Biên dịch: Lê Hồng Hiệp
Vấn đề Biển Đông đã trở thành một trong những vấn đề nơi mà
các thông số cho sự cạnh tranh và lợi ích của Mỹ – Trung được xác định rõ ràng
nhất. Từ đó, các nước Đông Nam Á sẽ rút ra kết luận cho riêng mình về quyết tâm
của Mỹ và ý định của Trung Quốc đối với khu vực, nhà ngoại giao kỳ cựu Bilahari
Kausikan (ảnh) của Singapore ngày hôm qua cho hay.
Phát biểu trong bài thứ ba trong số năm bài giảng tại Viện
Nghiên cứu Chính sách (IPS), ông Kausikan lưu ý rằng tầm quan trọng của Biển
Đông đối với Trung Quốc lớn hơn so với Mỹ do Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ)
đã dùng vấn đề này nhằm biện minh cho tính chính danh của mình dựa trên lịch sử.
“Nếu tôi đúng khi cho rằng vấn đề Biển Đông cuối cùng có
liên quan đến tính chính danh trong sự cai trị của ĐCSTQ, thì đó là một vấn đề
sống còn đối với Trung Quốc,” ông nói và lưu ý rằng Trung Quốc đã trở nên hung
hăng hơn trong việc thực thi những gì nước này coi là quyền quốc nội của mình
trong các vùng biển tranh chấp những năm gần đây, bao gồm một chương trình đầy
tham vọng về cải tạo đảo, triển khai các khí tài quân sự và chiến thuật gây áp
lực cao của các nhà ngoại giao nước này trong quan hệ với các nước Đông Nam Á.
Trái lại, Washington xác định lợi ích của mình trên khía cạnh
giữ gìn luật pháp quốc tế và tự do hàng hải, nhưng đây không phải là một thứ mà
“Mỹ phải bảo vệ bằng mọi giá”. Do Mỹ không phải là thành viên của Công ước Liên
Hợp Quốc về Luật Biển, có thể Mỹ chỉ duy trì quyền tự do hàng hải dựa trên tính
toán cụ thể về lợi ích quốc gia của mình và không coi đó là một nghĩa vụ mà nước
này buộc phải tôn trọng, ông nói thêm.
“Dù các đảo nhân tạo (được xây dựng bởi Trung Quốc ở Biển
Đông) là không quan trọng xét về mặt quân sự, nhưng chúng là một lời nhắc nhở mạnh
mẽ đối với ASEAN rằng Trung Quốc là một thực tế địa lý trong khi sự hiện diện của
Mỹ ở Biển Đông chỉ là hệ quả của một tính toán địa chính trị. Đây là một ý tưởng
mà Trung Quốc không bao giờ ngừng giao rắc theo những cách tinh tế hoặc trực tiếp”,
ông Kausikan nói, ám chỉ tới (thái độ của Trung Quốc với) Hiệp hội của 10 nước
thành viên Đông Nam Á.
Ông lưu ý rằng Trung Quốc thường xuyên cố gắng gây áp lực
lên các thành viên ASEAN để họ không đưa vấn đề Biển Đông vào các diễn đàn hay
không ủng hộ các nước khác làm như vậy. Các tiến bộ trong việc thảo luận về một
bộ quy tắc ứng xử giữa Trung Quốc và các nước ASEAN trên các vùng biển tranh chấp
đã bị đóng băng bởi các nhà ngoại giao Trung Quốc thường xuyên lấy cuộc đàm
phán làm con tin nhằm kiềm chế ASEAN không được làm những việc phật lòng Bắc
Kinh.
Các nước ASEAN đã bắt đầu kháng cự lại sự quyết đoán đó của
Trung Quốc và Bắc Kinh cũng nhận thức được rằng những hành động của nước này đã
dẫn đến một sự thiếu tin tưởng, ông lưu ý.
Tuy nhiên, bất cứ chi phí nào trong mối quan hệ với ASEAN mà
Trung Quốc có thể phải trả cho sự quyết đoán của mình ở Biển Đông có thể được Bắc
Kinh coi là không đến mức không thể chịu được nếu so với lợi ích bị đe dọa của
họ, và điều này liên quan đến việc Trung Quốc sử dụng lịch sử nhằm tăng tính
chính danh cho ĐCSTQ và biện minh cho các tuyên bố chủ quyền của mình.
“Trong suốt thế kỷ qua, tính chính danh của bất kỳ chính phủ
Trung Quốc nào cũng phụ thuộc vào khả năng của họ trong việc bảo vệ chủ quyền
và bảo vệ biên giới của Trung Quốc.”
Ông cũng lưu ý rằng Trung Quốc đang trong quá trình chuyển
mình thành một cường quốc hải dương và “có lẽ không thể tránh khỏi việc một cán
cân hải quân cân bằng hơn” giữa Trung Quốc và Mỹ sẽ hình thành. “Khi điều này xảy
ra, chúng ta không nên giả định rằng mô thức hoạt động (modus vivendi) mà họ rốt
cuộc có thể đạt được ở Đông Nam Á nhất thiết phải phù hợp với lợi ích của ASEAN
bởi có một sự không đối xứng cơ bản giữa lợi ích của Trung Quốc và Mỹ ở Biển
Đông,” ông nói.
Ông giải thích rằng dù đối phó với cạnh tranh Mỹ-Trung là
khó khăn, nhưng nó vẫn để ngỏ khả năng cho các nước nhỏ hơn có thể vận động.
“Đối phó với một thỏa hiệp Mỹ-Trung có thể còn khó chịu hơn.
Sẽ có ít dư địa (cho các nước khác) vận động, và khi các cường quốc lớn đạt được
một thỏa thuận họ thường cố gắng làm cho các nước nhỏ hơn phải trả giá (cho sự
thỏa hiệp đó).”
Khả năng Mỹ-Trung thông đồng không phải là một ảo tưởng, ông
nói thêm, và ông lấy dẫn chứng là việc tại Hội nghị quốc tế về vấn đề Campuchia
tổ chức tại Liên Hiệp Quốc vào năm 1981, Mỹ đã đứng về phía Trung Quốc để đối
chọi với ASEAN trong câu hỏi Khmer Đỏ có nên được quay lại nắm quyền hay không
sau khi Việt Nam rút quân.
“ASEAN muốn tổ chức bầu cử nhưng Mỹ lại ủng hộ sự quay lại của
một chế độ diệt chủng. Bạn có thể tưởng tượng được rằng Mỹ đã từng ủng hộ diệt
chủng trên thực tế?”, ông nói và thêm rằng Hoa Kỳ vào thời điểm đó đã coi quan
hệ với Trung Quốc là vì lợi ích tối cao của Mỹ và thậm chí còn đe dọa Singapore
rằng sẽ có “máu đổ trên sàn nhà” nếu Singapore không thay đổi lập trường của
mình.
“Tôi hy vọng Mỹ hiểu rằng sự quan ngại như vậy vẫn ẩn nấp
quanh đây bên dưới bề mặt ở khu vực Đông Á, nơi những ký ức được gìn giữ lâu
dài,” ông nói.
Quay sang ASEAN, ông Kausikan lưu ý rằng tổ chức này đã cung
cấp một cơ chế cho các nước trong khu vực nhằm quản lý áp lực bên ngoài và đảm
bảo một cảm giác gắn kết giữa các quốc gia thành viên. Tuy nhiên, sự đa dạng của
Đông Nam Á làm cho hợp tác khu vực vừa cần thiết vừa khó có thể đạt được.
“Sự đa dạng chính của Đông Nam Á nằm ở sự khác biệt bên
trong về chủng tộc, ngôn ngữ và tôn giáo, qua đó xác định bản sắc cốt lõi và định
hình nền chính trị nội bộ của các quốc gia thành viên ASEAN. Những khác biệt
này chắc chắn tác động tới tính toán của họ về lợi ích quốc gia và quan hệ quốc
tế. Thật khó để tưởng tượng được rằng các yếu tố nguyên thủy đó sẽ bị xóa bỏ.”
ASEAN do đó phải làm việc bằng sự đồng thuận, ông nói, do bất
kỳ cơ chế ra quyết định nào khác sẽ có “nguy cơ gây đổ vỡ với hậu quả khó lường”.
Tuy nhiên, một nhược điểm của việc hoạt động dựa trên đồng
thuận “là xu hướng không may trong việc ưu tiên hình thức so với thực chất vốn
thường xuyên biến thành sự ảo tưởng và thiếu thực tế,” ông nói và thêm rằng
không vấn đề nào thể hiện điều này rõ ràng hơn cách tiếp cận của ASEAN đối với
an ninh khu vực.
Ví dụ, từ năm 1971, ASEAN đã chính thức cam kết thiết lập một
Khu vực Hòa bình, Tự do và Trung lập (ZOPFAN) ở Đông Nam Á. “ZOPFAN được dựa
trên khái niệm bề ngoài hấp dẫn nhưng hoàn toàn là ảo tưởng rằng an ninh khu vực
tốt nhất nên được bảo đảm bằng cách loại trừ các cường quốc lớn ra khỏi các
công việc của Đông Nam Á”, ông nói.
Một ví dụ khác là hiệp ước năm 1995 nhằm thành lập một Đông
Nam Á không có vũ khí hạt nhân (SEANWFZ), điều chỉ mang lại một cảm giác an
ninh sai lạc bởi khi việc sử dụng vũ khí hạt nhân trở nên cần thiết thì bất kỳ
hiệp ước nào cũng chỉ là một đống giấy vụn mà thôi.
Ông đã nhấn mạnh những sự thật khó nghe này về ASEAN “vì 49
năm sau khi ra đời, tổ chức này vẫn còn chưa được hiểu một cách đầy đủ”.
“Các quốc gia nhỏ ở Đông Nam Á đã sống ở giữa sự cạnh tranh
của các cường quốc nhiều thế kỷ qua. Luôn luôn và đồng thời dùng chính sách cân
bằng, phòng bị nước đôi, và phù thịnh đã luôn luôn ăn sâu trong ADN về chính
sách đối ngoại của chúng ta,” ông nói.
“Nhưng bản năng này ngày nay có nguy cơ bị thui chột tại ít
nhất là một số nước thành viên của ASEAN nơi các ảo tưởng mù quáng về ZOPFAN và
SEANWFZ vẫn có vẻ sống tốt.”
Trong phần kết luận, ông nói rằng các nước trong khu vực phải
công nhận rằng Biển Đông ngày nay là đấu trường chính nơi cuộc chiến tâm tưởng
phức tạp nhằm định hình khuôn khổ não trạng của các thành viên ASEAN đang diễn
ra.
“Đưa ra các lập trường chắc chắn sẽ đi kèm rủi ro. Nhưng chỉ
đơn thuần nằm sát mặt đất và dùng các lời nói trống rỗng về một vấn đề quan trọng
như Biển Đông sẽ làm phương hại quyền tự chủ, đánh mất các lựa chọn và do đó chỉ
gây ra các rủi ro lớn hơn mà thôi”.
***
Bilahari Kausikan nguyên là Thư ký Thường trực Bộ Ngoại giao
và hiện là Đại sứ Lưu động và Cố vấn Chính sách của Singapore. Xem toàn văn bài
nói chuyện của ông tại ĐÂY.
Nguồn: “S China Sea ‘an existential issue to legitimise CCP
rule”, Today Online, 31/03/2016.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét