Ngày tàn của Giang Trạch Dân đang đến gần. Vấn đề chính là lúc nào, chứ không phải là nếu như, cựu lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) sẽ bị bắt. Giang chính thức lãnh đạo Trung Quốc trong hơn một thập kỷ, và thêm một thập kỷ đứng đằng sau chỉ đạo các sự kiện. Trong hai thập kỷ này, Giang đã làm hại Trung Quốc không kể xiết. Bây giờ thời đại của Giang đã đến hồi kết thúc, Đại Kỷ Nguyên công bố lại loạt bài “Quyền lực bằng mọi giá: Chuyện đời thật của Giang Trạch Dân,” lần đầu công bố phiên bản tiếng Anh năm 2011. Qua đó độc giả có thể hiểu rõ hơn về sự nghiệp của nhân vật then chốt đối với Trung Quốc hiện đại này.
Nếu như số phận quyết định vận mệnh của một người, thì sự an
bài của lịch sử cũng có khả năng dàn xếp cho một sinh mệnh có xuất thân đáng xấu
hổ.
Khi Giang Trạch Dân tham dự buổi thảo luận với một đoàn đại
biểu tỉnh Hồ Bắc trong một cuộc họp Quốc hội của Đảng Cộng sản Trung Quốc
(ĐCSTQ) vào ngày 12 tháng 3 năm 2003, ông ta nói: “Tôi từng là Sở trưởng Sở
nghiên cứu Cơ giới nhiệt Vũ Hán từ năm 1966 đến năm 1970. Đó là vào thời kỳ
Cách mạng Văn hóa… phe tạo phản [trích dẫn nguyên văn] đã cẩn thận xem xét hồ
sơ [1] cá nhân của tôi. Được thôi, vì điều đó đã chứng tỏ rằng tôi có một quá
khứ trong sạch.”
Có lẽ những thính giả của Giang lúc ấy không hiểu được mục
đích của ông ta là gì. Tại sao Giang – Tổng bí thư của ĐCSTQ – cần tự thanh
minh về “quá khứ trong sạch” của mình?
Quảng cáo
Lý do nằm ở chỗ tiểu sử của Giang có vấn đề. Cha đẻ của ông
ta, Giang Thế Tuấn (còn được biết đến với cái tên Giang Quan Thiên), là một tên
Hán gian làm việc cho người Nhật khi Trung Quốc bị chiếm đóng. Trường đại học
mà Giang từng theo học, Đại học Trung ương Nam Kinh, thực ra được điều hành bởi
quân chiếm đóng Nhật Bản. Ông ta bịa đặt rằng đã được người chú nhận nuôi, mặc
dù người chú kỳ thực đã qua đời vào thời gian ấy. Khi được đào tạo ở Nga, có thời
gian Giang đã chìm đắm trong một vụ bê bối tình ái với một phụ nữ người Nga và
trở thành điệp viên cho KGB. Và đây chỉ là một phần nhỏ của bức tranh lớn hơn rất
nhiều, vì tiểu sử của Giang đầy rẫy những tình tiết xấu xa. Dựa trên cơ sở nào
mà ông ta có thể tự nhận rằng mình có “quá khứ trong sạch”? Khi “phe tạo phản”
kiểm tra hồ sơ của Giang, họ đã không thể biết được những rắc rối to lớn trong
quá khứ đã bị Giang giấu nhẹm.
Vào năm 2005, Giang Trạch Dân đã phát hành ầm ĩ cuốn sách
“Người đã thay đổi Trung Quốc”, một cuốn tiểu sử được xuất bản bằng cả tiếng
Anh lẫn tiếng Trung, mà ông ta đã ủy thác cho một thương nhân người Mỹ tên là
Robert Kuhn viết. Cuốn sách là đại biểu cho những nỗ lực công khai của Giang nhằm
đánh bóng tiểu sử cá nhân vốn đã được ông ta che giấu từ lâu.
Cổ nhân có câu “lạy ông tôi ở bụi này”. Trong cuốn sách tâng
bốc và thêu dệt tiểu sử của Giang, người ta để ý rằng một từ đã được lặp đi lặp
lại rất nhiều lần: yêu nước. Phần mô tả thời gian ông ta học ở Trường Đại học
Trung ương Nam Kinh của quân Nhật, với đủ tính ly kỳ, có tựa đề là “Tôi là người
yêu nước”. Nhưng lòng ái quốc là bổn phận của mỗi công dân, là phẩm hạnh bẩm
sinh, là sự trung thành với mảnh đất đã nuôi dưỡng chúng ta. Một người có tiểu
sử trong sạch chẳng cần phô trương sự yêu nước của mình trước công chúng.
Một thực tế đơn giản là người cha đẻ của Giang đã chạy trốn
và phục vụ cho quân chiếm đóng Nhật Bản. Trong nửa sau cuộc đời, Giang luôn
nhanh chóng tránh né thảo luận về cha của mình – thậm chí theo lời người viết
tiểu sử cho Giang, ông ta đã yêu cầu người khác viết như vậy. Điều duy nhất được
đề cập đến trong cuốn tiểu sử của ông ta là, “Cha của Giang mất năm 1973.”
Giang tuyên bố bịa đặt rằng ông ta được nhận nuôi từ năm 13
tuổi bởi gia đình người chú – đảng viên cộng sản – Giang Thượng Thanh; nhưng nó
cho thấy việc nhận nuôi đã diễn ra không lâu sau khi người chú qua đời. Giang
Trạch Dân đã tốt nghiệp đại học vào tuổi 21. Vậy có lý do để thắc mắc: Ai đã
nuôi Giang giữa lúc ông ta 13 tuổi và 21 tuổi? Con gái của Giang Thượng Thanh,
Giang Trạch Huệ, đã nói với Kuhn rằng gia đình họ sống trong cảnh “vô cùng bần
cùng và đói khổ” [2]. Nếu là như vậy, thì ai là người đã trả học phí để Giang
Trạch Dân học tập tại một trường trung học dành cho quý tộc và Trường Đại học
Trung ương Nam Kinh? Ai là người đã chi trả để Giang học nghệ thuật và âm nhạc
trong những năm loạn lạc, chiến tranh và lạm phát phi mã ấy? Ai đã cho ông ta
lái một chiếc xe jeep ngay sau khi tốt nghiệp đại học (theo như Kuhn ám chỉ)?
Nói cách khác, là ai đây ngoài người bố đẻ đã hậu thuẫn cho ông ta? Liệu Giang
Thượng Thanh, người đã qua đời bảy tám năm trước, có thực sự làm được vậy
không?
Sự thực là cuộc sống của Giang chẳng mấy quan hệ với gia
đình được khai là đã nuôi nấng ông ta. Họ chẳng liên quan gì nhau cho đến sau
khi ĐCSTQ nắm quyền tại Trung Quốc thì Giang mới đột nhiên “nhớ lại” rằng ông
ta có một liệt sĩ đảng cộng sản (người chú) trong gia đình? Ông ta đã phát minh
ra một tiểu sử, trong đó ông ta từ bỏ người bố đẻ và trở thành con nuôi của một
người đã khuất. Tuy nhiên, phần này của câu chuyện sẽ được chúng tôi trở lại
sau.
Trên đây không phải ám chỉ rằng tính cách hay giá trị của một
người chỉ là sản phẩm đơn thuần từ thân thế của người đó. Thay vào đó, nó gợi ý
rằng chúng ta có thể bắt đầu vạch trần bản chất dối trá của Giang bằng cách xem
xét xuất thân, mà đa phần được che giấu và ngụy tạo, cũng như quá khứ của ông
ta. Trong những năm gần đây, Giang còn đi xa hơn nữa khi nói bóng gió rằng cha
ông ta – một tên Hán gian – thực ra là một anh hùng khi chiến đấu với quân Nhật.
Theo như lời của người em họ Trạch Huệ thì “Cả gia đình tôi đều theo cách mạng”
[3] “Đàn ông nhà họ Giang đều đi đánh giặc” [4] và “Tất cả đều tham gia cách mạng,
chiến đấu với quân xâm lược Nhật Bản và Quốc Dân đảng” [5]. Đối với những độc
giả tại Trung Quốc mà không biết những tình tiết về thân thế gia đình họ Giang,
những lời phát ngôn như vậy rất dễ lừa gạt họ.
Cái loa tuyên truyền chính thức của chính quyền ĐCSTQ, Nhân
dân Nhật báo, đã đưa tin vào ngày 11 tháng 12 năm 2009 rằng Giang Trạch Dân và
lãnh đạo Nga lúc đó là Boris Yeltsin đã ký tại Bắc Kinh ba hiệp ước về biên giới
Nga-Trung. Nhưng thật khó tin, cuộc họp như vậy lại không được đề cập trong cuốn
tiểu sử do Kuhn viết, trong khi những thứ vặt vãnh như là Giang đã hát một bài
hát nào đó lúc nào và ở đâu, và những chi tiết không quan trọng về cuộc họp của
ông ta với các lãnh đạo nổi tiếng lại được ghi trong đó. Tại sao Kuhn bỏ qua một
cuộc họp cấp quốc gia, và về một vấn đề quan trọng như ký hiệp ước biên giới với
Yeltsin? Nguyên là trong cuộc họp đó, Giang đã công nhận về mặt ngoại giao tất
cả các hiệp ước không công bằng [với Nga] từ cuối thời Mãn Thanh – những hiệp ước
mà không một chính phủ Trung Quốc tiền nhiệm nào thừa nhận. Thứ mà Giang đã ký
hoàn toàn là điều ước của kẻ bán nước, trong đó làm mất những vùng đất hợp pháp
mà các thế hệ sau có thể phải đi đòi lại. Hiệp ước này nhượng cho Nga hơn 1 triệu
km vuông đất màu mỡ – vùng đất rộng gấp hơn 30 lần đảo Đài Loan. Thấy rằng lực
lượng người Hoa lớn mạnh trên toàn thế giới có thể bắt ông ta phải giải thích về
hiệp ước bán nước, Giang Trạch Dân đã cố gắng tô vẽ lại quá khứ của mình. Ông
ta không nhận ra rằng, thủ đoạn đó chỉ là tự chuốc lấy thất bại mà thôi.
Trong cuốn sách của ông ta, Giang tự cho mình là một lãnh đạo
có trách nhiệm, người quan tâm sâu sắc đến cuộc sống và sự đau khổ của người
dân Trung Quốc. Nhưng hãy xem Giang đang làm gì trong trận lụt lớn ập vào Trung
Hoa năm 1998. Vào đầu tháng 9, khi vô số người đang phải chiến đấu với nạn lụt
và ở bên bờ vực của cái chết, thì Giang mời một số nam nữ diễn viên điện ảnh tới
một bữa tiệc tại tổ hợp lãnh đạo Trung Nam Hải ở Bắc Kinh. Kuhn miêu tả nó là
“khoảnh khắc ngẫu hứng của Giang Trạch Dân”. Lúc gặp mặt, Giang đã hát song ca
với một nữ ca sĩ những bản tình ca thời xưa của Nga, chẳng hạn như “Chiều
Matxcơva” (Moscow Nights) [6]. Nghe kể rằng trong lúc hưng phấn, ông ta cùng mọi
người hát bài “Đại dương là quê hương tôi”. Kuhn tô vẽ rằng “đặc biệt là
Giang”, vào giây phút ấy, dường như “vượt khỏi những hạn chế của nghệ thuật”
[7]. Thật là nực cười. Trong khi người dân Trung Quốc đang vật lộn trong vô vọng
với sóng lũ, lụt lội, nước lớn như đại dương, thì Giang đang hát bài “Đại dương
là quê hương tôi” với những người bạn gái ở Trung Nam Hải. Đáng buồn thay,
nhưng cũng không ngạc nhiên gì lắm khi mà Giang, một người sẵn sàng che giấu xuất
thân Hán gian để leo lên địa vị cao, chẳng mấy quan tâm đến sự sống chết của
người dân.
Trong tác phẩm của Kuhn, Giang xuất hiện như một hình mẫu sống
đạm bạc và đấu tranh chống tham nhũng. Khi sự gia tăng tham nhũng tại Trung Quốc
trong những năm qua còn chưa bị phanh phui, ít người biết được căn nguyên không
ở đâu khác ngoài Giang Trạch Dân cùng gia tộc ông ta. Vì vậy mà những đứa con
trai thiếu năng lực và bằng cấp của ông ta, đã xoay sở để xây dựng gia đình Giang
trở thành một đế chế giàu có. Có thể nói, chúng là “Trung Quốc đệ nhất tham”.
Người ta đã đồn đãi từ lâu rằng Giang từng lặn lội giữa đêm
tuyết rơi để đến đưa bánh sinh nhật cho bồ nhí của chủ tịch Thượng Hải lúc ấy
là Lý Tiên Niệm. Lý đang có khách vào lúc ấy, nên Giang đã đứng đợi nhiều giờ đồng
hồ ở bên ngoài để chứng tỏ lòng trung thành. Câu chuyện này thật quá ly kỳ và
không thể xác thực được. Vì một số lý do lạ lùng – có lẽ là lương tâm cắn rứt?
– trong tiểu sử của mình, Giang đã cố gắng bảo vệ việc đưa bánh, điều đó thực sự
đóng vai trò xác thực câu chuyện kỳ lạ này. Giang nói với độc giả rằng ông ta
quan tâm tới lãnh đạo của mình và đó là “chiếc bánh cuối cùng trong khách sạn”
[8]. Ông ta cũng tuyên bố rằng mục đích của ông ta là đạt đến sự đồng thuận và
“xây dựng mối quan hệ với nhân vật then chốt” [9]. Giả sử rằng chúng ta chấp nhận
luận điểm này, thế cũng bằng như nói ở Trung Quốc không có tham nhũng và hối lộ
– chẳng phải mỗi hành động kiểu như thế chỉ là để “quan tâm đến lãnh đạo” hay
“đạt được sự đồng thuận và xây dựng mối quan hệ”? Điều này cũng tương đương với
hợp pháp hóa tham nhũng.
Việc Giang Trạch Dân thăng quan tiến chức nhanh chóng phụ
thuộc vào hai yếu tố. Thứ nhất là việc ngụy tạo câu chuyện về xuất thân gia
đình liệt sĩ của ông ta, điều giúp Giang giành được đồng minh chính trị với
Uông Đạo Hàm và Trương Ái Bình; cả hai người này sau đó đã liên tục nâng đỡ
Giang. Điều đáng nói là hai người này là bạn với người chú của Giang. Thứ hai
là khả năng nịnh nọt thượng cấp và chiếm cảm tình từ lãnh đạo Đảng. Cuối cùng
thì hai điểm này đã cho phép Giang đoạt được ngai vàng.
Sau khi giành được quyền lực, Giang Trạch Dân như mắc bệnh
điên và bắt đầu làm những trò hề như nhảy múa và hát hò trong các cuộc giao lưu
ngoại giao quốc tế. Giang hoàn toàn không màng đến các nghi lễ ngoại giao cùng
sự tôn nghiêm của dân tộc Trung Hoa, làm tổn hại thể diện quốc gia. Vì thế,
Giang giành được danh hiệu “thằng hề”. Trong một buổi gặp gỡ với Nhà vua Tây
Ban Nha, ông ta đột nhiên rút ra một chiếc lược và tự chải đầu, để những người ở
đó nhìn thấy rõ. Một dịp khác, khi ông ta được tặng Huân chương, ông ta không
thể chờ được và chộp lấy chiếc Huân chương rồi tự đeo cho mình. Một lần, đang
trong bữa quốc tiệc, ông ta thình lình mời khiêu vũ một đệ nhất phu nhân nước bạn.
Ông ta từ ghế nhảy lên hát bài “O Sole Mio,” vừa dạo phím piano vừa dán cặp mắt
đắm đuối vào các quý cô. Những trò hề của ông ta đã trở thành kho chuyện cười
cho giới báo chí Tây phương. Chúng ta hãy xem cuộc gặp của ông ta với cựu Tổng
thống Mỹ Bill Clinton. Giang đã viếng thăm Hoa Kỳ vào năm 1993 và 1997, và
Clinton đã viếng thăm Trung Quốc vào năm 1998. Mỗi lần họ gặp nhau, Giang lại
chơi một số nhạc cụ hoặc hát. Sau khi biểu diễn, ông ta lần nào cũng yêu cầu
Clinton chơi kèn saxophone, điều mà Clinton từ chối một cách kiên quyết, cho dù
ông là một chuyên gia âm nhạc. Vào năm 1997, trong chuyến thăm Hoa Kỳ của
Giang, một nhà báo đã nêu ra vấn đề Tây Tạng trong một cuộc họp báo. Giang đã bất
ngờ hát to bài “Nhà ở nơi xa” trước sự bối rối của các ký giả. Điển hình là
Giang thường nhắc lại bài diễn văn Gettysburg của cựu lãnh đạo Abraham Lincoln.
Khi nói chuyện với các sinh viên, trả lời các cuộc phỏng vấn báo chí, hay thậm
chí viếng thăm nước ngoài, Giang thường kiếm cớ để nhắc lại bài diễn văn này.
Khi được yêu cầu, ông ta ngoan ngoãn nhắc lại; khi không được yêu cầu, ông ta
cũng nhắc lại y hệt. Nào có ra hình thù của một nguyên thủ quốc gia?
Một điều còn phi lý hơn nữa là sự ám ảnh của Giang trong việc
nói ngoại ngữ. Trong lần viếng thăm Châu Mỹ La-tinh, Giang – bất chấp tuổi tác
và lờ đi các vấn đề quan trọng của quốc gia – đã dành vài tháng tham dự một lớp
học tiếng Tây Ban Nha tăng cường. Giang hành xử như một thằng hề, vô tình giành
được ngai vàng, nên khó có thể thay đổi bản tính phô trương của mình. Trong bản
tiếng Trung của cuốn tiểu sử, ông ta lý sự: “Nếu bạn không thể giao tiếp với
người khác vì sự khác biệt ngôn ngữ, làm sao bạn có thể trao đổi ý tưởng hay đạt
được thoả thuận?” Nhưng chỉ hiểu được vài ba thứ thông thường, rồi với kỹ năng
ngôn ngữ vụng về đó, làm sao đủ để Giang có được sự giao tiếp nhanh nhạy và biểu
cảm. Nhiều nguyên thủ quốc gia nói ngôn ngữ mẹ đẻ và cần một thông dịch viên.
Chẳng lẽ họ không thể đạt được những thoả hiệp trong các giao lưu ngoại giao?
Có lẽ lãnh đạo của các quốc gia cộng sản thường hay bảo thủ,
cho nên nhiều lãnh đạo Tây phương coi nhân vật “dễ bị kích động” Giang Trạch
Dân như một kẻ lập dị của Đảng, và thấy những màn biểu diễn của ông ta thật là
khôi hài.
Các lãnh đạo có tài năng thực sự và nhìn xa trông rộng không
mất thời gian và công sức vào những trò nực cười như vậy. Lý do Giang Trạch Dân
hoạt bát và “dễ bị kích động” liên quan đến khả năng pha trò vặt vãnh của ông
ta giống như chú hề trong một số vở hí kịch. Các chính trị gia phương Tây đã trải
thảm đỏ hoan nghênh Giang, không phải vì tài năng của ông ta, mà là vì các hợp
đồng trong túi ông ta và triển vọng khai thác thị trường tiêu dùng khổng lồ của
Trung Quốc. Sự tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc trong những năm gần đây là nhờ
tác động bởi hơn 500 tỷ đô-la vốn đầu tư nước ngoài, cùng với một lực lượng lao
động rẻ mạt và vô cùng cần mẫn. Với sự đầu tư lớn như vậy, lao động rẻ, và nhiều
nhân tài Trung Quốc tham gia, tất nhiên sản lượng phải cao. Nhưng đây không phải
là công lao của Giang. Ngược lại, sự bất tài của Giang, tính kiêu ngạo, đố kỵ,
và bảo thủ chính trị của ông ta đã cản trở sự cải cách chính trị, đi kèm với sự
xuống cấp về giá trị đạo đức và nạn tham nhũng tràn lan. Hậu quả là dẫu nền
kinh tế có phát triển thế nào, cái giá phải trả là sự cạn kiệt tài nguyên khổng
lồ và sự suy thoái về sinh thái, môi trường và xã hội. Thực ra, sự thịnh vượng
kinh tế bề mặt của Trung Quốc được đánh đổi với sự bền vững của môi trường.
Giang đã làm hại tương lai của đất nước, để cải cách chính trị dậm chân tại chỗ
nếu không muốn nói là thụt lùi, đưa tới sự ngược đãi nhân quyền và thiếu tự do
tín ngưỡng. Khi đặt trong bối cảnh lịch sử, sự thống trị của Giang cuối cùng vẫn
là ô nhục; ông ta đã nợ người dân Trung Quốc quá nhiều.
Giang để cho Kuhn miêu tả mình như là một người có năng lực
giải quyết vấn đề một cách thông minh. Nhưng trên thực tế, khi một cuộc khủng
hoảng ập tới – dù đó là lụt lội, đánh bom Đại sứ quán Trung Quốc ở Belgrade, bầu
cử dân chủ ở Đài Loan, hay dịch bệnh SARS – Giang luôn luôn đẩy người khác lên
tuyến đầu và hèn nhát đứng đằng sau. Khi dịch bệnh SARS lan rộng tại Bắc Kinh,
Giang đã tham sống sợ chết và chạy trốn xuống Thượng Hải để tỵ nạn. Nhưng trong
bản tiếng Trung cuốn tiểu sử của mình, ông ta tuyên bố rằng ông ta đã “một mực ở
lại Thượng Hải”, để che đậy sự trốn chạy của mình. Sự thật là, chỉ vài ngày trước
chuyến bay, Giang đã ở Bắc Kinh để phát biểu tại Đại Lễ đường Nhân dân và Hội
nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân. Dựa trên cơ sở nào mà ông ta sử dụng câu
“một mực ở lại Thượng Hải” để chạy tội cho chính mình?
Khi không lập bè kết phái hay đi công du nước ngoài để hát
hò và thể hiện, điều Giang Trạch Dân để tâm nhất là khẩn cấp đàn áp Pháp Luân
Công. Trong khi thế giới bên ngoài chỉ thấy được Giang phân phát những cuốn
sách nhỏ phỉ báng Pháp Luân Công trong các cuộc họp ngoại giao, không mấy người
biết được sự phản ứng nhanh chóng của Giang sau vụ can thiệp vào tín hiệu truyền
hình của các học viên Pháp Luân Công. Vào ngày 5 tháng 3 năm 2002, các học viên
Pháp Luân Công đã can thiệp vào tám kênh truyền hình cáp tại thành phố Trường
Xuân và chiếu đoạn phim dài 45 phút về cuộc đàn áp đối với họ. Khi kể về buổi tối
ngày hôm đó, cuốn sách của Kuhn trích lời một người bạn thân của Giang tại Trường
Xuân. Người đó nói rằng 10 phút sau khi sự can thiệp kết thúc (9 giờ 10 phút tối),
Giang Trạch Dân đã nổi khùng và gọi điện: “Các phần tử Pháp Luân Công đang phát
sóng trên hệ thống truyền hình cáp của Trường Xuân!” “Ai là bí thư Thành ủy hay
thị trưởng thành phố?” [10] Sự phản ứng nhanh chóng của Giang, với một sự kiện
xảy ra ở một nơi cách xa Bắc Kinh, hơn nữa còn đe dọa người Bí thư Thành ủy, đã
cho thấy rằng Giang thực ra là tổng chỉ huy của cuộc đàn áp Pháp Luân Công; ông
ta là người chỉ thị trực tiếp về vấn đề này; và chính ông ta đã ra các mệnh lệnh.
Ngược lại, khi Đại sứ quán Trung Quốc tại Belgrade bị đánh bom, Giang Trạch Dân
chẳng xuất đầu lộ diện trong nhiều ngày.
Trong cuốn tiểu sử của mình, Giang luôn cố gắng tự biện hộ
cho bản thân, với thủ pháp là trích dẫn câu nói của chính mình, để tạo ra bất cứ
hình ảnh nào mà ông ta thích và tô vẽ mọi thứ. Nhưng có quan chức Trung Quốc
nào bị kết án tham nhũng, mà lại chưa từng tuyên bố trong một cuộc họp rằng ông
ta “chống tham nhũng”? Hành động có sức thuyết phục hơn lời nói. Điều này lại
càng đúng với một nhân vật lẻo mép và thích hát hò như Giang Trạch Dân.
Việc Giang bất hiếu với người cha đẻ của mình, bất trung với
các tổ chức, và thiếu trung thực với nhân dân đã khiến ông ta trở thành kẻ “bất
nhân, bất nghĩa, bất lễ, bất trí, bất tín” [11] – một tên hề mang lại tai họa
cho đất nước Trung Hoa. Việc cho phép Giang Trạch Dân hoang ngôn và viết lại tiểu
sử chính là làm hại các thế hệ sau.
Tiểu sử của Giang, bạn có thể nói, tương ứng với cuộc đời của
ông ta: đầy rẫy dối trá và mâu thuẫn.
Nếu thế hệ chúng ta có thể đảm trách sứ mệnh là nhân chứng của
lịch sử, vậy thì hãy trả lại cho lịch sử bộ mặt thật của Giang Trạch Dân. Đây
là trách nhiệm không thể thoái thác của tất cả chúng ta.
Nguồn: http://vietdaikynguyen.com

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét