Gần đây hệ thống tuyên truyền của nhà nước Việt Nam
vừa mới đưa ra một luận điểm mới: Nước Mỹ
dùng chủ nghĩa Marx-Lenin để giải quyết khủng hoảng kinh tế 2008. Các lý lẽ ủng
hộ luận điểm này cũng không phải là hoàn toàn vô căn cứ.
Cơ hội vàng của tuyên giáo
Hiện nay, khoa Triết học của các trường đại học khối ngành
xã hội chứng kiến một sự mất giá nặng nề,
các chuyên ngành “khoa học soi đường”
là chủ nghĩa Marx-Lenin và Tư tưởng Hồ Chí Minh thiếu hụt sinh viên theo học đến
nỗi nhà cầm quyền phải miễn học phí. Sự sụp đổ của Liên Xô vĩ đại làm cho người
dân Việt Nam nói chung không còn tin lời giảng viên rằng ý thức hệ Marxist bách
chiến bách thắng nữa. Nhưng may thay, ngành tuyên giáo bỗng dưng có được một cơ
hội vàng từ một cuộc khủng hoảng kinh tế
thế giới.
Số là, nước Mỹ có mở một viện nghiên cứu chủ nghĩa
Marx-Lenin. Năm 2008, nước Mỹ bỗng lâm vào khủng hoảng kinh tế và cơn khủng hoảng
đó nhanh chóng lan ra toàn cầu. Những bộ óc kinh tế học vĩ đại được chính phủ Mỹ
mời đến để tìm giải pháp để kéo nước Mỹ ( và do đó là hệ thống tài chính toàn cầu)
ra khỏi cơn khủng hoảng. Một trong những giải pháp được đưa ra là tăng cường
vai trò can thiệp của nhà nước để làm giảm tình trạng vô chính phủ của nền kinh
tế thị trường tự do quá trớn. Ý tưởng này, tình cờ thay, rất gần gũi với tinh
thần của chủ nghĩa Marx. Vài năm sau, kinh tế toàn cầu ấm dần lên. Thế là, các
nhà lý luận Marxist còn sót lại trên thế giới vui mừng đăng diễn đàn trong các
trường đại học quốc nội, rằng kinh tế chính trị học Marx-Lenin đã cứu Hoa Kỳ
thoát khỏi một trong những cơn khủng hoảng kinh tế tồi tệ nhất trong lịch sử.
Có thể tóm tắt lại sơ đồ lý luận của những người cộng sản
như sau: Nước Mỹ có viện nghiên cứu chủ nghĩa Marx. Trong lúc khủng hoảng họ đã
áp dụng việc nhà nước liên bang can thiệp
lên kinh tế để thoát khỏi khủng hoảng, mà dùng nhà nước để can thiệp là
một quan điểm chủ đạo của chủ nghĩa Marx. Từ đó họ kết luận kinh tế chính trị
Marx là đúng.
Từ đó, những lời tán tụng “đỉnh cao trí tuệ” lại vang lên trên khắp các giảng đường đại học ở
Việt Nam.
Kẽ hở lý luận
Nếu nói rằng nước Mỹ vượt qua khủng hoảng mà không cần sử dụng
một chút thuộc về chủ nghĩa Marx thì đó là ý kiến cực đoan. Còn
nếu nói rằng nhờ công lớn của chủ nghĩa Marx mà nước Mỹ và thế giới vực dậy được
thì luận điểm đó bị vấp phải nhiều kẽ hở lý luận:
- - Hội nghị
thượng đỉnh G20 tại Anh ngày 02/04/2009 mới là tác nhân chủ yếu của sự phục hồi
kinh tế toàn cầu. Tại hội nghị này, các nhà lãnh đạo G20 đã đạt được một thỏa
thuận mang tầm lịch sử khi nhất trí lập quỹ cứu trợ kinh tế trị giá 1.100 tỉ
USD. Trong các tác phẩm của mình, Marx và các nhà lý luận xã hội chủ nghĩa chưa
bao giờ đưa ra một giải pháp xử lý khủng hoảng như vậy. Giải pháp của G20 đến từ
tinh thần đa nguyên - đa cực về địa chính trị toàn cầu chứ không đến từ một ý
chí tập trung quyền lực quốc tế vào một siêu cường nào đó, cũng không đến từ việc
tập trung quyền lực cho một giai cấp nào đó.
- - Để tránh
nguy cơ tái khủng hoảng sau khi được bơm vốn, các quốc gia thống nhất tạo ra những
cơ chế để thắt chặt, giám sát, quản lý hệ thống tài chính, nhất là giám sát các
quỹ đầu cơ đa quốc gia đang tự do kiếm lời trên đất Mỹ và các nước khác. Những
cơ chế này lại không trực thuộc một chính phủ (nhà nước) nào, cũng không trực
thuộc Liên Hợp Quốc do Mỹ “cầm đầu phe tư bản chủ nghĩa” như trong tuyên truyền
của các nước cộng sản. Các nhà nước chỉ đóng vai trò như là lực phát động.
- - Có rất nhiều
biện pháp được dùng, sức mạnh tổng hợp được tận dụng để kéo nền kinh tế ra khỏi
khủng hoảng. Biện pháp dùng nhà nước để can thiệp cũng chỉ là một biện pháp
trong số những biện pháp đó. Vậy cũng không thể nói là kinh tế học Marx là sức
mạnh chủ lực đưa nước Mỹ và các hệ thống tài chính phương Tây thoát khỏi khủng
hoảng. Dalai Latma đã từng nói rằng nền kinh tế Mỹ ẩn chứa những nguy cơ bất ổn
và được tổng thống Mỹ mời đến để cố vấn về kinh tế, nhưng Phật giáo Tây Tạng
không vì nhân đó mà tuyên truyền về Đức Dalai Latma như là một vị quân sư vĩ đại
của Hoa Kỳ bao giờ.
Nền kinh tế chính trị không sinh hoa quả
Trong suốt những công trình của mình, Marx đã chỉ trích khá
thành công mánh khóe làm ăn của các nhà tư bản, nhưng ông chưa từng đưa ra được mô hình kinh tế cụ thể nào cho một quốc gia.
Một “tổ phụ” khác của chủ nghĩa cộng sản, triết gia F. Angel trước khi hấp hối cũng thừa nhận rằng
ông này cũng chưa hề hình dung nổi cách thức tổ chức xã hội cộng sản. Các chế độ
thuộc phe xã hội chủ nghĩa đều lần lượt bỏ tem phiếu và sử dụng tiền tệ, mà như
thế đã là chống lại tư tưởng kinh tế tập trung của những “đấng sáng lập”.
Trong bối cảnh không có tự do học thuật, sinh viên Việt Nam
khi còn ngồi trên giảng đường bắt buộc phải học kinh tế học chính trị Marx-
Lenin. Xin nhấn mạnh từ “bắt buộc” ở chỗ mọi sinh viên, dù là sinh viên ngành
toán hay lý đều phải học môn này. Các trường đại học ép sinh viên thừa nhận một
nhị đoạn luận hết sức mơ hồ: chủ nghĩa Marx đưa đất nước ta khỏi ách nô lệ
phương Tây, ông Marx phân tích được về thặng dư, về mánh khóe làm ăn của tư bản;
từ đó người Việt Nam phải thừa nhận kinh tế chính trị Marx và những hệ quả kéo
theo.
Tranh luận về bản chất về kinh tế chính trị học Marxist là một
điều có lẽ không bao giờ dứt, đặc biệt ở Việt Nam vì nơi đây không hề có đối
thoại. Thế nhưng cây nào thì quả nấy, nếu tổng hợp những hiện tượng xảy ra ở những
xã hội thì vẫn có thể đánh giá được bản
chất của ý thức hệ của xã hội đó một cách khách quan. Danh sách chủ nhân 70 giải
Nobel kinh tế gần đây nhất không hề có mặt bất kỳ lý luận gia Marxist nào. Bình
quân thu nhập và mức sống của các nước cộng sản là nằm ở mức rất thấp so với thế
giới tự do, thậm chí nạn đói xảy ra tại nhiều nơi. Thực tiễn là thước đo của
chân lý. Nếu kinh tế học Marxist là tối ưu, là đỉnh cao trí tuệ thì tại sao lại
không đơm bông kết trái?
Và nhất là, với cuộc khủng hoảng ngân sách trầm trọng ở Việt
Nam đang diễn ra, các nhà lý luận
Marxist của Việt Nam đang bế tắc hoàn toàn trước bài toán huy động ít nhất 12 tỉ
USD trả nợ cho quốc tế chỉ trong năm 2016.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét