Đất Nam Kỳ đã được các sĩ quan Hải quân Pháp và các chuyên
viên cai trị thời chiếm đóng tra hỏi, ghi chép. Nhưng Thất Sơn của Đại Nam Nhất
Thống Chí không giống với của dân thường. Có bao nhiêu giả thiết về chỉ danh
riêng của Bảy Núi để trở thành Thất Sơn? Các khác biệt về sự xác quyết là tên
núi này mới đúng hơn núi nọ trong sự sắp xếp Thất Sơn có phản ảnh được một tâm
trạng, một sự kiện văn hóa nào không? Hà Tiên nổi tiếng một thời lại không được
dò hỏi kĩ hơn Hội An dù là đặt trong tầm mức so sánh tương đối. Ngoài Hà Tiên Mạc
thị sử, ngoài Thực lục, Liệt truyện, các du kí của người Tây phương, sử Xiêm
La, còn gì có thể tìm được bên trong các căn nhà ngói thấp đóng cửa bằng chấn
song gỗ, bằng các tấm ván cài ngang, còn gì bên bức tường thành cũ đổ nát rêu
phong? Hà Tiên hẳn không chỉ liên lạc với biển Ðông bằng vịnh Thái Lan mà còn
xuyên qua các sông rạch của bán đảo Cà Mau, theo triển vọng khảo sát đó, có thể
xem nó như một Óc Eo của thời cận đại không?
Một sai lầm sử học căn bản nảy sinh từ quan niệm cho rằng lịch
sử phải là cái gì dính dấp với một thời rất xưa. Và vì vậy chỉ riêng về mặt văn
bản, người ta cố đi tìm các tài liệu chữ Hán, chữ Nôm. Danh tiếng
"xưa" của chúng lại được yểm trợ không phải vì độ dài thời gian mà vì
sự cách biệt với quá khứ từ khi chữ quốc ngữ ngự trị. Và ở đây nổi lên vấn đề
phải xét lại những lời tán dương thứ chữ la tinh hóa về mặt ghi âm này đã giúp
cho VN đi sâu vào khuôn khổ thế giới hóa, như một phương tiện tiếp cận sát với
văn minh Tây phương hơn các nước Ðông Á, Ðông Nam Á khác. (Chúng tôi đã nghe lời
tán dương này lần đầu tiên từ Giáo sư Marie Dufeil ở Ðại học Văn khoa Sài Gòn
niên khóa 1958-59, ông giáo sư chắc không ngờ rằng chỉ một câu vỏn vẹn đã mở lối
cho chúng tôi đi vào con đường nghiên cứu. Phải nhắc lại ở đây để nói lên được
một lời cảm ơn đối với người thầy không biết còn hay mất). Thực tế cuối thế kỉ
này đã chứng thực khác đi. Thái Lan viết chữ ngòng ngoèo, Ðại Hàn đóng khung
hình vuông cho âm vận của mình vẫn bỏ xa Việt Nam đừng nói đến Trung Hoa, Nhật
Bản. Bỏ chữ Hán - theo đó là chữ Nôm - đã làm cho người Việt gần như đoạn tuyệt
với quá khứ đến nỗi trên tấm bảng giới thiệu đi vào cụm lăng họ Mạc Hà Tiên người
ta đã viết sai cả chữ Hán (con cháu dân Trung Hoa lưu vong đấy!) và tâm lí đi
tìm đồ xưa dẫn đến sự coi thường tài liệu chữ quốc ngữ.
Bây giờ nếu có sinh viên nào ví dụ muốn làm chuyên khảo về một
làng ở Nam Kì hồi đầu thế kỉ này chẳng hạn, anh ta sẽ tìm nơi đâu? Ðã có một
Văn khố Sài Gòn nhưng đó là chuyện "lớn lao", vậy mà cũng mất lần.
Báo chí Nam Kì dồi dào là thế, vậy mà trước năm 1975, ví dụ như Lục Tỉnh tân
văn chỉ còn được các số khoảng 1924, 25 gì đó. Biến cố 1975 làm tan rã thêm các
thư viện gia đình như thư viện nhà họ Trần mà Phạm Quỳnh đã đến thăm và khen ngợi.
Giấy tờ lưu giữ trong nhà chạy ra ngoài theo nhu cầu gói hàng, "tái sinh",
một phần vì nghèo đói, phần lớn vì sợ hãi như lệnh của Phường bắt nộp sách cũ
làm chúng tôi mất một số sách học thời thi chữ nho, sợ hãi như có người ở Hóc
Môn đã than rằng không dám giữ một toa thuốc tây. Tuy nhiên trước 1975, khi làm
luận án, một người bạn trẻ Cai Lậy đã giúp tìm được một mớ tài liệu của làng X.
ở Mĩ Tho, nơi ông nội bạn ấy làm Hương Cả và lưu giữ trong một vò đất gửi đâu
đó trong một làng mất an ninh.
Và có lẽ cũng nên nói ngoài đề đến một vùng trống trong quyển
sử VN: vùng Tây nguyên. Ở đây không phải là vấn đề tìm tài liệu mà là sự công
chính cần phải có trong một quốc gia đa dân tộc. VNDCCH đã chú tâm đào tạo được
một lớp người nghiên cứu các dân tộc Miền Bắc, và sau 1975 theo đà đó đã có đủ
cán bộ khảo sát các dân tộc ở Tây Nguyên với các công trình in ấn đầy đủ, khá
dày. Nhưng nếu mục đích tìm hiểu các dân tộc ít người là để chính quyền có cơ sở
điều hành đất nước một cách công bằng, tôn trọng các thành phần yếu kém thì rõ
ràng điều ấy đã không đạt được. Chưa kể là người ta đã không quan tâm đến những
điều đã được khảo sát, trình bày khiến các quyển sách kia trở thành một thứ trò
chơi kiến thức, một phương tiện để có mảnh bằng. Người ta vẫn cứ dồn dân định
canh định cư, tạo ra một thứ nghèo khó cùng cực mới mà không có gì bù đắp được
sự thoải mái trong khung trời to rộng xưa. (Vậy mà cứ bắt các ông văn sĩ đi thực
tế để viết bài ca tụng khiến ông Vũ Hạnh nay không thấy ra "mùa xuân trên
đỉnh non cao" nên đành cắn bút ngậm miệng). Quan điểm dân tộc lớn (không
riêng gì ở người cộng sản) khiến hơn một triệu người ở đấy không có chỗ đứng
nào trong quyển lịch sử VN ngày nay cả trong lúc các dân tộc thiểu số ở Miền Bắc
ít ra cũng được nhắc tới vai trò phù trợ, chia xẻ quyền hành trong tranh chấp với
các chính quyền Thăng Long. Ấy vậy mà các ông Pơ Tao của Hỏa Xá, Thủy Xá đã được
nhắc trong sử sách của họ Nguyễn, nhà Nguyễn và tài liệu du kí của người Pháp
ví dụ như của Le Maitre đã cho thấy những cộng đồng có thật nhiều biến chuyển hồi
cuối thế kỉ trước, đầu thế kỉ này.
Quá khứ xa, quá khứ gần khiến ta hiểu được cái này mà không
thể không liên tưởng, không hiểu cái kia. Ðọc một tờ báo xuất hiện tại Hà Nội
phê bình về một làng (một hợp tác xã) chận dân làng khác không cho cày cấy khu
ruộng rủi ro nằm sâu vào trong khu vực của mình khiến ta nhớ tới các lệnh của
thế kỉ XV cấm làng xã không được ngăn chận dân xã khác đến làm ruộng trong khu
vực của tập hợp ngăn chận. Vào thời kì "sáng tạo" ra chính sách huyện
tỉnh tự trị ngân sách, phát triển gì đó, người ta ghép các tỉnh cũ thành một tỉnh
lớn không kể đến thực tế quá khứ, khả năng hiện tại khiến phát sinh ra những tập
họp khu vực què quặt, ủng oẳng nhau đến mức độ thù hận nhỏ mọn không tưởng tượng
nổi. Ví dụ tỉnh Nghĩa Bình dài xòng xọc khiến người dân gần Quảng Nam chẳng hạn
nếu cần kêu van gì với ông trời nhỏ ở tỉnh lị Quy Nhơn thì phải cơm đùm cơm vắt
đi trên 200 cây số, còn Quy Nhơn vốn của Bình Ðịnh cũ lại chịu đựng các ông trưởng
đủ ngành gốc dân Quảng Ngãi ít nhiều gì cũng như người ở đất địch, hung hăng mà
không an tâm. Thế là chia tỉnh. Giống như anh em chia phần điền sản cha mẹ,
chia từng cái bàn cái ghế, gấu ó, đánh nhau, thưa kiện lên quan. Ðây không phải
là chuyện dụ ngôn. Phú Yên và Khánh Hoà giành nhau Vũng Rô đến mang vũ khí ra
suýt đánh nhau thật sự rồi khi Quốc hội xử Vũng Rô về Phú Yên thì Khánh Hòa đã
dỡ mất cái cầu tàu! Rồi các tỉnh Miền Bắc họp nhau trong hơn 30 năm cũng theo
đà mà tan rã, chia lại. Không thấy tiết lộ chuyện thụi nhau nhưng chắc cũng
theo truyền thống "bằng mặt chẳng bằng lòng".
Từ đó ta có một hướng suy nghĩ mới về người CSVN: một chủ
thuyết ngoại lai đem về áp dụng trong nước với thật nhiều nhiệt tình, phần nào
là của tổ quốc lớn XHCN, phần nào là của người anh em lớn Thiên triều thời
"Ðông phương hồng", phần nào là phản ứng của người trong nước, của từng
thành phần địa phương trong nước mang nặng tính chất thuần phục, cam chịu hay
ương bướng xỉa xói, luồn lách qua thời? Stalin bỏ tù Hồng quân cựu tù binh Ðức,
Lê Ðức Thọ hành hạ những đồng chí trung kiên với Ðảng nhưng rủi ro là cựu tù
VNCH, các điều ấy giống nhau, khác nhau chỗ nào? Có người so sánh chuyện chơi
gái cò con của Hồ Chí Minh thật tội nghiệp so với Mao Trạch Ðông ngang nhiên
tuyển lựa cung tần. Và chuyện Lê Ðức Thọ bắt tù binh VNCH làm giả nhà cửa cục R
có phần nào giống với chuyện các đảng phái chống cộng làm giả hiện trường lừa Ủy
Hội Quốc Tế năm 1956? Ðất nước đâu có giản dị như những lời tung hô thần thánh
hay chống đối ngược ngạo? Có như vậy mới có chuyện sau 75 du kích về lùng diệt
bằn bỏ nghĩa quân rồi sau đó dân ngụy vào làm hội đồng xã, chỉ cần đổi ngôn từ
là tha hồ ăn trên ngồi trước.
Bạn trẻ lưu vong - hay con nhà lưu vong - sẽ thắc mắc:
"Nói làm gì điều ấy với chúng tôi?" Trong thực tế cơm áo ở xứ người,
khó có ai chú ý ngay đến các vấn đề xã hội, nhân văn. Ngay trong nước người ta
cũng đã than vãn về tình trạng già cỗi, buông bỏ trong giới nghiên cứu xã hội
nhân văn trước đà làm ăn đổi mới huống hồ gì người ở nước ngoài. Danh vị kĩ sư,
bác sĩ của lớp người trước vẫn còn đeo đẳng họ khi lưu vong. Ðến một xứ kĩ nghệ
hóa cao độ hẳn nhiên mảnh bằng kĩ sư, technician được người ta đổ xô chọn lựa tới
nỗi lớp Việt kiều tiên phong về nước cứ khoác cho mình danh hiệu kĩ sư dù là kĩ
sư ăn oen-phe! Ngoài lí do khó tìm job ra, các ngành xã hội, nhân văn lại đòi hỏi
môt sự uyên áo, khúc mắc của ngôn ngữ xứ tạm dung mà những người của thế hệ thứ
nhất mới bước chân đến khó bề thâu thái nổi - trừ phi đã được du học một lần ở
nơi này rồi chẳng hạn. Thế hệ thứ 2 "nhận nơi này làm quê hương"
tương đối thoải mái hơn nhưng càng chịu sự thúc bách của sự hòa nhập mà bỏ
ngoài tai những lời kêu gào gần như thống thiết của cha anh.
Người ta nghĩ đến các thế hệ sau nữa sẽ có những người lại
quay đầu về đất cũ, lần này không phải vì có hiếu với cha ông mà vì mặc cảm vẫn
thấy mình mũi tẹt da vàng trên đất da trắng da đen. Cuộc thí nghiệm lá rụng về
cội như của một nhóm người Nhật đã thất bại, nhưng ý tưởng hồi đầu đó hẳn do bởi
lí do quan trọng: nước Nhật trong hiện tại đủ cho đám con cháu xa đời hãnh diện.
Chẳng thấy đám con cháu nô lệ da đen nào có ý tưởng về tận rừng già Phi Châu để
không đeo cà vạt mà đóng khố, bỏ điện thoại cầm tay để gõ trống thông tin cho
nhau. Họ chỉ tìm bản tính da đen theo một vẽ vời cao vọng nào đó để làm người
da đen sống tranh giành tước đoạt trên nước Mĩ da trắng mà thôi!
Cho nên một ước vọng cho đám con cháu VN xa đời trên đất Mĩ
tìm về cố quốc của cha ông phải đặt trên căn bản tự phụ vì một nước Việt hiện đại,
văn minh. Ðiều đó thì còn phải hỏi lại những người trong nước, những người nắm
vận mệnh dân tộc ở đó. Huyênh hoang mãi về con Rồng cháu Tiên, về 4000 năm văn
hiến mà bước ra nước ngoài chê hàng không (nội địa) Mĩ dọn ăn không ngon, còn
thắc mắc làm sao người ta đọc hết mấy chục tờ báo, mỗi tờ 2, 300 trang thì chỉ
là một loại sứ bộ Phan Thanh Giản ở cuối thế kỉ XX mà thôi. Ðã thiếu sự nhũn nhặn,
khiêm cung của người xưa, lại chỉ tự phụ với nhau thì hẳn không gây một hứng khởi
nào cho đám con cháu tìm về cố quốc cả. Một số ít người nay về làm đại diện
hãng xưởng ngoại quốc, cơ quan quốc tế, cả đến mở cơ sở làm ăn riêng, cảm thấy
thoải mái chính vì nhờ cái hơi hướng ngoại quốc còn mang trong mình để hưởng tiện
nghi, có sự nể trọng của quyền chức trong nước khác với sự khinh miệt, hận thù
đối với họ (hay cha anh họ) lúc ra đi.
Thôi hãy trở lại với nước tạm dung của lớp di tản thế hệ đầu.
Nước Mĩ vẫn còn là nước nhận di dân. Ngoài một nếp sống ổn định, một khuôn khổ
luật pháp rộng rãi mà chắt chẽ để đẩy đưa kềm thúc người mới tới, người ta còn
uyển chuyển đi tìm hiểu đám di dân trong quá khứ của họ, tìm hiểu tiến trình
sinh sống hòa nhập trên đất mới như thế nào để dễ bề thu hút, đối phó. Chúng ta
đã thấy các nhà nghiên cứu như thế đối với di dân Việt do các chính phủ, hội
đoàn bỏ tiền ra làm, trong đó thoáng thấy có những người Việt phụ tá. Nhưng từ
những người Việt này hình như hiếm có người tự mình đảm đương việc tìm hiểu đồng
bào mình trên đất lạ - không phải như kết quả của một đơn đặt hàng ở đó cộng đồng
được coi như một tập thể nhỏ nhằm phục vụ cho tổng thể lớn là đất nước dung chứa
nó. Hãy tìm hiểu cộng đồng như tự thân nó - tất nhiên không tránh khỏi phải nói
đến những ảnh hưởng chung quanh khuyến dụ hoặc lôi cuốn dồn ép nó.
Một buổi xế trưa trời nắng gắt, chúng tôi thấy một phụ nữ Việt
đi trên đường Brookhurst giữa cây cỏ nước Mĩ, khung trời Mĩ rộng thênh thang
năm sáu lằn xe chạy vun vút, nhưng dáng đi ấy, bộ đồ bà ba vải hoa ấy vẫn như
có một cái gì đương cự với xung quanh, có phần độc lập của nó. Cộng đồng Việt
cũng có thể được nhìn xét như vậy, ít ra là ở một thời điểm, trong một khoảng
thời gian ngắn hạn. (Ðối tượng khảo sát nào lại không phải được đóng khung trước?)
Những người thu nhận kiến thức ở các trường Ðại học Mĩ, đi theo phụ tá hoặc được
các nhà nghiên cứu mướn làm việc cho họ, hẳn đã biết mình phải làm thế nào rồi.
Vấn đề là thực hiện nghiên cứu cho riêng mình.
Tìm hiểu cộng đồng hẳn có thể bằng được vào nhiều chứng cứ.
Nhưng chứng cứ đưa đến tận tay, dí vào tận mắt, chọc vào lỗ tai là báo chí,
truyền thanh truyền hình lềnh khênh do bởi người Việt đi ra khỏi nước vào lúc
các kĩ thuật này phát triển cao độ, phổ thông hóa hết mực. Quả thực với mức độ
sinh hoạt thấp kém, ở VN không có báo biếu không. Ở Mĩ một người cũng có thể
làm một tờ báo, không phải như các tòa soạn vĩ đại của Sài Gòn giải phóng ở
Thành phố Hồ Chí Minh. Báo chợ như một sinh hoạt gắn liền với đất mới mà không
xa cộng đồng. Cộng đồng Oklahoma nghe nói có đến 30,000 (?) người nhưng chỉ có
một tờ báo chợ trên mươi trang giấy đen điu, chữ nhoè, sắp xếp thô kệch chỉ vì
phần rất lớn là dân làm mướn, công chức, khó ăn oen-phe, tuy ở thủ đô tiểu bang
cũng có một khoảnh đất dựng bảng Little Saigon, cũng cố vận động đổi tên con đường
Military chạy ngang trước đó thành đường SàiGòn. Nhưng chỉ đi về phía nam, đến
Dallas của Texas là thấy báo giấy trắng, nhãn hiệu quảng cáo phồn tạp hơn. Nói
gì đến báo Quận Cam. Tất nhiên tôi không đủ khả năng để nhìn xét được mọi vấn đề,
lôi ra những khía cạnh nảy sinh từ sinh hoạt này, kể cả khía cạnh luật pháp đôi
co nếu có ai đặt vấn đề tìm hiểu để thỏa mãn trí tò mò. Cộng đồng nhỏ thường được
chính phủ nước dung chứa bỏ lơ ở nhiều khía cạnh nên công cuộc điều tra xã hội
này hẳn là khó khăn gấp bội. Rồi ngoài báo chợ lại còn báo nửa bán nửa cho, báo
bán như một sinh hoạt thường kì. Và còn truyền thanh, truyền hình...
Báo chợ sống được là nhờ quảng cáo. Những vấn đề nào nảy
sinh từ đây? Có làm được một bản chiết tính thu nhập cho một số báo của một tờ
báo tiêu biểu không? Có thể nào so sánh với các báo chợ (nếu có) của cộng đồng
thiểu số khác không? Hẳn nhiên là với cộng đồng Ðại Hàn chẳng hạn, chắc ta có
thể thấy quảng cáo cho Huyndai (Hiện Ðại), Sam Sung (Ðại Phong)... nhưng trên
báo của ta thì rõ ràng quảng cáo dịch vụ, chợ, quán ăn... là nhiều nhất - tóm lại
mức độ cò con của cộng đồng thật rõ rệt. Tờ Việt báo kinh tế với tên đó cũng chỉ
có dáng "kinh tế" mà thôi.
Báo chợ có phần lấy ở báo chí Mĩ, Hong Kong, có cả từ các tạp
chí văn học Việt hải ngoại hay truyện dài cũ loại Chú Tư Cầu. Người viết này đã
có lần thấy bài Tiền cổ của mình với các hình in nhòe nhoẹt, loại bài viết đáng
lẽ ở các nước người ta cho vào các tạp chí chuyên ngành để chui vào bảo tàng
thư viện mà thôi. Nhắc chuyện in lại này không phải là để đòi nhuận bút vì
chính khi đăng ở Văn học tác giả cũng chỉ vào nhà một ông chủ lục tủ lạnh tìm
cái gì ăn uống vì tình quen biết hơn là vì muốn xiết nợ. Nhắc chuyện "in lại"
chỉ vì muốn nêu lên câu hỏi: "Tâm tính nào ở đây đã bắt nguồn từ bên nhà
và phát triển to lớn hơn?" (Ở bên nhà, dù sao người ta cũng bắt đầu có kỷ
cương rồi đấy!) Ðến Quận Cam, người ta ngạc nhiên không phải chỉ vì thấy chợ có
bán ba-khía mà còn vì nghe quảng cáo các lớp dạy-kèm Huỳnh Ngọc Tiếu, Trần Văn
Ân của SàiGòn cũ.
Trên mức độ báo chợ có các tạp chí văn học. Ở đây không chỉ
bàn đến sự trồi sụt chuyển biến của dòng văn học hải ngoại - các người liên hệ
đã phân tích mổ xẻ quá nhiều rồi. Ở đây ta nhìn nó trong mức độ liên hệ đến cộng
đồng theo những khía cạnh "tầm thường" hơn. Tất nhiên cũng nhờ phương
tiện kĩ thuật, sách hải ngoại trông đẹp và sang hơn sách in trong nước. Ấn bản
so với số độc giả cư dân cũng nhiều hơn. (Ví dụ 1000 bản của 2 triệu người lưu
vong so với 1000 bản của gần 80 triệu dân trong nước). Giá cả so với sách Mĩ đắt
hơn, nhưng vẫn không bằng giá sách nội địa so với thu nhập của người trong nước.
Ông Sơn Nam trong một cuộc phỏng vấn của tờ Tuổi Trẻ có than phiền rằng bây giờ
ông không thể mua sách nổi trong khi trước 75, hàng tháng ông có thể mua được một
hai quyển Livre de poche hay loại nghiên cứu cỡ mỏng Que sais-je? Một nhà phát
hành, xuất bản như Văn Nghệ có đủ dữ kiện để làm một tổng kết về tình hình in ấn,
tiêu thụ những sách qua tay mình không?
Vào đầu những năm 60, chúng tôi biết có người in thơ mình bằng
tiền của bà mẹ già (Miền Trung) góp nhóp từ từng nhúm rau răm, rau húng trên mảnh
vườn còi cọc của mình. Ở hải ngoại, tiền oen-phe, tiền con cháu góp nhóp, lương
assembler so ra dễ biến thành sách hơn để nhà văn nhà thơ mới kí tặng bà con,
thân hữu. Số lượng sách loại này do đó cũng nhiều hơn trong nước nhưng lại cùng
một đòi hỏi hiện diện tuy có phức tạp hơn. Những buổi lễ ra mắt sách có tác dụng
như thế nào về mặt tài chính ngoài lí do giới thiệu tác giả hơn là sách? Cái
tâm lí "thân hữu" trong những cuộc hội họp theo loại này có khác với
tâm lí cùng giới ở bên nhà không? Có phần nào xa hơn, sâu kín hơn từ những buổi
chè chén chốn đình trung không? Một số đám cưới ở hải ngoại nhờ tiền bạc tạm gọi
là dồi dào đã trở về với "truyền thống" bằng cách bắt chước phim ảnh
Hong Kong, Ðài Loan có một ý nghĩa lệch lạc đáng quan tâm ngoài sự dè bĩu, chê
bai hay ghen ghét. Các bản nhạc tưởng phải chết đi nếu không có biến cố 30-4,
những bản nhạc được đào mồ sống dậy tiếp nhau đổi ca sĩ , lồng hình ảnh mới xuất
hiện trong hơn 20 năm qua có tác dụng níu kéo nào cho sự bình an trong tâm thần
người lưu vong không? Nhiều câu hỏi, nhiều thắc mắc tương tự có thể dắt dẫn ta
qua nhiều lãnh vực khác.
Ví dụ hiện tượng Thanh Hải Vô Thượng Sư. Ai có phương tiện,
có khả năng thì có thể không chỉ đặt dấu hỏi mà còn tìm hiểu thế lực ngoài VN
nào đã đẩy người đàn bà này lên tầm mức danh vọng vượt ngoài khả năng của một cộng
đồng nhỏ - y như vai trò của một ông bầu đào kép, võ sĩ, của một tập đoàn quân
sư làm ra một tổng thống. Nhưng dù là gì đi nữa thì vấn đề vẫn phải có một ca
sĩ đặc biệt, một võ sĩ vượt quá nhiều trên sức lực trói gà, một chuẩn tổng thống
đủ khả năng đối đáp một mình không thể để quần chúng khán giả thấy có người bên
cánh gà nhắc tuồng. Cộng đồng Trung Hoa thật to lớn, ở đất Mĩ thật lâu đời sao
tập đoàn Ðài Loan, Hồng Kông không tìm ra được một Vô Thượng Sư mày liễu hài
sen, nhảy lambada? Vậy trước tiên, hiện tượng THVTS phải là một hiện tượng VN -
VN di tản. Nghĩa là đủ để ta xét đoán với tính cách độc lập của nó. Nghe nói bà
ta cũng là dân Bình Ðịnh đấy - hay ít ra cũng từng học ở Quy Nhơn theo lời một
người cháu chúng tôi.
Nhưng với một tập hợp tôn giáo, giáo phái, quần chúng thì
không phải chỉ nhìn vào giáo chủ mà phải chú ý đến cả tín đồ, đảng viên. Nếu
trên báo chí có những trang quảng cáo dưới hình thức có trả tiền công khai hay
dưới hình thức bài viết khen tặng (trả tiền kín đáo) thì cũng có những bài viết,
trang quảng cáo "phản diện" cho ta biết được có người mê Thanh Hải Vô
Thượng Sư đến mức tán gia bại sản, bỏ bê gia đình trong đó có những nhân vật của
tôn giáo khác chuyển hướng hay lệch hướng. Ðó là những tín đồ thật dù còn đang
mải mê tin tưởng hay chỉ một thời, chê trách hay hoan hô là chuyện của người
khác. Các tôn giáo, giáo phái khởi đầu (và cả trong tiến trình phát triển) cũng
không tránh khỏi những dè bĩu, chê bai, sai phạm (Jésus mà còn có Juda!) Bám
víu vào một nhân vật lí tưởng hợp với tâm hồn mình trên đất mới mà không phải
băn khoăn đánh mất cái cũ, bỡ ngỡ bàng hoàng với cái mới, điều đó tạo nên một
thế quân bình có thể là tạm thời nhưng đủ để các "tín đồ" đó say mê,
bị lôi cuốn theo Vô Thượng Sư. Tất nhiên đi sâu vào chi tiết lại là chuyện phải
bỏ công hơn.
Các giáo phái, hội đoàn tôn giáo VN cũng đã tập họp trên đất
mới nhưng sự thích ứng - vấn đề đặt ra cũng như đối với các tập họp xã hội khác
- lại tùy thuộc vào mức độ cách biệt giữa nơi đến và chốn đi. Tín đồ Công giáo
gần như không có vấn đề xáo trộn tín lí và hành đạo vì ngay trong nước họ đã được
huấn luyện theo một dòng tín ngưỡng quốc tế với một số nghi thức mà một khi bỏ
nước họ vẫn còn thấy quen thuộc. Một chừng mực nào đó các dòng Phật giáo chính
thống tuy gặp khó khăn hơn Công giáo, họ vẫn tiếp tục xây, mua chùa, giảng đạo.
Cái khó khăn vô vàn nằm ở các giáo phái mới nổi ở VN: Phật giáo Hoà Hảo và Cao
Ðài. Không cần bàn sâu, sự tuyệt diệt đối với thế hệ sau, tính chất lay lắt ở
thế hệ này đã thấy rõ. Tính chất bám sâu vào địa phương, khu vực nhỏ vốn là ý
nghĩa, nguyên nhân xuất hiện của các giáo phái này ở Nam Kì nay trở thành một cản
trở gần như không thể vượt qua ở một thế giới to rộng với những sinh hoạt tân
kì gây mặc cảm tự ti, tê liệt. cũng có thể thay đổi, nhưng phải là với một hình
ảnh mới: Thanh Hải (và tập đoàn quân sư của bà).
Cũng là một cách trở lại bước đầu của các giáo phái trước
kia. Ðạo Phật của lưu dân Việt Nam trong nước không thể có chùa chiền bề thế,
kinh kệ uyên áo nên giới cư sĩ lấn át tăng sĩ, nên mới có vô số các ông đạo vụt
hiện vụt tắt lang thang truyền giảng "đạo pháp" theo cách hiểu của
mình thâu nhận từ tin tưởng của quần chúng chung quanh và mớ giáo lí đơn giản của
các ý thức hệ chính thống xưa cũ. Các giáo chủ, những người truyền pháp ấy chỉ
làm việc trong vô thức là hệ thống hóa, nối kết các dữ kiện tôn giáo tiềm tàng
của quần chúng để quần chúng thấy mình có trong ấy mà ồ ạt đi theo. Bây giờ qua
đất mới, sự nhũn nhặn riêng biệt co vào nội tâm làm sao hấp dẫn được bằng các
hình ảnh nhảy múa trên ti vi, làm sao vụt chạy bay theo xe cộ, phi cơ không phải
như một sinh hoạt đặc biệt mà là hàng ngày, liên tục? Cho nên mới có một phụ nữ
y phục diêm dúa, mặc áo đầm, khiêu vũ, họp báo, thâu băng CD phổ biến thơ nhạc
để cho tín đồ ngưỡng vọng trong lúc niệm "Nam mô Thanh Hải Vô Thượng
Sư". Người đó nói đến "đạo tràng", "minh sư"... là các
từ đột phá của những ông đạo xưa kia, rồi cũng như xưa kia, cũng khai thác ngôn
từ Phật giáo chính thống theo một cách quy tụ về mình: Thanh Hải thay thế các vị
Phật Di Ðà, Thích Ca, Di Lặc và quan trọng nhất: Quan Thế Âm Bồ Tát, nghĩa là một
chừng mực nào đó cũng như Ðức Cao Ðài đẩy Thích Ca, Jésus vào hàng thứ yếu! Và
thế là một khoảng trống tâm tư được lấp đầy của những người bớt mặc cảm với cái
mới, đi theo hình thức mới mà không thấy tự phản bội vì còn cả một tâm tình cũ
níu kéo, bộc lộ. Sự trộn lẫn ấy cũng thấy rõ khi đạo Thanh Hải truyền về trong
nước: Những tín đồ mới ở đây nghe theo một âm vang của người nước ngoài mà như
gần cận mình, từ một Thất Sơn xa hơn, rồi có người lại thấy "sốc" với
các hình ảnh sinh hoạt của giáo chủ mới.
Ghép Thanh Hải Vô Thượng Sư gốc Miền Trung với các ông đạo
Nam Kì có cưỡng ép không? Không. Từ thập niên 20, đã có một người truyền pháp đạo
Phật đường gốc Bình Ðịnh. Trước Thế chiến II, trên núi Kì sơn ở Tuy Phước (Bình
Ðịnh) đã có một người tự thiêu kiểu siêu thoát tiểu thừa theo cách hiểu của người
ấy. Hẳn rằng Thanh Hải Vô Thượng Sư xuất thân từ một địa phương bên lề của
trung tâm các giáo phái Nam Kì, một khi gặp gỡ hoàn cảnh khác vừa dễ dàng thay
đổi mà cũng vừa còn đủ bản chất cũ để lôi cuốn những người Việt lưu vong trước
khi bỏ chạy đã là tín đồ hay là những người tin tưởng nơi các ông đạo xưa.
Ðến đây có bạn trẻ sẽ vụt hỏi: "Ủa, sao ông sử gia lại
nhảy qua lãnh vực điều tra xã hội?" Không phải lấn sân đâu, chúng tôi tự
biết giới hạn khả năng của mình. Chuyện quá khứ là ở trên mảnh đất chữ S mà
chúng ta ít người với tới được. Còn chuyện hiện tại là ở ngay trước mắt, một đối
tượng gần để tìm hiểu tránh cho cuộc đời khỏi trở nên một chuỗi dài đuổi bắt ảo
ảnh, thất vọng than van. Vả lại hiện tại cũng là quá khứ gần, nghĩa là chuyện lịch
sử nếu có thêm một chút thời gian để nhìn ngắm, tò mò và thắc mắc. Hình như ở
Brazil hiện nay có một cộng đồng của đám người bại trận trong nội chiến
1861-1865 của Mĩ. Họ đã không nói tiếng Anh nữa nhưng còn bám víu một số truyền
thống của phe Liên Hiệp cũ, phân biệt rõ với các cộng đồng đa số, thiểu số
chung quanh. Qua thế kỉ tới, sau nữa, có gì để ta tìm hiểu cộng đồng lưu vong
Việt sau 1975?
1 Nov, 97
TẠ CHÍ ÐẠI TRƯỜNG
Giai phẩm Xuân TÂY SƠN Mậu Dần 1998
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét