Tác giả: Nguyễn Hải Hoành
Phát xít Nhật trước nguy cơ buộc phải đầu hàng
Chiến tranh Thái Bình Dương nổ ra lúc 7 giờ 55 phút sáng ngày 7 tháng
12 năm 1941 (giờ Hawaii), khi Nhật không tuyên chiến mà bất ngờ tập kích Trân
Châu Cảng (Pearl Harbor) trên đảo Hawaii, đánh chìm và làm hỏng 19 tàu chiến và
diệt 2.300 lính Mỹ.
Cú đánh trộm này gây thiệt hại chưa từng thấy cho nước Mỹ, Tổng thống Mỹ
Franklin D. Roosevelt gọi ngày 7 tháng 12 ấy là “một ngày ô nhục”. Hành động vô
liêm sỉ của chính phủ Nhật đã kích động lòng căm phẫn sâu sắc của toàn dân Mỹ.
Quốc hội Mỹ nhanh chóng nhất trí từ bỏ lập trường biệt lập không can dự vào
công việc của các nước khác, chuyển sang chủ trương kiên quyết chống phát xít
Nhật.
Ngày 8 tháng 12, Tổng thống Mỹ Franklin Roosevelt ra trước cuộc họp Quốc
hội tuyên bố Mỹ tuyên chiến với Nhật. Ba ngày sau ông tuyên chiến với Đức và Ý.
Mỹ trở thành nước đồng thời chiến đấu trên cả hai mặt trận châu Âu và
châu Á. Nước Nhật dại dột “đánh thức gã khổng lồ Mỹ” – như lời ta thán của
chính đại tướng Tổng chỉ huy Hạm đội Liên hiệp Nhật Yamamoto, người vạch chiến
dịch tập kích Trân Châu Cảng. Viên tướng này từng học ở Mỹ nên biết rất rõ tiềm
lực kinh tế và quân sự cũng như khoa học kỹ thuật của Mỹ, ông tin rằng Nhật
không thể nào thắng nổi Mỹ. Phát biểu này khiến ông bị giới quân phiệt Nhật gọi
là “Nhật gian” và đòi xử tử.
Do giữ quan điểm mơ hồ về quân phiệt Nhật nên trong một thời gian dài Mỹ
thiếu chuẩn bị chiến đấu với Nhật, năm 1941 trên vùng Thái Bình Dương Mỹ chỉ có
3 tàu sân bay, 9 thiết giáp hạm, 22 tàu tuần dương và 54 tàu khu trục; trong
lúc đó phía Nhật tương ứng có 10, 10, 38 và 113 tàu, vì vậy quân đội Mỹ ban đầu
phải rút lui chiến thuật.
Quân đội Nhật thừa thắng “Nam tiến”, chiếm hầu hết Đông Nam Á và nhiều
cứ điểm quan trọng của Mỹ, các thuộc địa của Anh, Pháp, Hà Lan ở Thái Bình
Dương, tiến sát tới châu Úc.
Tuy thế Mỹ cũng kịp thời giáng trả Nhật một số đòn đau, như ngày 18
tháng 4 năm 1942, phi đội máy bay B-25 của trung tá Doolittle cất cánh từ tàu
sân bay đột nhập ném bom Tokyo, làm rung chuyển cả nước Nhật. Trong trận hải
chiến tại đảo Midway hồi đầu tháng 7 cùng năm, hải quân Mỹ lần đầu tiên đánh
chìm tàu sân bay Nhật, kết thúc chuỗi trận bất bại của Nhật.
Chính phủ Mỹ nhanh chóng tổng động viên toàn dân tham gia chiến tranh,
chuyển ngành công nghiệp khổng lồ của họ sang thực hiện nhiệm vụ sản xuất và cải
tiến vũ khí, tăng cường lực lượng quân đội. Chi phí quân sự từ 4,5 tỷ USD năm
1941 tăng lên 20 tỷ năm 1942 và 38 tỷ USD năm 1943, hơn hẳn Nhật (2,0; 3,0; 4,5
tỷ USD). Số lượng và chất lượng các loại vũ khí Mỹ đều tăng vượt bậc. Năm 1944,
Mỹ sản xuất được hơn 35 nghìn máy bay, so với 11 nghìn của Nhật. Đặc biệt Mỹ
thiết kế chế tạo được nhiều thế hệ máy bay, tàu chiến mới có tính năng tốt hơn
của Nhật. Mỹ còn viện trợ rất nhiều vũ khí và trang bị quân sự cho các nước Đồng
Minh kể cả Liên Xô, theo hình thức viện trợ cho vay-thuê (Lend-Lease aid), sau
chiến tranh mới phải trả nợ. Nếu không có nguồn vũ khí tiên tiến và số lượng cực
nhiều do nước Mỹ nghiên cứu thiết kế chế tạo và viện trợ thì chưa rõ Thế chiến
II sẽ ra sao.
Nhờ đó lực lượng Mỹ dần dần mạnh lên và từ cuối 1943 bắt đầu giành thế
chủ động. Từ 1944, Mỹ phản công toàn diện, chiếm lại các đảo Saipan (7/1944),
Guam, Tinian (8/1944) thuộc quần đảo Marianna ở phía Đông Phillippines. Sau đó
Mỹ xây sân bay để từ các đảo này, cũng như từ Trung Quốc, pháo đài bay 4 động
cơ kiểu B-29 thực hiện ném bom chiến lược chính quốc Nhật, phá huỷ các cơ sở sản
xuất và căn cứ quân sự khiến cho Nhật ngày càng thiếu vũ khí, trang bị.
Sau khi mất quần đảo Marianna, tinh thần chiến đấu của quân Nhật sa sút
hẳn, nhiều người Nhật đã nghĩ tới thất bại. Từ khi máy bay Mỹ thường xuyên ném
bom, mọi hoạt động kinh tế, sản xuất công nghiệp và vũ khí trên chính quốc Nhật
bị thiệt hại ngày càng nặng.
Trước tình hình thiếu máy bay và tàu chiến, Bộ Thống soái Nhật quyết định
áp dụng chiến thuật đánh bom tự sát bằng máy bay, tầu ngầm mi-ni và ngư lôi người
lái. Chiến thuật mới này đã gây khó khăn và thiệt hại lớn cho Mỹ, nhưng cũng rất
bất lợi cho Nhật vì mất gần hết phi công, trong khi Nhật đang thiếu phi công và
việc đào tạo một phi công lâu hơn việc chế tạo một máy bay. Trong trận Mỹ đổ bộ
lên đảo Okinawa, Nhật dùng 193 máy bay cảm tử (Kamikaze) tấn công hạm đội Mỹ,
có 169 chiếc bị pháo phòng không và máy bay Mỹ bắn rơi, chỉ còn vài chục chiếc
lao trúng mục tiêu.
Tổng cộng đã có hơn 2.200 phi công Kamikaze chết, đây là một thiệt hại
không thể bù đắp được. Sau đó máy bay Nhật không còn có thể cất cánh được nữa,
máy bay Mỹ càng tự do khống chế bầu trời, bắn phá, ném bom bất cứ mục tiêu nào
có quân đội Nhật.
Ngày ngày hàng nghìn máy bay Mỹ bay sang 4 hòn đảo chính quốc Nhật, ném
bom rải thảm xuống các đô thị, chủ yếu dùng bom cháy nhằm gây tâm lý sợ hãi cho
dân Nhật, vì hầu hết nhà ở của người Nhật đều là nhà gỗ, dễ bắt lửa và cháy lan
ra xung quanh. Mỹ thường ném bom ban đêm, lửa cháy sáng rực trời càng gây hiệu
quả tâm lý, vả lại ban đêm khó cứu chữa, sáng ra chỉ còn lại cảnh hoang tàn
trông cực kỳ bi thảm.
Hầu như toàn bộ các nhà máy quân sự đều trúng bom, 64 đô thị thành đống
tro tàn. Riêng cuộc ném bom rải thảm Tokyo hai ngày 9 và 10 tháng 3 năm 1945 đã
làm 100 nghìn người chết cháy. Máy bay ném bom kiểu mới là siêu pháo đài bay
B-29 bay rất cao, máy bay tiêm kích Nhật (lúc đó đã bị diệt gần hết) và pháo
cao xạ Nhật không với tới, từ độ cao an toàn ấy máy bay Mỹ tha hồ yên tâm rải
bom xuống mà Nhật không làm gì được.
Ngày 7 tháng 5 năm 1945, nước Đức phát xít đầu hàng Đồng Minh vô điều
kiện. Châu Âu im tiếng súng. Thất bại của Đức báo trước nước Nhật quân phiệt
cũng sẽ nhanh chóng hứng chịu kết cục nhục nhã như vậy.
Nhưng phát xít Nhật vẫn điên cuồng chống trả Đồng Minh. Mặt trận châu
Á-Thái Bình Dương vẫn ầm vang bom đạn.
Tháng 6, Nội các Nhật họp, phái chủ chiến chiếm đa số quyết tâm “Bản thổ
quyết chiến” (quyết chiến trên đất nước mình), “chiến đấu đến người Nhật cuối
cùng”.
Thiên Hoàng Hirohito im lặng trước quyết định đó. Vì thế nhân dân Nhật
và thế giới tiếp tục phải đổ máu vô ích.
Lúc này đảo Okinawa cách đất liền 350 dặm về phía Nam đã bị Mỹ chiếm
(4/1945). Trên đất Nhật, 2,25 triệu lục quân và 1,25 triệu hải quân chủ yếu lo
cố thủ trước tin Mỹ sắp đổ bộ vào Nhật. Ngoài ra còn khoảng 3,5 triệu quân Nhật
đóng ở Trung Quốc, các nước Đông Nam Á và một số đảo trên Thái Bình Dương.
Nghĩa là lực lượng Nhật vẫn còn rất mạnh, Bộ Chỉ huy Tối cao Đồng minh không thể
coi thường.
Ngày 16 tháng 7 năm 1945, Mỹ thử thành công bom nguyên tử. Hôm sau,
Truman, Churchill và Stalin hội đàm tại Potsdam gần Berlin để bàn về tương lai
nước Đức.
Đồng thời, Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ J. C. Gore và Bộ trưởng Lục quân H.
L. Stimson dự thảo Tuyên ngôn Potsdam về vấn đề ép Nhật đầu hàng vô điều kiện để
chuẩn bị trình nguyên thủ Mỹ, Anh, Trung Quốc ký (về sau Liên Xô cũng ký Tuyên
ngôn này).
Ngay từ tháng 5, Gore đã kiến nghị với Tổng thống Truman là chỉ cần
Tuyên ngôn này đưa ra tiền đề Nhật có thể được phép giữ lại chế độ Thiên Hoàng,
thì chắc chắn Nhật sẽ chấp nhận đầu hàng ngay. Thiên Hoàng là thống soái tối
cao của quân đội Nhật; xưa nay hoàng tộc Thiên Hoàng được dân Nhật coi là dòng
dõi thần thánh không thể bị tiêu diệt; Thiên Hoàng bị diệt nghĩa là nước Nhật bị
diệt.
Thế nhưng hồi ấy dư luận Mỹ và đa số quan chức trong Chính phủ Mỹ đều
đòi đưa Thiên Hoàng ra xét xử tội ác chiến tranh, phản đối giữ lại chế độ Thiên
Hoàng. Stimson đành đề nghị Truman dùng hình thức phi chính thức để truyền đạt
cho phía Nhật biết ý định nói trên của Mỹ.
Ngày 26 tháng 7, Tuyên ngôn Potsdam chính thức công bố. Máy bay Mỹ thả
xuống khắp đất Nhật hàng triệu tờ truyền đơn in Tuyên ngôn này bằng tiếng Nhật.
Điều 13 của Tuyên ngôn viết: “Chính phủ Nhật phải tuyên bố toàn bộ quân
đội Nhật lập tức đầu hàng vô điều kiện”, “Bất cứ sự lựa chọn nào khác đều chỉ
có thể dẫn đến sự huỷ diệt nhanh chóng và toàn diện của nước Nhật”.
Sakomizu, Chánh Văn phòng Chính phủ Nhật nhớ lại tình hình lúc ấy:
Nhà đương cục phía ta thận trọng
nghiên cứu từng câu từng chữ của Tuyên ngôn này, và tôi xin nói thẳng ra là lúc
ấy đã đi đến kết luận ta chỉ có thể dùng nó để làm cơ sở chấm dứt chiến tranh,
ngoài ra không còn cách nào khác. Bộ trưởng Ngoại giao ta còn bàn chuyện phải
chăng hội nghị Chính phủ nên thừa nhận như vậy…
Thế nhưng Bộ trưởng Lục quân
lại chủ trương “Ta đang nhờ Liên Xô làm trung gian để điều đình [với Mỹ], nay
đang chờ trả lời, do đó nên chờ bao giờ có hồi âm thì hãy quyết định làm gì.”
Thế là mọi người quyết định
chờ đợi, nói cách khác, trước khi có hồi âm thì ta không tỏ thái độ gì về bản
Tuyên ngôn này. [Sakomizu : “Sự thật của
việc ngừng chiến”, 1989]
Chính phủ Nhật đã phạm một sai lầm căn bản khi định nhờ Liên Xô làm
trung gian đàm phán với Mỹ. Họ muốn gì từ Liên Xô?
(Còn tiếp)

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét