Vấn đề biên giới giữa các quốc gia dân tộc luôn luôn là vấn
đề phức tạp trong quá khứ, hiện tại và tương lai. Giải quyết các tranh chấp,
phân định biên giới giữa các nước lớn có tầm quan trọng đặc biệt đối với việc
duy trì hòa bình, an ninh, phát triển của khu vực, thế giới vì các siêu cường,
cường quốc và quan hệ giữa họ luôn giữ vai trò to lớn trong quan hệ quốc tế.
Nga (Liên Xô trước đây) và Trung Quốc là hai nước lớn có chung đường biên giới.
Trước và trong Chiến tranh Lạnh, giữa hai quốc gia đã xảy ra tranh chấp biên giới,
lãnh thổ và vấn đề biên giới chưa được giải quyết hoàn toàn để lại những kinh
nghiệm cho các thế hệ sau. Bài viết phân tích những nét chính về vấn đề biên giới
Nga (Liên Xô) – Trung Quốc thời kỳ trước
và trong Chiến tranh Lạnh và rút ra một số nhận xét về vấn đề này.
1. Những nét chính về vấn đề biên giới giữa Nga với Trung Quốc
trước và trong chiến tranh lạnh
Sự hình thành, phát triển của quốc gia dân tộc luôn gắn bó
chặt chẽ với biên giới quốc gia. Về cơ bản lãnh thổ và biên giới của Trung Quốc
hình thành ổn định vào triều đại Mãn Thanh (1644-1911). Sau cải cách nông nô
năm 1861, nước Nga tiến nhanh vào chủ nghĩa tư bản; cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ
XX, đế quốc Nga – “đế quốc phong kiến – quân phiệt” đã mở rộng lãnh thổ của
mình sang Châu Âu, Châu Á, nhiều nhất là về phía Đông (khu vực Xibêri và Viễn
Đông) và phát triển ảnh hưởng ở Đông Bắc Á.
Trong khoảng thời gian từ sau Chiến tranh Nha phiến giữa
Trung Quốc với Anh (1840-1842) đến cách mạng Tân Hợi năm 1911, do suy yếu, bạc
nhược và thất bại, triều đình phong kiến Mãn Thanh Trung Quốc đã buộc phải ký rất
nhiều hiệp ước bất bình đẳng với các cường quốc thực dân Âu – Mỹ mà kết quả là
mất nhiều đất, phải bồi thường chiến phí và phụ thuộc vào các nước châu Âu và
Hoa Kỳ([1]).
Thời kỳ trước Đại chiến Thế giới thứ nhất, nước Nga có ảnh
hưởng lớn ở Trung Quốc, các biểu hiện là: năm 1895 Nga thành lập Ngân hàng Nga
– Trung, 1896 Nga Hoàng và Mãn Thanh ký Hiệp ước liên minh chống Nhật Bản, Nga
xây dựng và khai thác tuyến đường sắt Đông Trung Quốc (từ Hắc Long Giang, Cát
Lâm đến Hải Sâm Uy), 1898 Trung Quốc cho Nga thuê bán đảo Liêu Đông và pháo đài
Đại Liên, 1900 Nga Hoàng đưa quân tới Mãn Châu Lý, 1903 Nga và Nhật đàm phán về
số phận Mãn Châu Lý và Triều Tiên không đi đến kết quả([2]).
Năm 1917, nước Nga Xô Viết thành lập sau thắng lợi Cách mạng
Tháng Mười Nga, năm 1922 Liên Xô ra đời.
Năm 1949 Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được tuyên bố thành lập sau chiến thắng của
Đảng Cộng sản Trung Quốc trong nội chiến với Quốc Dân đảng. Vấn đề biên giới Xô
– Trung trở thành một vấn đề quan trọng trong quan hệ Xô – Trung. Đã diễn ra sự
tranh chấp và giải quyết vấn đề biên giới giữa hai nước xã hội chủ nghĩa lớn nhất
trong thời gian Chiến tranh Lạnh, điều này thể hiện như sau:
Thứ nhất, gián tiếp liên quan đến vấn đề biên giới Xô –
Trung là vấn đề Cộng hòa Nhân dân Mông Cổ. Mông Cổ – quốc gia nằm giữa Liên Xô
và Trung Quốc có lịch sử bi hùng. Năm 1921 với sự giúp đỡ của nước Nga Xô Viết,
Mông Cổ làm cách mạng thành công và tuyên bố đi lên chủ nghĩa xã hội. Lãnh đạo
Trung Quốc luôn có ý định sát nhập Mông Cổ vào Trung Quốc. Điều này gặp phải sự
phản đối của Liên Xô và chính Mông Cổ. Các nhà lãnh đạo Xô Viết phản đối Trung
Quốc “thôn tính” Mông Cổ do Liên Xô cần một đồng minh láng giềng Mông Cổ tồn tại,
cần Mông Cổ làm “phên dậu” ngăn cách giữa Liên Xô với Trung Quốc và không bao
giờ muốn có một nước Trung Quốc hàng xóm mở rộng biên giới quốc gia, lớn mạnh.
Năm 1936, khi nói chuyện với nhà báo Hoa Kỳ E. Snow, lãnh tụ
Mao Trạch Đông đã khẳng định dự định sau khi Đảng Cộng sản lên nắm chính quyền ở
Trung Quốc sẽ đưa Mông Cổ gia nhập nước Trung Hoa mới([3]).
Lãnh đạo Trung Quốc đã đề cập trực tiếp vấn đề trên với lãnh
đạo Liên Xô. Mùa xuân 1949 khi thắng lợi trong nội chiến Quốc – Cộng đã nằm
trong tầm tay Đảng Cộng sản, Chủ tịch Mao Trạch Đông đã nêu kiến nghị với Tổng
Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô Xtalin về việc sát nhập Mông Cổ vào Trung Quốc,
Xtalin trả lời Mao Trạch Đông rằng Liên Xô không nghĩ đến việc Cộng hòa Nhân
dân Mông Cổ sẽ từ bỏ nền độc lập của mình và việc Mông Cổ gia nhập Trung Quốc
hoàn toàn công việc nội bộ, tự quyết của nhân dân Mông Cổ([4]). Năm 1954, khi
Trung Quốc kỷ niệm 5 năm ngày thành lập Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa với sự tham
dự của đoàn đại biểu Liên Xô và đoàn đại biểu Mông Cổ tại Bắc Kinh Trung Quốc lại
đặt vấn đề trên với Liên Xô, Mông Cổ và Liên Xô, Mông Cổ đã bác bỏ yêu cầu
đó([5]).
Các tài liệu Trung Quốc luôn luôn khẳng định Mông Cổ là một
phần của Trung Quốc. Trong sách “Tóm tắt lịch sử các dân tộc Mông Cổ” xuất bản
năm 1977 tại Trung Quốc ở trang đầu khẳng định, Mông Cổ là một bộ phận của
Trung Quốc; trong tạp chí “èýớóúửỗú” in ở Trung Quốc số 2-1994, khi phân tích
các sự kiện xảy ra ở hồ Khaxan năm 1938 và khu vực sông Khankingôn năm 1939
(nơi xảy ra chiến tranh giữa liên quân Liên Xô – Mông Cổ với quân đội Nhật Bản)
tác giả bài viết đã khẳng định rằng: Mông Cổ là một bộ phận của Trung Quốc và
được gọi là Nội Mông([6]).
Thứ hai, Liên Xô và Trung Quốc đã tranh chấp và giải quyết vấn
đề biên giới Xô – Trung trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh. Sự vận động vấn đề biên
giới giữa Liên Xô với Trung Quốc trong thời gian từ 1949-1991 có thể chia làm
các giai đoạn: 1949-1960, 1960-1969, 1970-1991.
Trong giai đoạn 1949-1960: Liên Xô và Trung Quốc liên minh với
nhau, cùng chống chủ nghĩa đế quốc, hai nước đã tranh luận về vấn đề biên giới,
bước đầu bàn biện pháp để hợp tác phân định biên giới chung.
Sau Hiệp ước hữu nghị, liên minh và tương trợ lẫn nhau ký giữa
lãnh đạo cao cấp Liên Xô và Trung Quốc ngày 14 tháng 2-1950([7]), quan hệ Xô –
Trung phát triển. Một số minh chứng là: Chính phủ Liên Xô cho Trung Quốc vay
dài hạn 520 triệu rúp, giúp Trung Quốc xây dựng mới 15 xí nghiệp công nghiệp và
cung cấp thiết bị để cải tạo, mở rộng 141 xí nghiệp([8]).
Về vấn đề biên giới quốc gia, năm 1951 Trung Quốc xuất bản
“Bản đồ các tỉnh Trung Quốc” trong đó nhiều lãnh thổ đang xảy ra tranh chấp giữa
Trung Quốc với các nước láng giềng xung quanh như Triều Tiên, Mông Cổ, Cadắcxtan,
Cưdơgưxtan, Ápganixtan, Ấn Độ, Liên Xô… được xem là phần đất của Trung Quốc.
Theo yêu cầu của Trung Quốc năm 1952, Đại sứ Liên Xô tại Bắc Kinh đã chuyển cho
Chính phủ Trung Quốc bản đồ chi tiết biên giới Xô – Trung do Liên Xô vẽ trên đó
ghi nhiều điểm Liên Xô đang chiếm giữ, theo quan điểm của Liên Xô là đất của
Liên Xô mà Trung Quốc tự nhận là lãnh thổ của mình theo Át lát Trung Quốc 1951;
về bản đồ này Trung Quốc không có ý kiến phản bác([9]).
Do sự phản đối từ các nước láng giềng, năm 1953 Trung Quốc
in bản đồ Trung Quốc mới với một số sửa chữa so với bản đồ năm 1951, nhiều vùng
đất đang xảy ra tranh chấp giữa Trung Quốc với các nước láng giềng đã được
Trung Quốc “trả lại” như với Ápganixtan (là tỉnh Bađátxan), đối với Liên Xô (là
tỉnh miền núi Bađátxan)… Theo bản đồ này, biên giới Xô – Trung theo hệ thống
núi phía bắc khu vực Carátcôrun và vùng Ur-Ben là “chưa xác định”. Cần lưu ý rằng
trong thời gian này, lãnh đạo Trung Quốc không công nhận các hiệp ước bất bình
đẳng mà nhà Thanh đã ký với các cường quốc Âu, Mỹ vì Bắc Kinh cho rằng trong
các hiệp ước này các nước đế quốc thực dân đã “lấy và cướp đi” rất nhiều đất của
Trung Quốc. Trong vấn đề biên giới quốc gia, Trung Quốc không thừa nhận các hiệp
định mà triều đình Mãn Thanh đã ký với thực dân Anh cuối thế kỷ 19 lấy dãy
Himalaya làm biên giới giữa Trung Quốc với các thuộc địa của Anh và Hiệp ước
Lítva ký năm 1879 phân định biên giới giữa Nga Hoàng và Trung Quốc Mãn
Thanh([10]).
Trong giai đoạn 1960-1969, quan hệ Liên Xô và Trung Quốc xấu
đi, hai nước thi hành chính sách đối đầu, thù địch với nhau và đã xảy ra chiến
tranh biên giới Xô – Trung năm 1969.
Cuộc đàm phán lần thứ nhất về biên giới Xô – Trung được tiến
hành từ tháng 2 đến tháng 7 năm 1964, trong vòng đàm phán này hai bên đã trao đổi
bản đồ, đạt được sự nhất trí miệng về đường biên giới phía Đông, nhưng chưa ký
được hiệp định chính thức nào coi như hội đàm không có kết quả([11]). Do đó,
tháng 9-1964, Trung Quốc yêu cầu xét lại các vùng lãnh thổ Châu Á mà các hoàng
đế Trung Hoa đã để mất vào tay Nga Hoàng ở thế kỷ XIX([12]). Tháng 8-1968 quân
đội khối Vácxava do Liên Xô lãnh đạo vào thủ đô Praha và cứu chủ nghĩa xã hội ở
Tiệp Khắc, ngày 23-8-1968 trong buổi tiếp Đại sứ Rumani tại Bắc Kinh Thủ tướng
Trung Quốc Chu Ân Lai lần đầu tiên đã gọi Liên Xô là “đế quốc xã hội chủ
nghĩa”, “Đại bá Xô Viết”([13]).
Mâu thuẫn Xô – Trung phát triển gay gắt dẫn tới chiến tranh
biên giới Xô – Trung. Lực lượng vũ trang Liên Xô và quân đội Trung Quốc đã đánh
nhau ở các đảo thuộc vùng Đaman trên sông Ussuri (Nga) tháng 3-1969 và khu vực
Dalanacôn (Cadắcxtan) vào tháng 8-1969 và một số điểm khác trên biên giới Xô –
Trung. Xung đột giữa Liên Xô và Trung Quốc ở biên giới được chấm dứt sau khi diễn
ra cuộc gặp giữa Thủ tướng Liên Xô Côxưgin và người đồng cấp Trung Quốc Chu Ân
Lai tại sân bay Bắc Kinh ngày 11-9-1969, lãnh đạo hai nước đạt thỏa thuận về
đình chiến ở biên giới và mở cuộc đàm phán để giải quyết các tranh chấp([14]).
Đàm phán lần thứ hai về biên giới giữa Liên Xô với Trung Quốc
diễn ra trong gần 9 năm, từ tháng 10-1969 đến tháng 6-1978 và vẫn không đi đến
kết quả cuối cùng. Đầu tháng 10-1969, cuộc đàm phán Trung – Xô về biên giới giữa
hai nước bắt đầu tiến hành ở Bắc Kinh, nhưng quan điểm hai bên hoàn toàn khác
nhau: phía Trung Quốc cho rằng vùng tranh chấp biên giới giữa Liên Xô và Trung
Quốc có diện tích khoảng 33.000 km2 còn bên Liên Xô chỉ đồng ý giải quyết tranh
chấp biên giới chung giữa hai nước theo các hiệp ước ký cuối thế kỷ XIX giữa
Nga Hoàng với chính quyền Mãn Thanh, do đó hội đàm giữa hai nước không có kết
quả([15]).
Mặt khác, theo hồi ký của nguyên Ngoại trưởng Trung Quốc Tiền
Kỳ Thâm – nhà ngoại giao lão thành đã tham gia đàm phán giữa Trung Quốc với Liên Xô về bình thường
hóa quan hệ giữa hai nước và phân định biên giới Xô – Trung: “Do những nguyên
nhân lịch sử, đoạn biên giới trên sông Amur (sông Hắc Long) giữa Trung Quốc và
Liên Xô thời nhà Thanh chỉ đơn giản lấy sông làm biên giới chứ không hoạch định
cụ thể và nghiêm túc. Phía Liên Xô vẫn đứng trên lập trường ngang ngược của Nga
Sa hoàng, tuyên bố biên giới Trung Quốc cần được hoạch định theo đường ven sông
giới tuyến (sông giáp ranh) thuộc phía Liên Xô. Nếu như vậy, các đảo trên sông
nghiễm nhiên thuộc về phía Liên Xô, trong khi các sông Hắc Long và Ô Tô Lý đã
là những sông thuộc lãnh thổ Liên Xô. Phía Trung Quốc đương nhiên không thể nhất
trí mà chủ trương căn cứ luật pháp và thông lệ quốc tế, cần vạch trung tâm trên
đường lưu thông chính của sông giáp ranh làm đường biên giới chung. Năm 1969
xung đột đẫm máu xảy ra ở đảo Trân Bảo giữa hai nước suy cho cùng cũng do nguyên nhân này”([16]).
Về chiến tranh biên giới Xô – Trung (nhiều tác giả trong và
ngoài nước gọi là xung đột biên giới Xô – Trung), trong Tuyên bố của Chính phủ
Trung Quốc ngày 8-10-1969, Thủ tướng Chu Ân Lai khẳng định Trung Quốc sẽ giải
quyết các tranh chấp, bất đồng về biên giới với các nước trên cơ sở công bằng,
thông qua thương lượng hòa bình, không sử dụng vũ lực([17]).
Giai đoạn thứ ba 1970-1991: trong hơn 10 năm đầu quan hệ giữa Liên Xô với Trung
Quốc vẫn ở thế đối đầu, chỉ vào cuối những năm 1980 hai nước tiến hành cải thiện
quan hệ, bình thường hóa, đàm phán và bước đầu giải quyết vấn đề biên giới Nga
– Trung.
Sau chiến tranh biên giới Xô – Trung, cả Liên Xô và Trung Quốc
đều đưa ra các kiến nghị nhằm giải quyết vấn đề biên giới giữa hai nước.
Năm 1971, Liên Xô đề nghị Trung Quốc và Liên Xô ký Hiệp ước
không sử dụng vũ lực trong quan hệ với nhau, 1973 lãnh đạo Liên Xô lại kiến nghị
ký Hiệp định không tấn công nhau giữa hai nước, song Bắc Kinh đã bác bỏ hai yêu
cầu trên của Mátxcơva. Ngày 26-2-1978, báo cáo trước Quốc hội Trung Quốc, Chủ tịch
Hoa Quốc Phong cho rằng: “Để cải thiện quan hệ giữa Liên Xô và Trung Quốc, Liên
Xô phải rút các lực lượng vũ trang ra khỏi các vùng biên giới tranh chấp Xô –
Trung, rút quân ra khỏi Mông Cổ, khôi phục biên giới Xô – Trung về hiện trạng đầu
những năm 1960…”; Ngày 9-3-1978, Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã chuyển công hàm với
nội dung như trên cho V.S. Tônschicốp Đại sứ Liên Xô tại Bắc Kinh([18]).
Liên quan đến quan hệ và biên giới giữa Liên Xô với Trung Quốc
cuối năm 1979, quân đội Xô Viết tiến vào Cabun, Chính phủ Trung Quốc ra tuyên bố
phản đối và yêu cầu rút quân đội Liên Xô ra khỏi Ápganixtan và theo báo “Nhân
dân nhật báo” hành động đưa quân vào Ápganixtan của Mátxcơva đã tạo ra “sự đe dọa
với an ninh Trung Quốc từ hướng Tây”([19]).
Quan hệ giữa Liên Xô với Trung Quốc được cải thiện, tiến tới
bình thường hóa chỉ sau khi Đại hội XII của Đảng Cộng sản Trung Quốc (1982) xác
định lấy phát triển kinh tế làm nhiệm vụ trọng tâm thay cho trước đó lấy đấu
tranh giai cấp là động lực phát triển của xã hội và thực thi chính sách đối ngoại
hòa bình, Liên Xô từ 1985 thực hiện “Cải tổ” từ đối đầu chuyển sang đối thoại với
các “đối thủ” trước đó.
Về phía Trung Quốc: năm 1982, Đảng Cộng sản Trung Quốc họp Đại
hội XII xác định hòa bình và phát triển là xu thế chính dòng chủ lưu của thời đại
và quyết định phát triển kinh tế đất nước là nhiệm vụ trọng tâm, thực hiện
chính sách đối ngoại hòa bình, chuyển trọng tâm đối ngoại từ ý thức hệ và đấu
tranh giai cấp sang lấy lợi ích quốc gia dân tộc làm hàng đầu. Trong quan hệ với
Liên Xô, Trung Quốc chủ trương đàm phán tiến tới bình thường và giải quyết phân
định biên giới Trung – Xô theo quan điểm của Bắc Kinh. Mùa hè 1982, Trung Quốc
chính thức yêu cầu Liên Xô giải quyết 3 trở ngại lớn trong quan hệ giữa hai nước([20]).
Gặp gỡ và đàm phán Trung – Xô về bình thường hóa quan hệ và phân định biên giới
giữa hai nước đã được thực hiện trong thập niên 80 thế kỷ XX từ cấp Vụ trưởng đến
Thứ trưởng, Bộ trưởng, Phó Thủ tướng và cấp cao nhất – Nguyên thủ quốc gia.
Về phía Liên Xô, sau nhiều năm đối đầu Xô – Trung, tháng 3-1982
tại Tasken (thủ đô Udơbêchxtan) của Liên Xô nhà lãnh đạo Xô Viết Brezhnev phát
biểu thừa nhận Trung Quốc là nước xã hội chủ nghĩa, chủ quyền của Trung Quốc đối
với Đài Loan và tuyên bố sẵn sàng cải thiện quan hệ với Trung Quốc. Tiếp theo
đó, trong tuyên bố của Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô Goócbachốp ở Vlađivốtxtốc
(7-1986) và Crátxnôđarơ (9-1988), Liên Xô điều chỉnh chính sách với khu vực
Đông Bắc Á, theo đó: Liên Xô sẽ giảm quân đội ở phía Đông và rút hết lực lượng
vũ trang từ Mông Cổ về nước, tiến tới bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc([21]);
điều cần lưu ý là tại Vlađivốtxtốc, Goócbachốp đã chấp nhận lập trường của
Trung Quốc về vấn đề biên giới giữa hai nước, đồng ý phân chia đường biên giới
trên sông Amur (sông Hắc Long) theo chỉ giới trung tâm trên đường lưu thông
chính. Năm 1989 là năm quyết định trong quan hệ Xô – Trung: vào mùa xuân năm
này Liên Xô đã rút hết lực lượng vũ trang từ Ápganixtava và Mông Cổ về nước, giảm
quân ở biên giới Xô – Trung, tháng 5-1989 Goócbachốp đi thăm chính thức Trung
Quốc, Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô Viết và Cộng hòa nhân dân Trung
Hoa tuyên bố quan hệ giữa hai nước và hai đảng cộng sản bình thường hóa hoàn
toàn([22]).
Trong bối cảnh đó, Liên Xô và Trung Quốc đã trở lại thảo luận
và phân định về biên giới Xô – Trung.
Cuộc đàm phán về biên giới Xô – Trung lần thứ ba diễn ra từ
tháng 2-1987 tại Mátxcơva ở cấp thứ trưởng ngoại giao. Trong 3 vòng đàm phán của
cuộc đàm phán lần ba này Liên Xô và Trung Quốc đã đạt được phần lớn nội dung hiệp
định nguyên tắc về đoạn biên giới phía Đông. Đoạn biên giới phía Tây phức tạp
hơn, hai nước đã nhất trí nguyên tắc hoạch định và đồng ý thành lập nhóm chuyên
gia công tác thảo luận cụ thể, thành lập đội chụp ảnh hỗn hợp từ trên không…
Theo nguyên Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Trung Quốc Tiền Kỳ Thâm thì tiến triển của
cuộc đàm phán thứ ba đã giúp làm hòa hoãn tình trạng đối đầu gay gắt về đường
biên giới, trở thành một bộ phận thúc đẩy quan hệ song phương giữa Trung Quốc với
Liên Xô.
Sau khi bình thường hóa quan hệ giữa Liên Xô và Trung Quốc
năm 1989, vấn đề biên giới Xô – Trung đã bước đầu được giải quyết: 16-5-1991
Nga và Trung Quốc đã ký Hiệp định biên giới phía Đông giữa hai nước, theo Hiệp
định này biên giới phía Đông Nga – Trung dài 4375 km được phân định bằng đường
trung tuyến các con sông Amua, Ussuri, Tuman và khoảng 1500 ha đất, đảo Đaman
trên sông Ussuri chuyển về Trung Quốc([23]). Tuy nhiên, cuối năm 1991, Liên Xô
tan rã và vấn đề biên giới Xô – Trung vẫn chưa được giải quyết hoàn toàn.
2. Một số nhận xét về vấn đề biên giới Nga – Trung trước và
trong Chiến tranh Lạnh
Từ tranh chấp, giải quyết vấn đề biên giới giữa Nga (Liên
Xô) với Trung Quốc trước và trong Chiến
tranh Lạnh có thể rút ra các nhận xét sau:
Một là, vấn đề biên giới quốc gia là một vấn đề liên quan tới
tương quan lực lượng giữa các nước trong quan hệ quốc tế. Khi quốc gia mạnh,
biên giới, lãnh thổ của nó được mở rộng và ngược lại khi suy yếu lãnh thổ, biên
giới của một nước thường bị thu hẹp lại. Trung Quốc thời Mãn Thanh do suy nhược
buộc phải ký các hiệp ước bất bình đẳng với các cường quốc đế quốc, mất nhiều lợi
ích, trong đó có đất đai và các khu vực ảnh hưởng. Trong tranh chấp, giải quyết
vấn đề biên giới giữa Liên Xô và Trung Quốc thời kỳ Chiến tranh Lạnh, một lần nữa
Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa lại bị lép vế và thua thiệt do quốc lực yếu hơn
Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô Viết (tính bình quân từ năm 1953 đến năm
1980: tổng GDP của Liên Xô gấp 2,5 lần tổng GDP của Trung Quốc, cụ thể: trong
thời gian đó Liên Xô chiếm độ 10% GDP thế
giới, tổng GDP của Trung Quốc đạt khoảng 4%)([24]).
Hai là, vấn đề biên giới giữa Liên Xô và Trung Quốc liên
quan trực tiếp đến lợi ích quốc gia của hai nước. Dù trong thời kỳ Chiến tranh
Lạnh, hệ tư tưởng là nhân tố cực kỳ quan trọng để tập hợp lực lượng, xây dựng
các liên minh, song lợi ích quốc gia dân tộc vẫn là nhân tố giữ vai trò rất
quan trọng trong quan hệ quốc tế. Chính do đặt lợi ích về biên giới quốc gia
nói riêng cũng như lợi ích quốc gia dân tộc nói chung cao hơn hệ tư tưởng (chủ
nghĩa Mác – Lênin) và chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân nên Liên Xô,
Trung Quốc đã không nhân nhượng nhau và không giải quyết được tranh chấp về
biên giới chung giữa hai nước, để xảy ra xung đột và chiến tranh biên giới 1969
giữa hai nước xã hội chủ nghĩa lớn nhất.
Ba là, vấn đề biên giới giữa Liên Xô và Trung Quốc liên quan
đến quan hệ Xô – Trung, Hệ thống xã hội
chủ nghĩa thế giới và Phong trào cộng sản quốc tế. Việc Liên Xô, Trung Quốc
không giải quyết được vấn đề biên giới chung và xây dựng biên giới Xô – Trung
thành biên giới hòa bình, hữu nghị giữa hai nước đã góp phần làm cho mâu thuẫn
Xô – Trung phát triển trầm trọng, gay gắt; đây là một trong những nguyên nhân
quan trọng dẫn tới sự khủng hoảng, sụp đổ của Liên Xô, Hệ thống xã hội chủ
nghĩa thế giới và làm cho Phong trào cộng sản quốc tế suy yếu, “tạm lâm vào
thoái trào”.
Tóm lại, Vấn đề biên giới giữa Nga (Liên Xô) với Trung Quốc
đã tồn tại và chưa được giải quyết hoàn toàn ở thời kỳ trước và trong Chiến
tranh Lạnh. Trong bối cảnh quan hệ Xô – Trung thăng trầm, trong thời gian Chiến
tranh Lạnh, Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô Viết và Cộng hòa Nhân dân
Trung Hoa là đối thủ và đối địch nhau, quan điểm về phân chia biên giới giữa
hai nước khác nhau, tất yếu vấn đề biên giới Xô – Trung chưa được giải quyết
triệt để. Nghiên cứu vấn đề biên giới Nga – Trung thời kỳ này để lại kinh nghiệm
lịch sử là: để giải quyết vấn đề biên giới giữa các quốc gia dân tộc, các bên cần
tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau, bình đẳng, đấu tranh
và hợp tác giải quyết mọi bất đồng, tranh chấp theo thông lệ và luật pháp quốc
tế, thông qua thương lượng và đàm phán hòa bình, không sử dụng vũ lực, chiến
tranh.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét