Tác giả: Ngô Hưng Đường (Trung Quốc) | Biên dịch: Nguyễn Hải
Hoành
Cuộc gặp gỡ nội bộ lãnh đạo cấp cao Trung Quốc và Việt Nam tiến hành lặng lẽ tại Thành Đô thuộc tỉnh Tứ Xuyên trong hai ngày 3 và 4 tháng 9 năm 1990. Tham gia cuộc gặp nội bộ này phía Trung Quốc có Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) đương nhiệm Giang Trạch Dân và Thủ tướng Quốc Vụ Viện đương nhiệm Lý Bằng; phía Việt Nam có Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) Nguyễn Văn Linh, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười và Cố vấn Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Phạm Văn Đồng. Đây là cuộc gặp đầu tiên giữa các nhà lãnh đạo chủ yếu của hai đảng, hai nước sau thời gian gián đoạn 13 năm.
Hồi đó tôi đang làm Trưởng Phòng Nghiên cứu của Ban Liên lạc
đối ngoại Trung ương ĐCSTQ, có tham gia cuộc gặp nói trên với tư cách cán bộ
tùy tùng.
Lời nhắn miệng của Đặng Tiểu Bình
Tháng 7 năm 1986, Tổng Bí thư ĐCSVN Lê Duẩn qua đời. Tháng
12, tại Đại hội ĐCSVN lần thứ VI, Nguyễn Văn Linh được bầu làm Tổng Bí thư
ĐCSVN. Những năm 1960, trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ Nguyễn Văn Linh là
thành viên Cục Miền Nam của ĐCSVN, có thái độ hữu hảo với Trung Quốc, từng nhiều
lần đến thăm Trung Quốc. Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai và Đặng Tiểu Bình đều từng
hội kiến với Nguyễn Văn Linh. Sau khi được bầu làm Tổng Bí thư ĐCSVN, ông đã đã
tích cực đẩy mạnh thực thi đường lối mới của cách mạng Việt Nam và bắt tay cải
thiện mối quan hệ với Trung Quốc.
Trong thời gian từ cuối 1988 đến đầu 1989, phía Việt Nam trước
sau đã ba lần ngỏ ý mong muốn cải thiện mối quan hệ Việt-Trung. Tháng 10/1989,
Đặng Tiểu Bình hội kiến với Cay-xỏn Phôm-vi-hản [Kaysone Phomvihane] Chủ tịch Hội
đồng Bộ trưởng Lào, Tổng Bí thư Đảng Nhân dân Cách mạng Lào.
Lý Gia Trung[1] hồi đó là Trưởng phòng Đông Dương thuộc Vụ
Châu Á Bộ Ngoại giao từng tham dự cuộc hội kiến này và làm nhiệm vụ ghi chép,
có tiết lộ rằng Chủ tịch Cay-xỏn đã chuyển [tới Đặng Tiểu Bình] lời thăm hỏi của
Nguyễn Văn Linh, nói Việt Nam nay đã có nhận thức mới đối với tình hình Trung
Quốc, thái độ đối với Trung Quốc đã có thay đổi, mong muốn Trung Quốc có thể mời
ông thăm Trung Quốc. Đặng Tiểu Bình cũng đề nghị Cay-xỏn chuyển lời thăm hỏi tới
Nguyễn Văn Linh.
Đặng Tiểu Bình nói: Việt Nam đề xuất muốn bình thường hóa
quan hệ với Trung Quốc, chúng tôi hoan nghênh. Tôi quen đồng chí Nguyễn Văn
Linh từ lâu. Tôi mong muốn đồng chí ấy quả quyết giải quyết dứt điểm vấn đề
Campuchia. Tôi hiện nay tuổi đã cao, sắp nghỉ hưu. Mong sao trước khi tôi nghỉ
hưu hoặc không lâu sau khi nghỉ hưu thì vấn đề Campuchia có thể đã được giải
quyết, mối quan hệ Trung Quốc-Việt Nam được khôi phục bình thường; như vậy sẽ
chấm dứt được một nỗi băn khoăn của tôi. Đặng Tiểu Bình nhấn mạnh hy vọng Việt
Nam rút sạch sành sanh, rút triệt để quân đội ra khỏi Campuchia, thực hiện khối
liên hợp 4 bên do Sihanouk đứng đầu (4 bên, tức chính quyền Heng Samrin do Việt
Nam ủng hộ, và 3 phái chống lại: Mặt trận Đoàn kết dân tộc giành độc lập, trung
lập, hòa bình và hợp tác Campuchia; Kampuchea Dân chủ do Khieu Samphon là đại
diện, Mặt trận Giải phóng dân tộc nhân dân Cao-miên với đại diện là Son Sann),
chỉ có làm được điều đó thì mới kết thúc quá khứ, khôi phục mối quan hệ
Trung-Việt.
Tháng 6/1990, Nguyễn Văn Linh hội kiến Đại sứ Trung Quốc tại
Việt Nam Trương Đức Duy. Ông nói tình hình quốc tế hiện nay đang biến đổi mạnh,
tình hình Đông Âu diễn biến rất phức tạp, tình hình Liên Xô cũng rất nghiêm trọng.
Hai nước Việt Nam, Trung Quốc là láng giếng XHCN, ông hy vọng sớm đến Bắc Kinh
hội kiến với các đồng chí lãnh đạo TƯ ĐCSTQ, thực hiện việc bình thường hóa
quan hệ Việt-Trung trong những năm tháng ông còn trên đời.
Ngày 27/8, tại Liên Hợp Quốc, 5 nước thường trực Hội đồng Bảo
an đạt được sự nhất trí về việc giải quyết toàn diện vấn đề Campuchia và quyết định ngày 10/9 sẽ triệu tập một cuộc họp thảo luận thông qua 5
văn kiện về việc giải quyết toàn diện mặt chính trị vấn đề Campuchia. Nội dung chính của các văn kiện đó
là 4 bên Campuchia liên hợp cùng tổ chức cơ quan quyền lực lâm thời của
Campuchia — Hội đồng Quốc gia Tối cao Campuchia [SNC, Supreme National
Council]. Đây là một bước quan trọng và một tiến triển có tính đột phá trong việc
giải quyết chính trị vấn đề Campuchia, cũng là thành quả quan trọng mà cộng đồng
quốc tế giành được trong 12 năm tìm kiếm biện pháp giải quyết hòa bình vấn đề
Campuchia.
Trong tình hình như vậy, Chính phủ Trung Quốc quyết định mời
các nhà lãnh đạo ĐCSVN tới thăm Trung Quốc để tiến hành trao đổi ý kiến.
Theo chỉ thị từ trong nước và sau khi được Ban Đối ngoại TƯ
ĐCSVN thu xếp, chiều ngày 29/8, Đại sứ Trương Đức Duy gặp mặt Nguyễn Văn Linh
và Đỗ Mười, thay mặt Giang Trạch Dân và Lý Bằng mời hai ông cùng ông Phạm Văn Đồng
đến Trung Quốc thăm nội bộ vào thời gian từ ngày 3 đến ngày 4 tháng 9. Đại sứ
còn thông báo, do Đại hội Thể thao châu Á [ASIAD] sắp được tổ chức tại Bắc Kinh
nên để tiện giữ bí mật, địa điểm hội đàm sẽ thu xếp tại Thành Đô thuộc tỉnh Tứ
Xuyên. Phía Việt Nam rất vui mừng tiếp nhận lời mời.
Điểm mấu chốt của cuộc đàm phán: “+1” hay không
Ngày 31/8, tôi được Phó Trưởng ban Ban Liên lạc Đối ngoại TƯ
ĐCSTQ Chu Thiện Khanh gọi tới gặp riêng. Ông báo cho tôi biết 3 ngày sau tôi sẽ
đi theo Giang Trạch Dân và Lý Bằng đến Thành Đô tham gia cuộc gặp gỡ nội bộ
Trung Quốc-Việt Nam, và yêu cầu tôi gấp rút viết một tài liệu về tình hình
phong trào cộng sản quốc tế, sự biến đổi tình hình ở Đông Âu và Liên Xô, tình
hình đảng ta khôi phục quan hệ với các đảng cộng sản từng cắt quan hệ trong cuộc
luận chiến Trung-Xô, để chuẩn bị trình lãnh đạo trung ương đọc. Ông dặn tôi phải
nghiêm ngặt giữ bí mật, không được nói việc này dù là với đồng sự hoặc người
nhà. Tôi bỏ ra một ngày khẩn trương viết xong tài liệu nói trên và đưa in nộp
lên trên.
Ngày 2/9, Giang Trạch Dân và Lý Bằng mỗi người đáp một
chuyên cơ cất cánh từ sân bay Tây Giao Bắc Kinh. Nhân viên tùy tùng cũng chia
làm hai tốp đi theo. Tốp đi theo Giang Trạch Dân gồm: Phó Chánh Văn phòng TƯ
ĐCSTQ Tăng Khánh Hồng, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Tề Hoài Viễn, Phó trưởng ban
Ban Liên lạc Đối ngoại TƯ ĐCSTQ Chu Thiện Khanh. Trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao Từ
Đôn Tín và một số người khác, trong đó có tôi, đi theo Lý Bằng.
Chuyên cơ của Lý Bằng cất cánh lúc 3 giờ rưỡi chiều, khoảng
6 giờ đến Thành Đô. Chuyên cơ Giang Trạch Dân cũng đến nơi vào 6 giờ rưỡi.
Chúng tôi trọ tại nhà khách Kim Ngưu ở ngoại thành. Đây là một
nhà khách nằm trong khu vườn cây, yên tĩnh mà đơn giản. Hội đàm và tiệc chiêu
đãi sẽ làm tại tòa nhà chính số 1 ở chính giữa, khách và chủ sẽ trọ tại biệt thự
ở hai bên tòa nhà này.
Tối hôm ấy, Giang Trạch Dân và Lý Bằng trao đổi với nhau về
phương châm hội đàm. Tăng Khánh Hồng triệu tập các cán bộ tùy tùng của Văn
phòng TƯ Đảng, Ban Liên lạc đối ngoại TƯ Đảng, và Bộ Ngoại giao bàn bạc tại chỗ việc thu xếp chương trình làm việc và lễ nghi
đón tiếp trong hai ngày tới, kể cả các chi tiết như bố trí khách và chủ ra vào
đi riêng theo cửa nào, ai vào trước, ai vào sau. Tôi có tham gia cuộc bàn bạc
này.
11 giờ sáng ngày 3/9, chuyên cơ Việt Nam hạ cánh xuống sân
bay chuyên dụng ở Nam Ninh. Đây là chuyến bay hàng không dân dụng Việt Nam đầu
tiên bay đến Trung Quốc trong 12 năm nay. Phái đoàn Việt Nam gồm mười mấy người.
Ngoài Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười và Phạm Văn Đồng ra, cán bộ chủ yếu đi theo gồm:
Chánh Văn phòng TƯ ĐCSVN Hồng Hà, Trưởng ban Đối ngoại TƯ ĐCSVN Hoàng Bích Sơn
và Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Đinh Nho Liêm. Đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam
Trương Đức Duy cũng đi cùng.
Tề Hoài Viễn, Chu Thiện Khanh, Từ Đôn Tín ra sân bay đón tiếp
đoàn Việt Nam. Sau đó khách và chủ cùng đáp chuyên cơ của phía Trung Quốc bay về
Thành Đô.
Hai giờ chiều, đoàn Nguyễn Văn Linh tới nhà khách Kim Ngưu.
Giang Trạch Dân và Lý Bằng đón khách tại bên ngoài cửa vào tòa nhà chính số 1.
Cuộc hội đàm bắt đầu vào khoảng hơn 4 giờ. Phòng họp rộng hơn 200 mét vuông bố
trí đơn giản, chính giữa kê chiếc bàn dài, hai đoàn ngồi ở hai bên. Hội đàm tiến
hành tổng cộng trong khoảng hơn ba tiếng đồng hồ.
Hồi đó Việt Nam đã rút quân khỏi Campuchia, những vấn đề
chưa giải quyết chủ yếu liên quan tới hai mặt: đánh giá và hành xử như thế nào
đối với 5 văn kiện của 5 nước thường trực Hội đồng Bảo An Liên Hợp Quốc về việc
giải quyết vấn đề Campuchia, và vấn đề thành viên của Hội đồng Quốc gia Tối cao
Campuchia. Vấn đề của hai mặt đó có liên quan với nhau. Hai phía Trung Quốc và
Việt Nam có những điểm đồng thuận, cũng có những điểm bất đồng. Ý kiến bất đồng
chủ yếu có hai điểm.
Trước hết, nên đối xử ra sao với 5 văn kiện nói trên. Phía
Việt Nam muốn trình bày ý “hoan nghênh”. Lý Bằng nói: Hoàng thân Sihanouk và Bộ
trưởng Ngoại giao Trung Quốc, Liên Xô đều tỏ ý ủng hộ 5 văn kiện này, vì thế
nên dùng từ “tán thành”. Sau thảo luận, phía Việt Nam biểu thị đồng ý [với phía
Trung Quốc], nhưng yêu cầu thêm từ “khung”, phía Trung Quốc cũng đồng ý.
Bất đồng lớn hơn là ở chỗ hạn mức số người của 4 bên trong Hội
đồng Quốc gia Tối cao Campuchia. Phía Việt Nam đồng ý “6 (phái Heng Samrin) + 2
(phái Sihanouk) + 2 (phái Khieu Samphon) + 2 (phái Son Sann)” Phía Trung Quốc đề
xuất phương án “6 + 2 + 2 + 2 + 1”; trong đó “1” là Sihanouk, cho rằng Sihanouk
là Chủ tịch Hội đồng Quốc gia Tối cao, nên có quyền lực tương ứng.[2]
Phía Việt Nam cảm thấy phương án của Trung Quốc rất khó được
phía Phnom Penh tiếp nhận. Cuộc đàm phán trong ngày thứ nhất chưa đạt được đồng
thuận về vấn đề này.
Đạt được “Biên bản hội đàm”
Hội đàm kéo dài một mạch đến 8 giờ tối. Đến 8 giờ rưỡi, buổi
chiêu đãi mới bắt đầu. Trên bàn tiệc, Giang Trạch Dân và Lý Bằng tiếp tục trao
đổi với Nguyễn Văn Linh và Đỗ Mười về những vấn đề chưa đạt đồng thuận.
Sau khi kết thúc buổi chiêu đãi, các cán bộ tùy tùng chính của
hai bên tổ chức thành nhóm dự thảo biên bản hội đàm, họp bàn ngay trong đêm hôm
ấy. Nhóm này phía Trung Quốc do Tăng Khánh Hồng phụ trách, phía Việt Nam do Hồng
Hà phụ trách. Cuộc hội đàm [?] tiến hành cho tới đêm khuya.
Tôi cũng tham gia cuộc họp bàn của nhóm dự thảo biên bản.
Nhiệm vụ chính của tôi là sẵn sàng bất cứ lúc nào khi cần là có thể báo cáo cho
Giang Trạch Dân và Lý Bằng biết tình hình thảo luận của nhóm, sau đó truyền đạt
lại ý kiến của hai vị ấy tới các cán bộ Trung Quốc trong nhóm dự thảo.
Cuộc thảo luận rất gian khổ, bàn bạc từng chữ từng câu. Có một
tranh chấp chính là sau khi hai bên Trung-Việt đạt được sự nhất trí ý kiến về vấn
đề Campuchia, những ý kiến đó sẽ chuyển lại cho các bên liên quan của Campuchia
như thế nào. Qua bàn bạc lâu dài, hai bên đồng ý trình bày là “bằng sự cố gắng
của mỗi bên”, “thúc đẩy” các bên Campuchia đạt được thỏa thuận về việc thành lập
Hội đồng Quốc gia Tối cao.
Sáng ngày 4/9, lãnh đạo hai bên tiến hành cuộc hội đàm lần
thứ hai.
Sau khi đi vào nội dung chính, hai bên tiếp tục bàn vấn đề
thành phần nhân sự của Hội đồng Tối cao. Nguyễn Văn Linh bỗng dưng nêu ra một vấn
đề: Hội đồng Tối cao sẽ tuân theo nguyên
tắc làm việc như thế nào, là nguyên tắc đồng thuận nhất trí hay nguyên tắc thiểu
số phục tùng đa số?
Giang Trạch Dân khôn khéo trả lời câu hỏi này. Ông nói, nếu
4 bên đã đều đồng ý thành lập Hội đồng Tối cao thì họ nên xuất phát từ đại cục
lợi ích dân tộc, thực sự thực hiện hòa giải dân tộc. Dưới tiền đề đó, phía
Trung Quốc “có thể đồng ý” Hội đồng Tối cao làm việc theo nguyên tắc hiệp
thương nhất trí.
Phạm Văn Đồng đồng ý với ý kiến của Giang Trạch Dân.
Sau khi giải quyết xong các vấn đề chủ yếu, việc còn lại là
quyết định cuối cùng “Biên bản hội đàm [nguyên văn Hội đàm kỷ yếu]”.
Về vấn đề Hội đồng Tối
cao Campuchia, Biên bản hội đàm viết: Hai bên cho rằng, việc sớm thành lập Hội
đồng Tối cao Campuchia là bước then chốt để giải quyết chính trị vấn đề
Campuchia. Hội đồng này nên tuân theo nguyên tắc bất cứ phái nào cũng không được
chiếm địa vị chi phối, cũng không loại trừ bất cứ phái nào, [Hội đồng này] do
4 bên Campuchia tổ chức nên. Việc để
Hoàng thân Sihanouk làm Chủ tịch [Hội đồng] là thích đáng. Hai bên đồng ý sẽ
thông báo cho các bên Campuchia và sẽ làm việc với họ, cố gắng sớm nhất dựa
theo phương thức 6+2+2+2+1 thành lập Hội đồng Tối cao và [Hội đồng này] sẽ làm
việc căn cứ theo nguyên tắc hiệp thương nhất trí.
Về vấn đề bình thường hóa quan hệ Trung Quốc-Việt Nam, Biên
bản chỉ ra: Hai bên đã trao đổi ý kiến về vấn đề sớm khôi phục mối quan hệ hai
đảng, hai nước, đồng ý cùng với việc giải quyết chính trị vấn đề Campuchia một
cách toàn diện, công bằng và hợp lý, sẽ từng bước cải thiện quan hệ hai đảng,
hai nước, tiến tới thực hiện bình thường hóa. Trong đó hai chữ “hai đảng” được
thêm vào là căn cứ theo kiến nghị của Phạm Văn Đồng.
Hai bên còn trao đổi ý kiến về các biện pháp cụ thể để từng
bước cải thiện quan hệ, nội dung gồm có:
Hai bên áp dụng biện
pháp giảm lực lượng quân đội ở biên giới, tránh tất cả các hoạt động đối địch;
Đình chỉ mọi tuyên
truyền đối địch với đối phương;
Tăng cường sự đi lại
của dân chúng;
Khôi phục trật tự
bình thường trong buôn bán ở vùng biên giới [biên mậu];
Lãnh đạo cấp cao
hai nước tiến hành tiếp xúc và thăm lẫn nhau.
Bắt đầu tiến trình bình thường hóa quan hệ
Hai giờ rưỡi chiều, hai bên Trung Quốc-Việt Nam làm lễ ký kết
[Biên bản Hội đàm] tại tòa nhà chính số 1. Phía Trung Quốc đề nghị để Giang Trạch
Dân, Lý Bằng và Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười thay mặt đảng và chính phủ nước mình
ký văn bản. Phía Việt Nam đồng ý.
Ngay tại lễ ký, Giang Trạch Dân dẫn câu thơ thất luật của Lỗ
Tấn[3] để tặng các đồng chí Việt Nam:
Độ tận kiếp ba
huynh đệ tại,
Tương phùng nhất
tiếu mẫn ân cừu
[tạm dịch: Qua kiếp nạn, anh em còn đó. Gặp nhau cười, hết sạch
ơn thù]. Hội trường vang lên tiếng vỗ tay.
Tối hôm ấy, Nguyễn Văn Linh cũng xúc động viết 4 câu thơ:[4]
Huynh đệ chi giao
số đại truyền
Oán hận khoảnh khắc
hóa vân yên
Tái tương phùng thời
tiếu nhan khai
Thiên tải tình nghị
hựu trùng kiến.
[dịch ý: Tình anh em
truyền bao đời, trong khoảnh khắc mọi oán hận tan thành mây khói, khi gặp nhau
nở nụ cười, xây đắp lại tình hữu nghị muôn đời].
Trong tháng đó, bốn bên Campuchia gặp nhau tại Jakarta
[Indonesia], thành lập Hội đồng Quốc gia Tối cao Campuchia, tuyên bố các bên
Campuchia đều tiếp thu các văn kiện do 5 nước thường trực Hội đồng Bảo an Liên
Hợp Quốc thông qua và dùng các văn kiện đó làm cơ sở để giải quyết chính trị vấn
đề Campuchia.
Ngày 29/6/1991, Đại hội lần thứ VII ĐCSVN bế mạc, Đỗ Mười được
bầu làm Tổng Bí thư, Nguyễn Văn Linh, Phạm Văn Đồng làm Cố vấn. Tinh thần cơ bản
chung của Đại hội là: Việt Nam ở vào giai đoạn đầu [sơ cấp] của CNXH, phát triển sức sản xuất là nhiệm vụ
trung tâm, đồng thời tiếp tục chấp hành đường lối cải cách đổi mới mở cửa do Đại
hội VI đề ra, chủ trương hợp tác hữu nghị với các nước.
Buổi chiều ngày thứ hai sau khi Đại hội bế mạc, Lý Bằng hội
kiến đại biểu đặc biệt của Trung ương ĐCSVN Lê Đức Anh và Hồng Hà. Hai bên đồng
ý tổ chức sớm nhất cuộc gặp gỡ cấp cao Trung Quốc-Việt Nam.
Ngày 5/11, tân Tổng Bí thư ĐCSVN Đỗ Mười và tân Chủ tịch Hội
đồng Bộ trưởng Võ Văn Kiệt dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao đảng và chính phủ Việt
Nam chính thức thăm Trung Quốc.
Hai nước ra thông cáo chung, tuyên bố sẽ phát triển mối quan
hệ hữu nghị láng giềng trên cơ sở 5 nguyên tắc chung sống hòa bình, và dựa trên
cơ sở 4 nguyên tắc về mối quan hệ đảng “Độc lập tự chủ, hoàn toàn bình đẳng,
tôn trọng lẫn nhau, không can thiệp công việc nội bộ của nhau”, khôi phục mối
quan hệ bình thường giữa hai đảng Trung Quốc-Việt Nam.
Giang Trạch Dân phát biểu: Sau khi mối quan hệ giữa hai nước
trải qua một đoạn đường quanh co, các nhà lãnh đạo hai nước Trung Quốc-Việt Nam
hôm nay có thể ngồi lại cùng nhau tiến hành cuộc gặp cấp cao là việc có ý nghĩa
quan trọng. Ông nói, đây là một lần gặp gỡ kết thúc quá khứ, mở ra tương lai,
đánh dấu sự bình thường hóa mối quan hệ giữa hai nước.
Ngô Hưng Đường(吴兴唐)từ 1960 công tác lần lượt
tại Vụ Một thuộc Ban Liên lạc đối ngoại TƯ ĐCSTQ, Viện Nghiên cứu Liên Xô-Đông
Âu, Đại sứ quán Trung Quốc tại CHLB Đức, từng làm Trưởng phòng Nghiên cứu
BLLĐN, Cục trưởng Cục Thông tin và người phát ngôn của BLLĐN. Sau 1993 là Tổng
Thư ký Hội Giao lưu quốc tế TQ. Hiện là giáo sư thỉnh giảng của Học viện Quan hệ
quốc tế ĐH Nhân dân Bắc Kinh, Cố vấn Hội Phong trào cộng sản quốc tế TQ. Từng
viết hơn 200 bài báo.
Nguyên văn đầu đề bài viết là: Sự thật về cuộc gặp nội bộ
Trung Quốc-Việt Nam tại Thành Đô. Bài đăng trên tuần san Trung Quốc Tân Văn
ngày 1/8/2015.
Nguồn: http://nghiencuuquocte.org
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét