Máy bay Sukhoi Su-30MK2 của không quân Việt Nam tại sân bay
quân sự Biên Hòa, Đồng Nai hôm 21/10/2015.
Vụ tai nạn rơi máy bay chiến đấu SU 30 của không quân Việt
Nam gần đây khiến dư luận tại Việt Nam đặt nhiều câu hỏi liên quan đến công nghệ
máy bay Việt Nam đang có, nói rộng ra là chương trình hiện đại hóa không quân của
Việt Nam trước tình hình Trung Quốc đang gia tăng các hoạt động quân sự tại khu
vực biển Đông đang tranh chấp với các nước, trong đó có Việt Nam. Nhân dịp này,
Việt Hà phỏng vấn giáo sư Carl Thayer thuộc học viện quốc phòng Úc, người đã có
nhiều nghiên cứu và bài viết về quốc phòng Việt Nam.
Trung Quốc không thể làm máy bay rơi?
Việt Hà: Thưa ông, vụ máy bay chiến đấu SU 30 rơi mới đây ở
Việt Nam đã khiến dư luận Việt Nam đặt nhiều câu hỏi nghi ngờ về nguyên nhân
máy bay rơi vì cho đến lúc này Việt Nam vẫn chưa xác định được nguyên nhân máy
bay rơi. Có ý kiến nghi ngờ công nghệ của máy bay, nhưng cũng có ý kiến cho rằng
có yếu tố Trung Quốc. Ông nhận định thế nào về những ý kiến này?
GS Carl Thayer: Tôi sẽ rất chần chừ đưa ra bất cứ kết luận
chắc chắn nào ở giai đoạn sớm này. Nó có thể là vấn đề liên quan đến bào trì
máy bay, có thể là một vấn đề của bộ phận nào đó. Tôi không nghĩ là Trung Quốc
có khả năng làm máy bay rơi. Họ có thể can thiệp điện tử nhưng không thể làm
máy bay rơi. Cho nên có thể có vấn đề về cơ khí, hay vấn đề của bộ phận máy bay
do Nga cung cấp hoặc việc bảo trì máy bay, hoặc cũng có thể vấn đề sai sót kỹ
thuật liên quan đến phi công. Đây không phải là lần đầu tiên tai nạn này xảy ra
và theo tôi vì vậy họ nên xem xét lại quá trình bảo trì máy bay.
Việt Hà: Sau tai nạn máy bay thì có những ý kiến tỏ ra nghi
ngờ về công nghệ máy bay Nga mà Việt Nam mua và nói là có lẽ Việt Nam nên xem
xét mua máy bay F 16 của Mỹ. Hai loại máy bay này có tương tự như nhau không
thưa ông?
GS Carl Thayer: Các máy bay này là tương tự nhau. Đây là
tranh luận xem là máy bay nào tốt hơn máy bay nào về mặt kỹ thuật nhưng bên cạnh
đó còn là kinh nghiệm và khả năng của phi công. Trong các tình huống giả định,
cả hai loại máy bay đều hoạt động tốt nhưng vấn đề quan trọng chính là sự huấn
luyện và kinh nghiệm của các phi công. Malaysia và Indonesia cũng có SU 30 và họ
không có các tai nạn này. Nhìn chung thì công nghệ máy bay của Nga được cho là
tốt cũng tương tự như là máy bay F16 của Mỹ. Nếu Việt Nam muốn chuyển sang máy
bay Mỹ thì vấn đề là toàn bộ huấn luyện về kỹ thuật và hậu cần cho phi công sẽ
phải được chuyển toàn bộ sang công nghệ của Mỹ vốn hoàn toàn khác. Ngay như
Malaysia cũng có khó khăn khi họ phải bảo trì cùng lúc các máy bay của Nga bên
cạnh những máy bay của phương Tây.
Máy bay CASA do Hãng Airbus chế tạo thuộc cảnh sát biển Việt
Nam, ảnh minh họa chụp tại sân bay Tân Sơn Nhất trước đây.
Khi chuyển như vậy, bạn sẽ có hồ sơ hướng dẫn bằng tiếng
Anh, kỹ thuật viên phải biết tiếng Anh, phi công phải được đào tạo ở Mỹ. Cho
nên quyết định chuyển sang F16 đối với Việt Nam là không dễ dàng. Indonesia là
một ví dụ đã từng bị cấm vận vũ khí sau vấn đề tại Đông Timor. Họ cũng phải mất
đến 5 năm sau khi lệnh cấm được dỡ bỏ để bày tỏ mong muốn mua F16. Khoảng thời
gian này còn có thể dài hơn đối với Việt Nam vì những cơ sở hỗ trợ trên mặt đất
hiện tại là cho công nghệ của Nga và Ấn Độ. Nếu như những thông tin trên báo
chí truyền thông về việc Việt Nam đang tìm mua F16 là đúng thì theo tôi cũng sẽ
mất một thời gian dài. Đúng là họ đang xem xét vì họ đã đổi toàn bộ các máy bay
Mig 21 vào năm ngoái, theo thông tin mà tôi biết được, nên họ cần máy bay tấn
công mặt đất. Nhưng Việt Nam không xâm lược Campuchia nữa, hay dùng máy bay để
đánh nhau mặt đất với Trung Quốc. Họ cần máy bay ở vùng biển và SU 30 mà họ có,
được chế tạo cho mục đích đó và F16 cũng phải vậy. Cho nên đây là một bước đổi
về kỹ thuật lớn cho Việt Nam. Đấy là tôi chưa nói đến chi phí, không chỉ là mua
máy bay mà chi phí bảo trì, và các bộ phận thay thế. Ngoài ra nó còn phụ thuộc
vào những hạn chế từ phía Mỹ liên quan đến vấn đề nhân quyền ở Việt Nam.
Cần kinh nghiệm và kết nối các hệ thống
Việt Hà: Ông đánh giá thế nào về chương trình hiện đại hóa
không quân Việt Nam hiện tại?
GS Carl Thayer: Việt Nam bây giờ đang tiếp nhận những máy
bay đời thứ 4 và SU 30 là một trong những máy bay chiến đấu hàng đầu, là loại
dùng cho bảo vệ trên không và tuần tra vùng biển hiện đại nhất dùng cho khu vực
biển Đông. Không quân và hải quân Việt Nam đã được ưu tiên trong ngân sách quốc
phòng trong khoảng 5 đến 8 năm qua. Việt Nam có những kỹ thuật viên có khả năng
xử lý các vấn đề với các công nghệ máy bay của Nga và của Xô Viết trước kia.
Cho nên đây không phải là lĩnh vực mới với họ. Cho đến giờ họ cũng đã thực hiện
các cuộc tuần tra ở biển Đông khá thường xuyên. Tuy nhiên tai nạn xảy ra ngay cả
với lực lượng tinh nhuệ nhất. Trong trường
hợp này thì họ cần một cuộc điều tra chu đáo để tìm ra nguyên nhân máy bay rơi.
Quyết định ngưng bay các máy bay SU 30 là cẩn thận và điều này cũng xảy ra với
các lực lượng không quân hiện đại khác.
Việt Hà: Theo ông thì Việt Nam có gặp vấn đề gì trong chương
trình hiện đại hóa không quân của mình?
GS Carl Thayer: Mua máy bay và có phi công được đào tạo
không thôi là chưa đủ, họ còn cần sự kết nối, cải thiện hệ thống vệ tinh, cảnh
báo sớm cho máy bay, cần các thiết bị đặc biệt trên mặt đất để nối kết các hệ
thống với nhau. Dường như đây là một kẽ hở lớn của Việt Nam. Họ không thể chỉ
đơn thuần là đưa máy bay lên trời mà còn cần phải biết môi trường mà máy bay hoạt
động, chúng cần được kết nói với nhau. Cũng không có bằng chứng nào cho thấy Việt
Nam đã học được các bài học từ những trận chiến trên không với việc sử dụng các
máy bay của mình. Việt Nam đã tự đưa ra giới hạn đối với các hoạt động tập trận
của mình với các nước ngoài. Làm như vậy là họ tự làm mất đi kinh nghiệm mà
đáng ra họ đã học được. Cũng giống như trong thể thao, nếu họ chỉ chơi bóng đá ở
Việt Nam thôi thì họ sẽ không bao giờ vào được giải vô địch thế giới. Họ còn cần
phải tham gia vào giải vô địch châu Á. Cho đến giờ quân đội Việt Nam chỉ tập trận
trong Việt Nam. Họ vẫn chưa tập trận với các nước láng giềng để học thêm kinh
nghiệm, xem là các nước hiện đại khác hoạt động như thế nào để họ có thể tự điều
chỉnh. Cho nên điều Việt Nam cần kinh nghiệm và kết nối các hệ thống.
Việt Hà: Có những đồn đoán gần đây về việc Trung Quốc đã thiết
lập vùng nhận dạng phòng không AIDZ trên biển Đông. Nếu điều này xảy ra, theo
ông việc này sẽ ảnh hưởng thế nào đến máy bay Việt Nam bay qua vùng này?
GS Carl Thayer: Mục đích của vùng nhận dạng phòng không AIDZ
để các máy bay báo cáo với người điều khiển không lưu về chuyến bay của họ. Đó
là tất cả yêu cầu ở biển Hoa Đông. ở biển Hoa Đông, về phía bắc, Trung Quốc có
máy bay quân sự cất cánh từ đất liền và tên lửa từ đất liền. Họ ở thế mà nếu họ
muốn họ có thể ép bất cứ máy bay nào phải hạ cánh nếu không xin phép. Họ đã
không làm vậy với máy B 52 của Mỹ và vào lúc này thì Trung Quốc nói là không có
mối đe dọa nào nên họ không làm vậy. Nhưng nếu họ tuyên bố vùng ADIZ ở biển
Đông thì vào lúc này họ chưa có thể thực hiện được yêu cầu này… Nếu máy bay bay
vào vùng nhận dạng phòng không mà không khai báo thì hoặc là họ phải bay lên để
yêu cầu máy bay đó khai báo hoặc đưa máy bay hạ cánh xuống mặt đất. Vào lúc này
Trung Quốc vẫn chưa có máy bay, hệ thống bảo trì và cơ sở tiếp liệu ở Trường Sa
để làm những việc này. Đã có nhiều đồn đoán là Trung Quốc sẽ tuyên bố AIDZ trên
biển Đông. Tôi không nói là họ sẽ không làm nhưng nếu họ làm bây giờ thì đó chỉ
là hành động vô nghĩa vì họ không thể thực hiện lệnh của mình. Nó chỉ là màn
trình diễn cho thấy là họ có quyền về pháp lý để làm vậy mà thôi nhưng nó sẽ
không giống như ở biển Hoa Đông.
Việt Hà: Xin cảm ơn ông đã dành cho chúng tôi buổi phỏng vấn.


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét