Trong một buổi
chuyện vãn tào lao, một người bạn đùa bỡn: "Có người nói: lịch sử là cái
gì của ông sử gia viết ra." Ðiều này kể cũng không lạ. Trong đời sống bình
thường vốn đã có câu: chín người mười ý rồi. Thế mà chuyện lịch sử không phải
chỉ có chín hay mười người tham dự - chỉ mới nói riêng sự tham dự với tay không
miệng hả chưa kể đến dao găm, súng ống trong tay, chưa kể đến quần chúng
"hàng hàng lớp lớp" và ngón tay ấn nút điện tử. Rồi lịch sử lại là
chuyện đã qua, tha hồ bốc phét - nếu hiểu quá đà câu nói trên.
Tuy nhiên nhân loại lại đòi hỏi ở kiến thức một cái gì nghiêm chỉnh hơn là những
toan tính riêng tư và những sai sót cá nhân. Biết rằng đời người chỉ có 100 năm
- nói theo kiểu cổ điển - nhưng người ta còn muốn biết những gì xảy ra ngoài giới
hạn thời gian đó; nhìn quanh chỉ thấy được cái nhà mình và của các ông hàng xóm
nhưng người ta lại muốn trí óc ghép thêm vào tầm mắt để "thấy" được cộng
đồng, dân tộc, trái đất với đồng loại, người yêu thương, kèn cựa, lao đao, hưởng
thụ... Và muốn hiểu nghiêm chỉnh. Lịch sử trở nên không phải chỉ là kết quả từ
chuyện kể mà là của khoa học, sử học. Tất nhiên ở đây cũng còn có chuyện chín
người mười ý, nhưng cái "ý" này cũng phải chịu một sự kềm thúc nhặt
nhiệm của phương pháp đào tạo, của chuyên môn. Người ngoài ngành phải hiểu điều
đó, giản dị như anh (ở Việt nam) có cái Dream II hư không thể giao cho ông thợ
vá xe đạp mó máy vào đó mà nhất định phải tin anh thợ lấm lem dầu mỡ trong tiệm
có đăng bảng hiệu.
Tinh thần khoa học vốn không phải là cái gì quen thuộc với người Việt. Người ta
quen với cái làng nhàng của tinh thần Tam giáo Việt rồi bào chữa bằng sự dung
hòa, khoan thứ, chín bỏ làm mười (xóa cái 9 người 10 ý kia) dẫn đến sự "vầy
vậy" của kiến thức lười nhác mà mấy mươi năm qua lại bị bức bách nhận chìm
xuống ngang bằng với lối suy nghĩ của "quần chúng" khiến cho kiến thức
khoa học không có cơ hội phát triển rồi thảng hoặc có chuyên viên nào đó được sự
ưu ái của Ðảng, của tập nhóm thì lại được đẩy đưa, tôn sùng trong khi thực tế tầm
mức ấy cũng không lấy gì làm cao. Ðiều ấy cũng thấy được ở cách nhìn, công
trình viết về quá khứ Việt nam, về người Việt mà chúng tôi đã đưa ra khía cạnh
tiêu cực trong bài "Gresham trong sử học" (Văn Học, số 125, 9/96, tt12-19).
Có lẽ không nên nói mãi về sự thấp thỏi trong ngành Việt học (của người Việt)
do bởi sự nghèo nàn của đất nước, vì không khí chính trị chung hoặc đã ăn sâu
vào quá khứ hoặc còn lởn vởn đe dọa trong hiện tại đối với người nghiên cứu.
Thói quen suy nghĩ đến những chuyện vá trời khiến có người cho rằng con đường
thoát của sử học Việt Nam phải đặt căn bản trên sự đổi thay chế độ, sự tiến bước
vào lãnh vực kỹ nghệ, vân vân. Không phải vậy, bao giờ cũng có và lúc nào cũng
nên làm những bứt phá nhỏ, tuy rằng càng nhìn ra càng dấn thân vào thì lại càng
thấy không phải là nhỏ. Ví dụ ở đây có thể mở đường bằng sự "khi sư diệt tổ"
trong chữ nghĩa để khỏi động, hoặc động chạm ít đến quyền bính.
Tài liệu về lịch sử Việt Nam (hiểu theo nghĩa rộng, đúng) thật quá ít. Các sử
quan trong quá khứ theo truyền thống sử ký của Trung quốc đã làm việc quá ít, lại
làm việc theo lệnh triều đình hơn là theo tinh thần cầu vọng kiến thức. Thảng
hoặc có người như Lê Quý Ðôn, Phan Huy Chú thì đó chỉ là "lá mùa
thu", lá của cuối mùa (thế kỷ XVIII,XIX). Ấy vậy mà người thời nay căn cứ
trên vài quyển sách cũ đó chỉ làm việc tán rộng hoặc chắp thêm chữ, hoặc vá
thêm thần học triết học mông lung cho ra vẻ uyên bác.
Viên chức Pháp đã đem lại một mớ sách vở dồi dào hơn, nhưng chuyện của ông Tây
làm cho nước Việt không khỏi có điều thất thố. Ví dụ trong việc thu góp tài liệu
cũ vào lúc chữ nho suy tàn đem giấy bản ra bồi lồng đèn quạt giấy, có người đã
chép sách giả bán cho Trường Viễn Ðông Bác Cổ trong đó có quyển Lĩnh Nam dật sự
được cho là của triều Trần để trước 75 Phủ Quốc vụ khanh văn hóa cho người dịch
in và ngày nay có người Việt di tản tán thêm trên sách in lại. Ta không phủ nhận
công trình của các học giả trường VÐBC, hay hội Ðô Thành Hiếu cổ nhưng cũng phải
công nhận như ông Hoàng Xuân Hãn là trong đó có người viết với kiến thức không
cao. Không nên lấy làm lạ. Các ông quan Tây thuộc địa kiến thức không cao là
chuyện dĩ nhiên, lại làm việc dò hỏi trong những dịp kinh lý, hỏi các thầy đề,
chánh tổng, lý trưởng trong lúc những người này bụng run lập cập, thưa bẩm theo
lời quan, chuyện này xen chuyện khác, lan qua chuyện khác. Chưa kể các ông nào
tiếp theo trên tờ Réalité vietnamienne 1966 thấy tờ "Thính chấp bằng"
viết chữ thảo ngoáy ngoáy bèn cho đó là chữ ký của Nguyễn Nhạc, y như khi ta
làm ở cuối tờ check ngày nay!
Dù sao thì sự khi sư diệt tổ chỉ có ý nghĩa khi kẻ hậu sinh hỗn láo có bồi đắp,
chỉnh đốn công việc của người trước. Từ trong một tập họp quan sử còn sót đến
nay, hãy "đọc lại" ý nghĩa của thời đại trong đó chớ đừng tán rộng, lảng
tránh. Chớ chê Dương Tam Kha phản bội, khen Dương Hậu trung trinh (hay chê loạn
dâm như ông quan thế kỷ XV), mà nên ghi nhận tính chất quan trọng của dòng mẹ ở
thời ấy (hay nói như các sử gia ngoại quốc ngày nay: tính chất gia đình hai
dòng của Ðông Nam Á). Chớ quên Lí, Trần, Hồ là gốc Trung quốc để hiểu tại sao
các ông đại khoa thường là ở vùng di dân Trung quốc như ông tiến sĩ họ Vũ ở Hải
Dương, để hiểu tác động ngược của đám dân bản thổ lên đến tận cung đình và lôi
kéo các vọng tộc ấy xa nguồn gốc của họ.
Trong một ý nghĩa khác có thể xét lại trận chiến thắng Nguyên Mông của họ Trần
theo khía cạnh chiến lược chiến thuật thăng trầm theo thời gian chứ không phải
thuần tuý bằng tinh thần dân tộc được cho là của lúc ấy chứ không phải của nửa sau
thế kỷ XX. Căm tức thời Minh thuộc ngắn ngủi mà tàn bạo nhưng chớ quên chính
sách tịch thu sách vở, Hoa hóa của Minh Thành Tổ đã là tiền đề và cơ sở ổn định
cho nhà Hậu Lê khi đám lang đạo Lam Sơn loay hoay trong hơn một thế hệ cắt cổ
nhau mới tìm được lối thoát khỏi lối sống chúa vùng ra đến kỷ cương chúa nước với
ông vua Lê Thánh Tông thông kinh sử Trung Quốc, với đám nho thần được đào tạo
trong thời Minh thuộc và đà tiếp diễn sau đó.
Ðọc lịch sử Nam tiến viết trong các sách xưa (và rơi rớt đến tận ngày nay) chớ
chỉ nên tụng câu: "Quân ta chặt đầu vua Chàm chạy ngựa về Thăng Long báo
tiệp" mà bo bo co rút trong vùng đất sông Hồng, Thanh Nghệ như trung tâm của
một kiểu mẫu vương hóa mới học lóm của Thiên triều. Hãy chú ý rằng Bà Chúa Xứ
Thiên Y A Na (Thiên: Yan, Dàng) đã là chủ trì ở đàn Viên Khâu của Lí - cái đàn
theo Nho giáo chính thống chỉ là nơi ngự trị của ông Trời, Cha Vua; nên biết đến
đền Bà Banh dâm uế cũng được nội cung Mạc góp tiền xây dựng, thờ cúng; còn truyền
thuyết con vua Thủy làm học trò của Chu An là hơi hướng của con cá voi được thờ
cúng ngay trên đồng bằng sông Hồng, nơi đền cửa Cồn ở Nghệ An với dạng hình ẩn
giấu qua các đời... Trong dòng quan sử cũ được quan sử mới kế tục và chắp nối,
người ta chuyển sự khác biệt của Tây Sơn và Lê (và Nguyễn một chừng mực) vào
tính chất đối kháng nông dân - lãnh chúa, nôm - Hán mà không thấy sự hùng mạnh
của Tây sơn có căn cứ khởi đầu nơi danh hiệu vua Trời của quan niệm deva-rajah
Chàm Miên lẫn lộn với tính chất thần quyền hội kín của đám di dân Trung quốc cấp
thấp. Quá khứ của dân Việt dồi dào như thế không cần phải tìm đâu xa, toàn là ở
trong một hai quyển sách xưa còn lại. Miễn là biết cách đọc.
Và phải tìm thêm. Nên nhớ bao nhiêu cũng không vừa, huống chi là còn thiếu sót.
Rất nhiều. Chớ bi quan rằng chiến tranh, đảo lộn đã làm thất tán tài liệu cũ.
Chuyện này xưa như trái đất. Tất nhiên người nghiên cứu phải nhanh tay giật tài
liệu từ trong chiến tranh. Bắn chậm thì chết. Năm 1962 khi đi tìm tài liệu về
Tây Sơn, chúng tôi không đến được một làng cách quê nội tôi vài cây số nhưng
sau 75, ông Phan Huy Lê đã vào đó và được người ta cho biết trước năm 1945 (?)
gia đình còn giữ quyển Hình Thư triều Tây Sơn, công trình của một người trong họ
làm quan ở Bắc Hà, nhưng sau đó đã lấy ra quấn thuốc lá hút sạch. (Lại một đề
tài có thể dùng làm luận cứ chống các hãng thuốc lá!) cũng phải dè chừng loại mạo
hóa kiểu Lĩnh Nam dật sự xưa.
Sau thời kỳ con cháu Nguyễn Nhạc trốn tận buôn Thượng cũng bị lùng bắt trong
lúc đầu lâu 3 anh em Tây Sơn bị xiềng trong ngục, thì lại đến lúc Tây Sơn được
đề cao thành phong trào nông dân khởi nghĩa chống phong kiến tàn bạo bại vong,
thời kỳ hình ảnh ông Quang Trung áo bào đẫm thuốc súng oai hùng rực rỡ tiến vào
Thăng Long không thèm chấp cú móc của ông Trần Vũ, Nguyễn Huy Thiệp gì đó cho vị
anh hùng dân tộc bóp vú Ngọc Hân tưng bừng! Chính vì sự đảo lộn đó mà nảy nòi
ra ở Bình Ðịnh những quyển gia phả gợi nhớ những truyền thuyết về mồ mả vợ, thứ
phi của Trung ương Hoàng đế, của Quang Trung (tội nghiệp cho Nguyễn Lữ!). Chuyện
này thật ra cũng bình thường như ông Giáo sư Ðại học sau ngày 30-4-75 ra bưu điện
Sài Gòn chúc mừng ông chú PVÐ ở phe chiến thắng vậy. Và phong trào làm gia phả
vốn có đầu têu (xin lỗi!) là ông Nguyễn Ðức Dụ khiến nảy sinh một nghề làm ăn
khấm khá ở Miền Ðông Nam Bộ giành tư tác kiếm tiền ở các gia đình, tránh nơi chốn
công tác của các anh viết thuê tiểu sử đảng bộ các tỉnh huyện xã ấp ở các vùng
giải phóng mới chiếm được.
Lại không phải chỉ tò mò moi móc các ông hoàng bà chúa, anh hùng dân tộc. Ngày
xưa cũng có vài quyển địa phương chí. Và nhà Nguyễn với tính cách chủ nước đã tập
họp thành quyển Ðại Nam nhất thống chí khá dày. Nhưng như đã nói, chưa đủ, lúc
nào cũng vẫn chưa đủ. Mỗi lần phát giác thêm một chi tiết sự kiện nhỏ là một lần
có thể xây dựng một nhận định lớn. Như khi thấy Ðại Nam Nhất Thống Chí cho rằng
việc thờ cá voi chỉ có từ Ðàng Trong trở vào rồi tìm ra được rằng cá Ông không
những đã được thờ ở bờ biển Nghệ An tận thời Lí Trần mà còn leo lên bờ tiến đến
gần Thăng Long, thấy Bà Tím ("rùa da", một loại rùa biển thờ chung
trong Lăng Ông) trở thành nữ tướng của Hai Bà Trưng thì các điều ấy mở ra kiến
giải về một hướng xâm nhập văn hóa bị lãng quên và đi xa hơn đến nhận định về sự
hình thành các "anh hùng dân tộc" được thêu dệt với thời gian đã trở
thành truyền thống, kiến thức khó lay chuyển. Hành trạng của con người, sự kiện
văn hóa vốn không đơn độc nên không có sự phát hiện dù nhỏ nhoi nào là vô ích,
là không điểm thêm dồi dào màu sắc cho bức tranh toàn thể.
Và đôi lúc có thể xoay đổi một nhận định lớn. Lúc sơ khởi, các học giả Pháp khi
quan sát sinh hoạt làng xã quanh cái đình đã từ tính chất riêng biệt của đối tượng
nghiên cứu mà gợi ý hoặc dẫn ra tính chất độc lập, đối kháng của đơn vị nhỏ bé
này đối với chính quyền trung ương. Rồi các học giả tiếp theo cứ nghĩ rằng cái
đình phải đương nhiên đi theo cái làng từ khởi thủy nên tán tụng tiếp về tính
chất đối kháng làng nước, về tính chất dân chủ của xã hội Việt nam thời xưa...
Nhưng thật ra tuy nói "Phép vua thua lệ làng" nhưng ai cũng biết chức
quyền tổng xã chỉ được gọi bằng "thầy", còn ở huyện phủ mới có
"quan" và lý trưởng chánh tổng sợ quan huyện như sợ cọp, nói gì đến
khi làm loạn thì triều đình có thể cho cày ủi từ đầu làng, xóa sạch dấu vết! Và
cái đình của làng chỉ mới có từ cuối thế kì XV! Ðiều đó tuy do chúng tôi thấy
ra, nhưng đã có trong các bản văn về hình luật đời Hậu Lê dịch hẳn hòi bằng
Pháp ngữ hoặc quốc ngữ, nghĩa là bằng một thứ chữ dễ đọc đối với thời nay. Vậy
cái đình chỉ là sản phẩm Việt của một giai đoạn lịch sử thâu nhận mẫu hình
Trung Hoa cao độ, thế thôi. Vấn đề tương quan làng nước như đã được ca tụng đến
nay đã bị đảo lộn, ít ra cũng phải đặt lại một cách tương đối hơn. Và chớ nên
nói đến tính chất dân chủ truyền thống của xã hội Việt Nam.
Vậy, nhắc lại, phải đi tìm thêm cái cụ thể để có khả năng tổng hợp cao hơn,
chính xác hơn. Và đất nước dù nhỏ bé hay to rộng cũng không thể hiểu rõ chỉ từ
một trung ương. Bắt đầu từ các địa phương.
Bây giờ trông thấy đầm Thị Nại có một phần bị lấp làm đường Bạch Ðằng xây nhà cửa,
phần còn lại cạn queo lúc nước triều xuống, thấy con sông Côn lên thành Ðồ Bàn
có nhánh phải kéo cái sõng (thuyền nhỏ) mới đi được, người ta phải ngẩn ngơ tự
hỏi: Làm sao mà thủy quân Tây Sơn 1801 tập trung được dày đặc trong đó hùng mạnh
đến nỗi khi Nguyễn Ánh thắng trận đã cho người báo tiệp đến tận Xiêm La! Nào
đâu là thương cảng nổi tiếng của Chiêm Thành? Nước Mặn đâu chỉ được biết là một
trung tâm Công giáo trong lúc đáng lẽ phải nên hiểu ngược lại? Thắc mắc giải tỏa
một phần khi ông Ðỗ Bang thấy được nơi sông Côn đổ ra biển, giải thích được tại
sao có tên cửa Cách Thử / Khách Thử mà nay chỉ có cát mênh mông, khiến ta liên
hệ đến truyền thuyết về tên Khách Thử: nơi có thuyền ma đến lẫn lộn với người,
mua hàng trả tiền âm phủ nên người bán phải bỏ tiền vào chậu nước, tiền chìm là
của người, tiền nổi là của ma! Nhưng vẫn chưa đủ về chuyện sông cạn nước. Có phải
đây là vấn đề của môi sinh: người đến ở đông đúc phá rừng nên không giữ được nước
do đó ruộng lấn sông đến nghẹt thở? Cũng là chuyện tác động của người khi các
ông chủ mới học được lối làm việc có kĩ thuật, có mĩ thuật ở Miền Bắc đã đào
sông thẳng băng khiến nước trôi tuột đi không kịp nhảy lên bờ!
Dùng sông tưới ruộng bằng xe nước (noria) ở Quảng Ngãi, Bồng Sơn không phải là
kĩ thuật thủy lợi của Trung Hoa. Ðã có bài của viên Công sứ Quảng Ngãi về vấn đề
này đăng ở BAVH. Bây giờ có thể làm kĩ hơn không? (Giả định rằng máy bơm nước
chưa thay thế quang cảnh hùng vĩ đối với tuổi trẻ của chúng tôi ở Bồng Sơn năm
1950). Không phải chỉ có vấn đề kĩ thuật nhưng còn vấn đề tác động của kĩ thuật
trên sự hợp tác liên vùng (trên mức độ xã, huyện) như thế nào, hiệu ứng công
trình so với thu nhập chung ra sao..., bao nhiêu vấn đề cứ từ từ nảy sinh khi đặt
câu hỏi, khi không coi vấn đề là hiển nhiên, đã giải quyết xong để giữ mức độ
thờ ơ với sự lười biếng cố hữu. Ở phía nam Bình Ðịnh không có xe nước nhưng có
đập nước có lẽ vì chênh mực ruộng và sông không lớn, cánh đồng tương đối rộng
rãi. Hồi nhỏ chúng tôi từng thấy sau mùa lụt tháng 9, 10 ta dân làng góp tiền,
góp bổi, tre cây... đi đắp đập đâu đó trên nguồn. Chủ ruộng ăn nước của một đập
phải trả tiền nước đã đành, nhưng còn chủ ruộng ở lằn ranh nước của hai đập
tràn về thì sao? Hệ thống điều hành ra sao? Các trích lục địa bộ dù là mới lập
từ thời Bảo Ðại nhưng vẫn còn để các tên xưa cũ như xứ Nước Mặn, xứ Gò Ông...
bao trùm lên các tên làng xã mới. Có ảnh hưởng Chàm nào trong hệ thống thủy lợi
này không? Có ai so sánh hệ thống đập Nam Bình Ðịnh chẳng hạn - nơi có thành
Chà Bàn của vương triều Vijaya cũ, với hệ thống đập Nha Trinh ở Phan Thiết của
ông vua Po Romé với cây tháp thế kỉ XVII còn lại, với con sông Cà Ti chảy ra cửa
Phan Thiết mà phần trên được dùng như con mương chính để người Việt xưa gọi là
Mương Mán - rồi theo thời gian chưa mất tiềm thức khinh miệt, được lệch dần
thành tên Mường Mán, đeo đẳng theo bút hiệu của một nhà văn hiện vẫn còn sáng
tác ở Việt Nam?
Trên tờ Giáp Ngọ Bình nam đồ (1774) chụp in lại trong Hồng Ðức bản đồ (Viện Khảo
Cổ,Saigon 1962) có lạch nước chảy vào đầm Thi Nại ghi tên hán là Tích Kinh Giản
(Lạch nước qua vùng mồ mả xưa), có phải đó là sông Gò Chàm? Cũng trên vùng Bình
Ðịnh này có ghi 3 thuộc: Thì Ðôn, Thì Lượng, Thì Ngạn, không có ý nghĩa gì hết
nếu dò tìm ở chữ Việt, chữ Hán. Có thể đó chỉ là một phiên âm tên đất Chàm, vì
chữ "thì" là từ âm Cri (đất, xứ) mà ra, cũng như Thi Nại được đoán từ
Cri Banoi. Do đó đây là 3 địa danh gốc Chàm xưa nhất ở vùng này còn thấy vào
1/4 cuối thế kỷ XVIII. Một số địa bộ gia phả tìm ra bây giờ cho biết đó là các
vùng Ðập Ðá, Bình Ðịnh (thành), vùng ven đầm Thi Nại. Ngay cả chữ "nại"
không còn ý nghĩa Chàm nào cũng phát sinh một địa danh lạ tai: nại muối. Ðể chỉ
ruộng muối, ở đây có một thôn gọi là Diêm Ðiền, chữ hán chỉ vùng có ruộng muối.
Chẳng có chữ hán nào là nại có nghĩa là muối, ruộng muối cả. Có lẽ vùng ruộng
muối quanh đầm Thi Nại đã phát sinh danh xưng này khi người dân xa bờ nói:
"Xuống (đầm Thi) Nại, xuống vùng ruộng muối". Bộ môn lịch sử địa danh
còn chờ người góp phần.
Ở đỉnh đầm Thi Nại có địa điểm Nước Mặn ghi trên các bản đồ, du kí của các giáo
sĩ từ xưa. Hình như sự kín đáo riêng của các giáo phận ở Việt Nam không thuận
tiện cho một sự tò mò (nếu có) đối với các liên can đến giáo phận, giáo dân.
Hình như sự cách biệt đó cũng khiến người nghiên cứu không quan tâm đến các tài
liệu này, coi như của một cộng đồng riêng không đem lại lợi ích gì cho viếc tìm
hiểu cộng đồng lớn Việt Nam. Tuy nhiên ví dụ như ở Pháp, khi muốn tìm hiểu vấn
đề dân số ở các thế kỉ xa xưa, người ta đã tìm được tài liệu khai sinh (cần thiết
cho tên thánh, lễ rửa tội đứa trẻ) trong các nhà thờ xưa. Nhà thờ Việt Nam (ví
dụ ở Nước Mặn) có tài liệu gì còn giữ lại không? Không chắc, nhưng chưa có thể
quả quyết khi chưa đi tìm. Nhà thờ là nơi in sách chữ quốc ngữ sớm nhất. Không
phải chỉ có kinh cho bổn đạo mà còn có sách truyện, sử, báo chí với phần ngoài
mục vụ nghĩa là sinh hoạt từ giáo phận lan ra đến ngoài đời, của các tập đoàn
khác.
Giáo sư Nguyễn Văn Trung đã lưu ý đến phần quảng cáo trên tờ Nam Kỳ địa phận. Hồi
còn nhỏ, trước 1945, chúng tôi đã từng đọc truyện Chùa Ông Ðá (một loại truyện
Chàm - Việt nhiều gợi ý hơn truyện Hòn Vọng Phu) in khoảng những năm 20, nhiều
chi tiết hơn phần giản lược trong quyển Ðịa dư mông học tỉnh Bình Ðịnh (1936?)
của ông Bùi Văn Lăng. Bây giờ những tài liệu tương tự có còn cất trong Nhà thờ
Chính Toà Quy Nhơn không?
1 Nov, 97
TẠ CHÍ ÐẠI TRƯỜNG
Giai phẩm Xuân TÂY SƠN Mậu Dần 1998
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét