũng cho hay, ngoài chùa Liên
Trì còn có hai cơ sở của Công Giáo là nhà thờ Thủ Thiêm và tu viện Mến Thánh
giá cũng nằm trong “diện” bị giải tỏa ở khu vực này.
Sau khi chùa Liên Trì bị giải toả, cả thế giới tự do đã biểu
tình, thắp nến đồng tình với sự tổn thất này và lên án chính sách đàn áp tôn
giáo của Cộng Sản Việt Nam ở trong nước.
Chính Hòa Thượng Thích Quảng Thanh, chủ tịch Hội Đồng Điều
Hành Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Trên Thế Giới, trong phần phát biểu, bày tỏ sự
phản kháng CSVN đã phá bỏ chùa Liên Trì. Hòa thượng khuyên “đồng bào Phật tử
hãy giữ vững niềm tin và không sợ hãi để đấu tranh cho tự do tôn giáo, nhân quyền
và toàn vẹn lãnh hải lãnh thổ Việt Nam.”
Đó chính là cái dũng của Phật Giáo.
Hình ảnh Hòa Thượng Thích Không Tánh, viện chủ chùa Liên
Trì, đứng khóc trên cảnh hoang tàn, được loan truyền đi khắp thế giới, theo
tôi, đó là một hình ảnh phản cảm, đem lại cho tôi chút suy nghĩ và tôi hoàn
toàn không đồng ý với thái độ này. Trong thời gian này, cả chục nghìn người dân
Hà Tĩnh, khí thế sôi sục đang xuống đường chống cường quyền, thì nơi này, thầy
đang đứng khóc lặng lẽ một mình! Thầy có khóc than thì chúng cũng không trả lại
chùa cho thầy, và nếu một khi chúng muốn giết thầy thì thầy có van xin, lạy lục
chúng vẫn giết!
Chủ đề bi trí dũng của Phật Giáo được rút ra từ đại hùng, đại
lực, đại từ bi. Bi là sự rung động trước nỗi khổ của người khác. Đức Phật là
người đã thành tựu đầy đủ công đức, đem vui, cứu khổ cho chúng sanh. Ngài đã từ
bỏ hạnh phúc thế gian để tìm ra đạo giải thoát. Ngài đã từng chịu đựng nhiều
gian lao, khổ ải mà không bao giờ thoái thác, lùi bước. Như vậy trong bi phải
có trí, có dũng. Người Phật tử sống theo châm ngôn bi không thể thản nhiên trước
nỗi khổ của người khác, kể cả loài vật. Trí là sự sáng suốt, hiểu chính xác mọi
nguyên lý trong vũ trụ. Dũng là sự can đảm, tinh tấn, không yếu đuối, sợ sệt,
không ngại khó khăn. Người Phật tử phải luôn kiên trì để thắng mọi thử thách,
vượt qua bao chướng ngại để tiến đến giác ngộ.
Đời tôi, chưa bao giờ thấy cảnh tượng một ông thầy ngồi
khóc, dù là trước cảnh một ngôi chùa đổ nát! Cảnh tượng đó sẽ làm cho chính quyền
cảm thấy sự hả hê của một phe chiến thắng, và cho họ thấy rõ sự yếu đuối vô
cùng của một “đối thủ,” người gọi là “lãnh đạo” tinh thần của hàng Phật tử. Rồi
đây, ai sẽ đủ sức mạnh, tự tin và vững vàng trí tuệ để dắt đường đưa lối cho
thiện nam, tín nữ.
Chùa bị giật sập, chúng ta sẽ xây dựng một ngôi chùa khác,
mà dù không có chùa, đạo pháp vẫn vững vàng như Thái Sơn, ngọt ngào tinh tấn
như suối nguồn, cớ sao thầy lại bi luỵ như thế. Rõ ràng, mới chỉ là chuyện phá
chùa, thầy đã bỏ cuộc ngay giờ phút đầu. Ngày xưa, Thái Tử Tất Đạt Đa có khả
năng xây dựng hàng trăm ngôi chùa nguy nga, chạm vàng dát ngọc, và xa mã lộng lẫy
cao sang, nhưng ngài đã chọn gốc cây Bồ Đề và đôi chân trần cho đến ngày tìm ra
con đường giải thoát mọi khổ đau!
Những giọt nước mắt chảy ra trên nền vôi vữa hoang tàn của
chùa Liên Trì, nó có ý nghĩ của sự bị khuất phục, mà đáng ra hình ảnh thầy phải
vươn cao, dõng dạc để nói với bạo quyền Cộng Sản, thầy vẫn còn đây, để từ đó
người Phật tử còn tin tưởng hướng về thầy như một người dẫn dắt, lãnh đạo cả sự
chiến đấu nữa.
Điều cuối cùng, thất vọng hơn nữa, là thầy đã cho hay: “Một
khi chùa Liên Trì bị phá bỏ, tôi sẽ tìm một quốc gia có tự do tôn giáo để xin tỵ
nạn. Vì hòa thượng mà mất chùa thì không còn lý do gì để ở lại!” (BBC, 9 Tháng
Bảy)
Thưa thầy, chùa không phải là cứu cánh! Thầy còn Phật tử,
còn đồng bào, còn đạo pháp. Cộng Sản rồi sẽ suy tàn, nhưng Phật Giáo và chân lý
sẽ còn mãi mãi. Không phải chỉ thầy mất chùa, mà hàng triệu đồng bào đã mất
nhà, mất mạng, mất tự do, mất quyền làm người. Trong tình cảnh này, vì mất
chùa, thầy lại đòi ra đi, rời Việt Nam để đến một đất nước tự do (Mỹ, Úc,
Canada hay Âu Châu?). Thầy là đệ tử của Hoà Thượng Thích Quảng Độ, lẽ nào thầy
không noi gương ngài với một thái độ dấn thân, chứ không phải trốn tránh.
Thưa thầy, Việt Nam cần thầy, thương binh VNCH ở trong nước
cần thầy, ở hải ngoại này chắc chắn không cần có thêm Hòa Thượng Thích Không
Tánh. Có thầy, hải ngoại sẽ có thêm được một ngôi chùa, như lời thầy phát biểu
theo chân lý của thầy: “Vì hòa thượng mà mất chùa thì không còn lý do gì để ở lại!”
Nhưng hải ngoại này cũng không cần có thêm một ngôi chùa nữa!
Có nghìn lý do bắt thầy phải ở lại, nếu vì lý do mất chùa mà
thầy ra đi, thì có khác chi:
“Ta như kẻ chăn chiên quay đầu chạy
Bỏ bầy chiên lại cho lũ sói rừng!”
Ở hải ngoại, mỗi đêm đã có nhiều người khóc khi theo dõi tin
tức ở quê nhà, đó là nỗi khốn cùng của dân tộc Việt Nam, còn ngôi “chùa của thầy”
(thầy khóc cho một vật sở hữu) chỉ là một vật thể trong cái vòng quanh quẩn,
“có có, không không!”
Xin tiếc cho những giọt nước mắt của thầy đã rơi xuống không
đúng lúc, đúng chỗ!
Nguồn:
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét