Phở cũng như thơ
Thơ cũng như phở!
(HP)
Phở, hay chả giò, là
đại diện cho món ăn thuần chất Việt Nam? Đó là câu dọ hỏi để lấy ý kiến của bạn
đọc nhật báo Người Việt cách đây không lâu.
Câu trả lời của tôi
là: Phở
Không chỉ trả lời tóm
tắt thôi, tôi muốn dành trang báo hôm nay để nhẩn nha câu chuyện về phở mà tất
cả người Việt Nam chúng ta đều đã được thưởng thức và yêu mến nó từ khi biết đến
nó, nhất là trong những thời khắc mà bạn quả thấy nhức đầu về chuyện nhiễu
nhương trước mắt hôm nay.
Phở không phải là món
ăn cao sang cho những buổi tiệc tùng, dạ yến nhưng nó cũng không phải là món ăn
mà mỗi người Việt Nam, ai cũng có cơ hội nếm qua. Tôi có những bà chị họ, ở quê
nghèo miền Trung, dù chỉ cách cố đô Huế khoảng 20 km, trong đời, bà chưa bao giờ
được biết tới tô phở là gì, cuộc đời bà chỉ quanh quẩn với lúa, ngô, khoai, sắn,
đậu mè... nếu có dịp lên thành phố, bà cũng không bao giờ có thể bước chân vào
một tiệm phở. Vậy thì, được ăn phở cũng là hạnh phúc chứ!
Một hôm có hẹn ăn
sáng với một vài người bạn trẻ ở một quán phở gần tòa soạn, khi tôi đến trễ thì
tô phở của hai người bạn vừa được bưng ra. Vì mới đến đây lần đầu, tôi hỏi:
-Phở ở đây ăn được
không?
-Có lẽ mời bác nếm thử
trước xem sao.
Dùng cái muỗng của
tôi nhà hàng mới dọn ra, tôi múc một muỗng nước phở đưa lên miệng. Tôi không
dám so với phong cách quý phái của người nếm rượu vang, cái thứ mà ông Lê Văn
cho là “món quà của Thượng Đế,” tôi nếm món phở bình dân, “món quà của Trời Đất
dành cho con người khốn khổ Việt Nam!” Nên nhớ là tô phở này mới đem ra, chưa
được rắc tiêu, vắt chanh hay trộn tương vào.
-Sao bác?
-Được lắm!
-Sao mới nếm một muỗng
nước mà bác kết luận như vậy!
-Cái ngon của một tô
phở là ở nước phở. Thịt mới, mềm mại, thơm, rau tươi nhưng nồi nước dùng không
ra gì thì tô phở xem như bỏ. Bởi vậy kiếm một người canh nồi nước phở suốt đêm
để sáng có một tô phở ngon là điều nhà hàng nào cũng phải nghĩ đến trước.
Tôi xin mở ngoặc ở
đây là tôi cho rằng tô phở ngon là nhờ nước phở, chứ không nói đến chuyện nước
phở ngon, phải hầm nấu, thịt, mỡ, gia vị ra sao. Sở dĩ tôi nói thêm vào dòng ở
đây, là vì hồi mới sang Mỹ, tôi có viết một bài “phở” đăng trên nhật báo Người
Việt, nhan đề là “Phở trên đường lưu lạc,” một ông chủ tiệm phở có tìm tôi, và
hỏi tôi liệu có thể giúp cho ông làm sao có được một nồi phở ngon không?
Tôi thấy nhiều người
khi tô phở được nhà hàng bưng ra, đổ hết một dĩa giá sống, vắt cạn một miếng
chanh, trộn cả tương đen lẫn tương đỏ, ngắt tất cả rau quế, ngò gai... cho vào
tô, và bắt đầu thưởng thức một món ăn... không có tên. Vì đó không phải là phở.
Cũng có thể khi tô phở
mới được bưng ra, nhìn màu sắc trên bề mặt tô phở và cả nước dùng, bạn có thể
đánh giá “bắt mắt” được “một phần nào” là tô phở ngon tới đâu, ví như khi bạn
nhìn một người đàn bà cũng vậy. Và muỗng nước dùng đầu tiên, chính là những lời
nói của người này, đẹp hay không đẹp cất lên, để bạn thấy nó thơm tho, ý vị, dịu
đàng của cả tô phở ra sao!
Hồi chưa có phong
trào di cư, chưa có phở Bắc (kỳ), thời còn niên thiếu ở Huế đã có phở Huế. Thường
gánh phở ra đường bắt đầu vào buổi chiều. Ông già bán phở gánh hai cái khung gỗ
có mái hai đầu, một đầu có một cái bếp lửa nhỏ, và thùng nước lèo, cạnh một nồi
nước sôi để trụng bánh và bên kia là dụng cụ, chén bát, và những cái hộc nhỏ dựng
thịt chả, có khi là một miếng thịt tái đã trở thành xám xịt, treo đong đưa. Tô
phở nhỏ chỉ bằng cái chén ăn cơm lớn, nước trong vắt vì chắc trong nồi chỉ có mấy
khúc xương bò nhỏ. Người bán phở trụng bánh, vẫy nước xong, cho vào tô, dùng
bàn tay đen điu trải mấy miếng thịt tái xắt mỏng như khăn voan mùa Thu của các
nàng thiếu nữ cố đô, thêm hai lát chả Huế cũng mong manh như mối tình đầu. Cuối
cùng là thêm vài cọng hành xanh, chẻ mỏng, xong chế nước dùng vào, rắc tí tiêu
và lấy đôi đũa (tre) cái muỗng (nhôm) mỏng mang lại cho khách.
Chỉ nghe cái mùi phở
này thôi, dịch vị tôi đã tiết ra rồi. Năm thì mười họa, chỉ lúc nào ông cụ bỗng
dưng yêu đời, hay thoải mái sau một chầu “tổ tôm,” thì thằng bé mới được “húp sạch”
một tô phở. Phải chi mình được ăn một lúc hai hay ba tô mới đã thèm. Bây giờ
tóc đã bạc, phiêu bạt nơi này, nhìn những tô phở “large size,” “xe lửa,” “tàu
bay,” nửa ăn nửa đổ thùng rác, mới thấy thương cho những tô phở quê nhà thời
thơ ấu, và nhất là những người đã khuất!
Thế nào gọi là một phở
ngon?
Theo tôi đó là một tô
phở mà ta húp hết nước, cuối cùng khi để cái bát không xuống bàn, nhìn thấy rõ
những hạt tiêu còn lắng xuống đó. Như vậy tô phở thời thơ ấu của tôi, theo định
nghĩa của tôi, là một tô phở ngon.
Định nghĩa này người
ta có thể đem áp dụng vào định nghĩa về thi ca.
Thế nào gọi là bài
thơ hay?
Bài thơ hay là một
bài thơ mà ta say mê đọc hết bài, có khi ngây ngất, hết bài mà còn muốn đọc lại
và muốn cảm thấy mình mang ơn tác giả (như Tô Thùy Yên!) như ngày xưa tôi muốn
“đọc” thêm một tô nữa, và rưng rưng cảm động muốn chạy lại ôm ông bố tôi!
Vậy ăn một tô phở
ngon cũng như được đọc một bài thơ hay. Đừng cho so sánh thơ với phở là phàm tục.
Ở Bolsa này có những tô phở dở chỉ ăn hết may ra một nửa, cũng như những bài
thơ phải đọc, mà đọc xong, không nhớ nổi câu nào!
Tôi là “người yêu phở.”
Từ ngày sang Mỹ thì trung bình mỗi tuần hai tô, trước năm 1975, trong thời gian
10 năm mặc đồ lính, thì 365 tô mỗi năm. Năm 1956, vô Sài Gòn đi học, ở nhà ông
bác chưa kiếm ra chỗ ăn cơm tháng, khoảng năm ngày, cứ ngày ba bữa, tôi ra quán
phở đầu ngõ, ba tô phở, sáng, trưa, chiều. Thời gian đó giá một tô phở là 6 đồng,
trị giá bằng một “cuốc” taxi tối thiểu.
Hai năm sau phong
trào di cư của đồng bào miền Bắc vào Nam, gần như giết chết hủ tiếu Nam và mì
Tàu, những tiệm phở như Kim Long, Hợp, Pasteur, Minh (hẻm Casino), Phở Gà Trống
Thiến, Phở Turc (Tuyệt), Phở Gà Bàn Cờ và hằng trăm cái tên khác tôi không nhớ
hết, những cái tên mà những người mang theo “quê hương” còn đem theo. Nhưng có
bảy năm tôi ly thân với phở vì bận theo những bông hồng mang những mỹ danh “bo bo,”
“khoai hà,” “sắn sượng!”
Những ngày đó ở Hoàng
Liên Sơn, ban đêm trời lạnh, cơn đói hành hạ thân xác khẳng khiu, trong giấc mơ
chập chờn, tôi thấy tôi đang ăn ngon lành một tô phở, khi đã tỉnh giấc, tôi tội
nghiệp thấy miệng tôi, vẫn còn đang nhai nhóp nhép. Năm ngoái đây thôi, nằm bệnh
viện, tôi bị suy kiệt, trong cơn đau mê sảng, tôi cũng mơ thấy đang được ăn một
tô phở.
Vì sao hai lần đói,
tôi chỉ mơ thấy phở mà không mơ thấy cơm?
Phở có một cái công rất
lớn với dân tộc. Ngày di cư 1954, người Bắc đem phở vào Nam. Năm 1975, nhờ “giải
phóng,” phở Nam tấn công, đổ bộ lại ra Bắc, nếu không suốt đời dân miền Bắc dưới
chế độ XHCN chỉ có phở “không người lái” với mì chính Trung Cộng thay thịt!
Ngày nay không có phở
Bắc Kỳ, không có phở Nam, không có phở Huế.
Phở ngày nay là món
ăn “Đại sứ thiện chí” của hai chữ Việt Nam đã có mặt ở chân trời góc biển, từ
Phi sang Úc.
Huy Phương

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét