Phạm Nhật Bình
Trong vài thập niên gần đây, đặc biệt khu vực Á Châu, thế
giới chứng kiến những bước tiến vượt bậc về kinh tế của nhiều quốc gia nhỏ vừa thoát khỏi ách đô hộ thực
dân và tình trạng chiến tranh phân hóa kéo dài.
Sự đói nghèo, lạc hậu từng bước bị đẩy lùi trong bền vững của
chính sách phát triển từ công nghiệp đến nông nghiệp tùy theo tình hình thực tế
của mỗi nước. Nguồn vốn đầu tư của thế giới, quyết tâm của tầng lớp lãnh đạo
sáng suốt cộng với tinh thần tự nguyện lao động cần cù đem lại luồng gió mới
cho việc xây dựng một xã hội đồng tiến, dân chủ và ổn định. Nhưng không ai có
thể phủ nhận, một trong những yếu tố mang lại thành quả lớn lao cho những đất
nước ấy chính là chính sách giáo dục tiến bộ, hợp lý, nền tảng của sự phát triển
chung.
Việt Nam là nước luôn tự hào về tình trạng thành công của
mình sau hơn 30 năm đổi mới kinh tế nhờ quay lại những nguyên tắc căn bản nhất
của kinh tế thị trường. Tuy nhiên, với vốn vay ưu đãi từ nhiều nguồn trên thế
giới, Việt Nam chẳng những bị Thái vượt qua mà còn lần lượt thua cả Miến lẫn
Campuchia và được quốc tế đánh giá một cách vừa khôi hài vừa chua chát: một quốc
gia… không chịu phát triển.
Mới đây, trong một báo cáo thẩm tra của Ủy Ban Kinh Tế Quốc
Hội đã nêu lên một con số khiến bức tranh kinh tế – xã hội của Việt Nam càng trở
nên u ám.
Báo cáo nói trên cho biết hiện có trên 190.000 cử nhân, thạc
sĩ, tiến sĩ đang thất nghiệp, chưa kể trên 118 ngàn có trình độ cao đẳng và 60
ngàn trung cấp chuyên nghiệp… chưa tìm thấy việc làm.
Con số đáng buồn này tăng lên hàng năm, năm sau cao hơn năm
trước và được nói tới như một đề tài ngán ngẫm mà các nhà giáo dục trong nước
chưa tìm ra lối thoát.
Nhìn từ nhiều góc cạnh, có thể nói Việt Nam đang nằm trong
ba vấn nạn của tình trạng giáo dục khiến đất nước chẳng những không tiến lên mà
lại ngày càng thụt lùi.
Thứ nhất, việc đào tạo đội ngũ trí thức đã không đáp ứng được
nhu cầu đòi hỏi của xã hội. Nói cách khác, nhu cầu nhân lực cho phát triển xã hội,
kinh tế đi một đường, nhà trường đào tạo sinh viên một nẻo.
Theo quy hoạch của nhà nước đến năm 2020 sẽ có 460 trường đại
học, cao đẳng là một mức cung ứng vừa đủ. Thế nhưng, chỉ tính đến tháng 7/2014,
cả nước đã có tới 472 trường đại học, cao đẳng, một con số đáng ngạc nhiên. Hiện
tượng đua nhau lập trường đại học chưa ngừng lại không cho thấy điều gì đáng lạc
quan.
Hiện nay hầu như tỉnh nào cũng có ít nhất một trường đại học
mà mục đích là ganh đua vì danh tiếng “tỉnh nhà” hơn là nhằm giải quyết nâng
cao kiến thức sinh viên. Có nhiều trường đại học chưa có địa điểm, chưa có ban
giảng huấn hay chỉ có trên giấy tờ đã vội vã tổ chức “tuyển sinh” thu học phí.
Tình trạng ấy dẫn đến hậu quả chất lượng đào tạo rất kém so
với tình trạng chung của các quốc gia trong điều kiện tương tự. Thầy dạy lơ mơ,
sinh viên học lơ mơ, nên ra trường không thích ứng với nền kinh tế thị trường
năng động là điều dễ hiểu.
Thứ hai, nội dung giáo dục không giúp cho sinh viên tìm được
việc làm. Đây cũng là một vấn nạn cốt lõi mà nền giáo dục Việt Nam khó thể tự
vượt qua.
Để đáp ứng cho nhu cầu đất nước tiến lên và bản thân người
sinh viên, Việt Nam không có một triết lý giáo dục căn bản để noi theo. Trong
khi giáo dục kiến thức phổ thông chưa đủ sức để sinh viên nhận lãnh trách nhiệm
sau khi tốt nghiệp, giáo dục chính trị lại được nhà nước quan tâm đặc biệt, là
phần không thể thiếu để rèn luyện và nhào nặn sinh viên trung thành với chế độ.
Từ khi đảng CSVN nắm quyền trên cả nước, chủ nghĩa Mác-Lê
chiếm vị trí độc tôn trong đời sống chính trị, trong nhà trường và trong các kỳ
thi tốt nghiệp. Chủ trương sai lầm ấy trong những năm gần đây trở thành một
gánh nặng cho người học lẫn người dạy.
Nhưng nhà nước cộng sản vẫn cố thủ trong những giáo điều lạc
hậu từ những “Lê-Nin toàn tập” hoặc “Hồ Chí Minh toàn tập”, bắt thanh niên phải
nhai đi nhai lại đến nhàm chán. Thấy chưa đủ, thanh niên còn bị thúc đẩy học tập
noi gương “tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh” vốn chỉ là con số không.
Mặt khác, việc đào tạo ở nhà trường đại học hiện nay chú trọng
nặng về lý thuyết hơn thực hành. Hầu như không có trường đại học nào dám cam kết
chất lượng giáo dục của mình sau khi sinh viên ra trường. Do thiếu hướng khai
phá mở rộng tầm nhìn ra thế giới, sự thất nghiệp của các cử nhân, tiến sĩ trở
nên một hiện tượng phải xảy ra.
Thứ ba, không có đội ngũ giảng dạy thực tâm vì chuyên môn.
Hiện tượng giảng viên đại học thừa kiến thức chính trị nhưng thiếu kiến thức
chuyên môn khiến việc học và ngay cả việc giảng dạy trở nên khó khăn, không
mang lại kết quả mong muốn. Hàng năm số sinh viên tốt nghiệp vẫn tăng cao đều đặn,
nhưng các tân cử nhân ấy có đóng góp được gì cho xã hội thì không phải là trách
nhiệm của nhà trường.
Khi mảnh bằng của sinh viên ra trường không giúp họ tìm được
con đường sống thích hợp, nhiều bạn trẻ không ngần ngại hạ mình làm một loại thợ
trung cấp đủ mọi ngành nghề hay lui về quê lập trại chăn nuôi. Thậm chí có người
còn mang bảng đứng đường chỉ mong tìm được việc làm của các “ô-sin”, chưa kể
nhiều bạn trẻ ngậm ngùi giấu mảnh bằng đại học, chen chân tìm một chỗ bán sức
lao động ở nước ngoài.
Loay hoay hàng chục năm với nhiều đời bộ trưởng, các nhà
giáo dục Việt Nam vẫn không sao tìm thấy hai lối thoát căn bản: xây dựng một đội
ngũ giảng viên có phẩm chất cao và đào tạo sinh viên ra trường có đủ trình độ.
Vì thế, câu hỏi “Trí thức thất nghiệp, lỗi từ đâu” tưởng
không khó trả lời.
Nó xuất phát từ đảng lãnh đạo sai lầm nên những vấn nạn về
giáo dục nêu trên chỉ có một cách giải quyết duy nhất: đảng CSVN phải buông quyền
lực độc tôn theo đuổi cái gọi là mục tiêu xã hội chủ nghĩa.
Sau hơn 80 năm kềm kẹp người dân trong tối tăm, ngu dốt, thể
chế độc tài chính trị, bó hẹp tư tưởng con người của đảng CSVN đã hoàn toàn
không có khả năng đào tạo đội ngũ sinh viên trí thức phục vụ và điều hướng xã hội.
Sự bất lực ấy chỉ đưa đất nước vào vòng lạc hậu và nô lệ, không còn có thể kéo
dài.
Chỉ khi nào nền giáo dục không còn bị một chủ nghĩa ngoại
lai lỗi thời áp đảo, Việt Nam mới dễ dàng hướng tới một nền giáo dục nhân bản,
dân tộc và khai phóng, đủ sức có những đại học tầm cỡ quốc tế để đào tạo ra những
công dân toàn cầu đóng góp hiệu quả cho đất nước và thế giới.


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét