Hồ Bạch Thảo
Tìm hiểu nền bang giao Trung Việt; hầu như bất cứ lúc nào
trong nước ta có biến, đều được Trung Quốc dòm ngó hết sức kỹ lưỡng. Lịch sử
thường ghi nhận những cuộc xâm lăng của Trung Quốc được khởi đầu bởi những biến
cố trong nước ta; hoặc do chính bàn tay Trung Quốc tạo ra, hoặc tự phát trong nội
bộ.
Nếu cần phải dẫn chứng, thì nguyên nhân gần mở đầu cảnh ngàn
năm đô hộ, phải kể đến việc Sứ giả Trung Quốc có mặt trong cung đình nhà Triệu,
xúi dục mẹ con Cù Thị bán nước; việc không thành, xảy ra cuộc chính biến của Lữ
Gia. Tiếp đó Hán Vũ Đế ra lệnh mang đại quân sang xâm lăng; biến lãnh thổ Nam
Việt thành 9 quận của nhà Hán:
Lâu thuyền qua đỉnh, sư tứ khởi,
Hoặc xuất Quế Dương hạ Ly Thuỷ.
Việt Lang truy trảm Lữ Gia đầu,
Cửu quận đồng qui Hán Thiên tử. [1]
(Rồi Lâu Thuyền, Qua Thuyền [2] Tướng quân khởi binh bốn
phương,
Xuất phát từ Quế Dương hướng theo dòng sông Ly Thuỷ [3] .
Tướng Việt Lang truy kích chém đầu Lữ Gia
Chín quận Nam Việt đều thu về tay nhà Hán.)
Đến giai đoạn tự chủ chưa được bao lâu, thì vua Đinh Tiên
Hoàng bị thích khách giết; trong nước sinh nội loạn bởi phe chống đối Thập đạo
Tướng quân Lê Hoàn. Tin tức đến tai triều đình Trung Quốc, viên đại thần Lư Đa
Tốn vồ lấy cơ hội, tâu với vua nhà Tống như sau:
“Nước Việt có nội loạn, đây là lúc trời muốn diệt chúng, nên
bất thình lình dùng binh tập kích như sấm sét không kịp bịt lỗ tai. Nếu dùng lời
nhân nghĩa giảng giải dông dài, thì mưu kế sẽ bị tiết lộ. Một khi chúng biết sẽ
ngăn sông phá núi để chuẩn bị, thì sự thắng bại khó mà lường được. Chi bằng
dùng Nhân Bảo làm tiên phong, chọn tướng giỏi và 3 vạn lính Kinh Hồ rong ruổi
mà tiến, thế như bẻ cành khô củi mục, đó là kế vẹn toàn không lo thất thố.” [4]
Vua Tống chuẩn y cho mang quân sang xâm lăng; nhưng nhờ tài
dụng binh của Thập đạo Tướng quân Lê Hoàn tức vua Lê Đại Hành, nên quân Tống
thua to, Hầu Nhân Bảo bị giết, mưu đồ xâm lăng bị dập tắt.
Hai sự kiện nêu trên đều được ghi lại trong sử nước ta.
Nhưng cũng có lúc trong nước có biến, nhưng sử Việt không chép một dòng nào về
mối đe doạ từ bên ngoài; thì cũng do ta chưa phát hiện ra mà thôi, chứ trong
vòng bí mật không hẳn là không có.
Hãy nêu lên một biến cố lớn, là việc vua Quang Trung đột ngột
mất; sử nhà Nguyễn [Đại Nam Chính Biên liệt truyện, Nguỵ Tây] chép mối bang
giao Trung Việt lúc này đầy tình hoà bình hữu nghị, qua đoạn trích dịch dưới
đây:
“Ngày 29 tháng 9, Nguyễn Huệ chết, tiếm vị được 5 năm, mới
40 tuổi. Thái tử Quang Toản nối ngôi, tháng 10 an táng tại phía nam sông Hương,
đặt tên thuỵ là Thái Tổ Võ Hoàng đế. Sai quan Thị trung Đại học sĩ Ngô Nhậm, Hộ
bộ Tả đồng nghị Nguyễn Viết Trực, Hộ bộ Tả Thị lang Nguyễn Văn Thẩm sang nhà
Thanh báo tang; nói dối rằng Huệ di chúc sau khi mất chôn tại Bắc thành Hồ Tây
ngõ hầu được gần gũi nương dựa Thiên triều. Vua Thanh tin theo, ban cho thuỵ là
Trung Thuần và đích thân làm bài thơ điếu:
Ngoại bang lệ dĩ khiển bồi thần,
Triển cận tùng vô chí kỷ thân.
Nạp khoản tối gia lai ngọc khuyết,
Hoài nghi kham tiếu đại kim nhân.
Thu trung thượng ức y quan túc,
Tất hạ thành như phụ tử thân.
Thất tự bất năng bãi ai thuật,
Liên kỳ trung khổn xuất trung chân.
Dịch nghĩa:
Nước ngoài có lệ sai Bồi thần,
Việc triều cận, Quốc vương chưa hề đích thân đến.
Nộp cống tốt đẹp nhất là Quốc vương đến kinh khuyết,
Đáng cười cho triều trước bị ngờ vực, nên đem người vàng đến
thay.
Trong mùa thu trước nhớ Quốc vương áo mũ chỉnh túc,
Ân cần ôm gối, thân mật như cha con.
Thơ bảy chữ không nói hết lòng xót xa của Trẫm,
Thương lòng trung thành phát xuất tự đáy lòng.
Còn ban thêm một tượng Phật, ba ngàn lạng bạc để làm việc
tang, phái quan Án sát Quảng Tây Thành Lâm đến mộ giả tại Linh Đường thuộc huyện
Thanh Trì để đọc văn tế. Bài văn có câu:
Chúc ly nam cực hiệu trung đặc tưởng kỳ xu triều,
Thoả phách Tây Hồ một thế vô vong ư luyến khuyết.
(Chúc cho Vương ở cực nam hết lòng trung, nên đặc thưởng
sang chầu
Thoả hồn phách ở Tây Hồ, chết cũng không quên lòng quyến luyến
kinh khuyết)
Bài văn điếu được khắc vào bia đá bên tả mộ” [5]
Sử nước ta chỉ mới chép được một nửa sự thực, đó là mặt nổi
của sự việc. Còn mặt chìm thì phải đọc ngay đạo dụ của vua Càn Long gửi cho
quan Đại thần lo việc cơ mật của nhà Thanh, trong văn bản này nhà vua tiên liệu
sau khi vua Quang Trung mất, nước ta sẽ có biến, hoặc do Nguyễn Nhạc giành ngôi
của cháu, hoặc do quyền thần Ngô Văn Sở uy hiếp vua còn nhỏ tuổi; do vậy Càn
Long âm thầm bày mưu tính kế, để thừa cơ hội sang xâm lăng nước ta. Nhà vua lập
tức sai viên Tri đạo Thành Lâm sang phúng điếu với mật lệnh dò xét tình hình nội
bộ nước ta, cùng ra lệnh cho Phúc Khang An từ Nepal đến biên giới gấp; với ý đồ
chờ nước ta có biến, sẽ ra tay can thiệp:
Ngày 22 tháng Giêng năm Càn Long thứ 58 [3/4/1793]
Dụ các Quân Cơ Đại thần: Cứ lời tấu của Quách Thế Huân:
“Quốc vương An Nam Nguyễn Quang Bình đã mất tại Nghĩa An
[Nghệ An] [6] vào tháng 9 năm ngoái, Thế tử Nguyễn Quang Toản 15 tuổi, tạm quyền
quốc sự; định trong vòng tháng giêng sai Bồi thần cung kính dâng biểu văn cùng
tiến cống v.v…
Xem tờ tấu rất lấy làm thương tiếc, Quốc vương nước này mất
vào tháng 9 năm ngoái, viên Di mục báo tin hơi chậm, chắc lúc này đã làm lễ tống
táng, nên điển lệ lúc lâm chung không kịp thi hành. Nay làm bài thơ điếu, sai
viên Tri đạo Thành Lâm đến Nghĩa An, làm lễ phần hoá [7] trước mồ Nguyễn Quang
Bình, lại lấy từ ngân khố tỉnh Quảng Tây ra 3.000 lượng bạc, kèm một tượng Phật,
cũng sai Thành Lâm mang đến tế điện và thưởng cấp để tỏ lòng thể tuất. Con Nguyễn
Quang Bình là Nguyễn Quang Toản trước đây đã được phong Thế tử, tự nhiên đáng
được làm Phiên thần; nay lệnh cho Thành Lâm truyền chỉ phong Nguyễn Quang Toản
An Nam Quốc vương. Các sắc thư, y phục cẩm bào đợi sau khi viên Sứ thần Ngô Thời
Nhiệm đến kinh đô sẽ theo lệ ban cấp, cho lệnh mang về.
Nguyễn Quang Bình ngưỡng vọng uy linh của Thiên triều cai trị
đất An Nam. Nước này mới lập, lòng người chưa hẳn được mười phần ổn định, huống
hồ anh em không hoà mục, Nguyễn Nhạc tại Quảng Nam, không khỏi có ý đồ dòm ngó.
Còn Ngô Văn Sở tuy là người đã từng giúp sức thời khởi sự, nhưng đã chắc gì
đáng tin cậy. Nguyễn Quang Toản tuổi còn nhỏ, nên hiện nay mọi việc trong nước
giao cho Ngô Văn Sở quản lý; sợ y nhân chủ còn nhỏ, trong nước có kẻ nghi ngờ,
bèn âm mưu việc bất trắc, hoặc làm chuyện bức hiếp chuyên quyền cũng chưa định
được. Nay Trần Dụng Phu đem chỉ dụ này hiểu thị mật cho Thành Lâm rằng sau khi
đến Nghệ An, chớ động thanh sắc, hãy bí mật dò tìm quan sát. Nếu như Ngô Văn Sở
quả thực thuỷ chung như nhất, lo việc nước cho Nguyễn Quang Toản, Trẫm đáng ưu
đãi tưởng lệ; nếu hành động có nhiều điều ngang ngược, Thành Lâm hãy dùng
phương tiện trạm dịch tâu gấp, đợi Trẫm liệu biện. Ngoài việc ban chỉ dụ riêng
cho Phúc Khang An từ Tứ Xuyên di chuyển gấp đến Việt Tây [Quảng Tây] để lo việc
đàn áp bên ngoài; hãy mang dụ này từ 600 dặm cấp tốc truyền cho Trần Dụng Phu
cùng Thành Lâm, lại dụ Quách Thế Huân để hay biết.” [8]
Cùng trong ngày chỉ dụ nêu trên được chuyển theo lối hoả tốc
cho quyền Tổng đốc Lưỡng Quảng Quách Thế Huân, Tuần vũ Quảng Tây Trần Dụng Phu;
vua Càn Long lại viết riêng một dụ khác cho Phúc Khang An, điều động viên võ
quan này từ Khuếch [hoặc Khách] Nhĩ Khách [Nepal] đến ngay Lưỡng Quảng để chuẩn
bị cho kế hoạch tại Việt Nam. Đây là một quyết định đột ngột, vì trước đó vua
Càn Long đã hứa cho Khang An được về làm việc tại kinh đô để được gần mẹ già:
Dụ cùng ngày 22 tháng Giêng năm Càn Long thứ 58 [3/4/1793]
“Phúc Khang An lo liệu công việc tại Khuếch Nhĩ Khách, trải
qua nhiều gian khổ, thành tích tốt đẹp. Dự định sau khi mọi việc hoàn thành, lệnh
Phúc Khang An đến kinh đô bệ kiến, thăm mẹ, ở lại kinh đô vài tháng, rồi trở về
nhiệm sở tại Lưỡng Quảng. Lại nhân mẹ Phúc Khang An bị bệnh, nghĩ đến Phúc
Khang An từ lâu khâm sai tại cõi ngoài, không tròn đạo hiếu định tỉnh [9] . Huống
mẹ y tuổi ngoài bảy mươi, trong cung nơi Ngự tiền cũng cần người; nên lại có ý
định sau khi Phúc Khang An đến kinh đô, cho lưu lại nhậm chức, khiến được ở gần
phụng dưỡng mẹ già, chứng tỏ lòng thể tuất của Trẫm.
Nhưng ngày hôm nay xem tờ tấu của Trần Dụng Phu, được biết
Nguyễn Quang Bình bị bệnh, mất vào ngày 29 tháng 9 năm ngoái. Nguyễn Quang Bình
không hoà mục với anh em; viên Bồi thần nước này là Ngô Văn Sở quản lý việc nước
đã lâu, cũng e rằng không phải là bọn yên phận. Lòng người phản trắc, nếu có việc
xảy ra, khó mà liệu biện. Lúc này công việc tại biên ải, riêng bọn Quách Thế
Huân, Trần Dụng Phu không đủ khả năng lo liệu; cần một Đại thần đến nơi. Nhưng
người mà nhân tình nước đó chấn phục, thì không ai uy vọng lớn hơn Phúc Khang
An. Vậy cần được Phúc Khang An đến Quảng Tây, trú trát một số ngày, mới đủ lo
việc đàn áp.
Phúc Khang An nhận được chỉ dụ này, lập tức từ tỉnh Tứ Xuyên
qua Hồ Nam, đến ngay Quảng Tây. Tỉnh này vốn là vùng quản hạt của Phúc Khang
An, nếu nghe được sự động tĩnh, thì đừng ngại trú tại đó một vài tháng, bí mật
quan sát, tuỳ thời mà liệu biện. Trước định cho Phúc Khang An đến kinh đô nhận
mệnh, cũng do y nặng tình quyến luyến kinh khuyết, ngoài việc chiêm cận, còn được
gần gũi thăm hỏi mẫu thân; mà y trải qua sự cực nhọc, Trẫm cũng rất muốn được gặp.
Nhưng tình hình như vậy, Phúc Khang An không thể không đến thẳng Lưỡng Quảng;
trước mắt Trẫm cũng không cần ban chỉ dụ trực tiếp. Còn bệnh của mẹ Phúc Khang
An đã khoẻ lại, Phúc Khang An nhận ơn sâu, hãy lấy việc công làm trọng, hân
hoan đến Quảng Tây, lo liệu công việc ổn thoả. Nay thưởng cấp đồ Ngự dụng một
đôi bao sen lớn Hồ Lô, 4 cái bao sen nhỏ, để làm rạng rỡ sự ưu đãi. Cho sao tấu
triệp của Trần Dụng Phu, chỉ dụ cho viên Tuần phủ này sai Thành Lâm đi phúng điếu,
gửi cho [Phúc Khang An] để duyệt khán.” [10]
Cò trai đánh nhau
Ngư ông đắc lợi
Ngư ông Phúc Khang An với đạo quân hùng mạnh đã hờm sẵn nơi
biên giới Lưỡng Quảng, nhưng trong nội bộ nhà Tây Sơn vẫn chưa có dấu hiệu cò
trai đánh nhau. Mặt khác trong nước ta lúc bấy giờ chắc cũng có người giỏi, biết
rõ bụng dạ nhà Thanh, nên không muốn cho bọn gián điệp đội lốt ngoại giao Thành
Lâm vào Huế để dò la bí mật nội bộ của ta! Xây mộ giả đất Bắc, bề ngoài nói
khéo rằng tuy mất mà vẫn quyến luyến Thiên triều; đây là đòn ngoại giao tìm
cánh ngăn cách ảnh hưởng nhà Thanh, với lời đường mật:
Ngày 4 tháng 5 năm Càn Long thứ 58 [11/6/1793]
Dụ Quân Cơ Đại thần: Từ khi Quốc vương An Nam Nguyễn Quang
Bình xưng thần qui phụ đến nay, thành tâm cải hoá, cung thuận đáng khen. Năm
trước thân đến kinh khuyết chiêm cận, yêu kính đội ơn phát ra từ dạ chí thành.
Lúc từ giã bệ rồng, ngõ lời sẽ đến chúc mừng vào năm Trẫm thượng thọ 90 tuổi;
vì thế nên được ưu thưởng nhiều lần, cho làm phên dậu đất Nam giao, sự nương dựa
mỗi ngày một nặng. Mới đây theo lời tấu của Quách Thế Huân, viên Quốc vương lìa
trần vào tháng chín năm ngoái tại Nghệ An, sai riêng Bồi thần dâng biểu đến
kinh đô báo cáo. Đã giáng chỉ thưởng cấp 3.000 lạng bạc, cùng thơ Ngự chế phúng
điếu, sai viên Án sát sứ Thành Lâm đến tế điện, truyền chỉ phong Thế tử Nguyễn
Quang Toản làm An Nam Quốc vương để chính danh định phận, yên lòng người. Hôm qua
nhận tờ tấu của Thành Lâm xưng rằng:
“Vào ngày mồng 8
tháng 4 đến địa phương Gia Quất [Bắc Ninh] nước An Nam, Nguyễn Quang Toản đưa
văn võ Bồi thần lớn nhỏ quì đón long đình [11] . Vào ngày mồng 10 đến thành
Thăng Long, truyền chỉ phong Nguyễn Quang Toản làm An Nam Quốc vương; cả nước
quan dân, không ai là không hoan ngênh cổ vũ, đồng thanh ca tụng. Nguyễn Quang
Toản lại xưng với Thành Lâm rằng khi Nguyễn Quang Bình hấp hối, có lời trối với
Quang Toản rằng bất tất chôn tại Nghệ An, hãy đem đến Tây Hồ an táng; từ Tây Hồ
đến trấn Nam Quan, so với Nghệ An thì gần hơn cả chục trạm dịch, ngõ hầu hồn
phách linh thiêng có thể được gần cung khuyết của Thiên tử!”
Lời nói và tấm lòng hết sức tha thiết, xét đến càng thương
xót nhiều. Lúc viên Bồi thần dâng biểu [báo tang] đến kinh đô, bèn gia ơn đặc
cách để làm rạng rỡ chốn tuyền đài; Nguyễn Quang Bình được ban thuỵ Trung Thuần
cùng với bài thơ Ngự chế. Truyền cho Nguyễn Quang Toản đem thơ Ngự chế và chiếu
chỉ này khắc vào bia ngay trước mộ, để biểu dương lòng cung thuận thuỷ chung
thành khẩn quyến luyến cung khuyết, thoả vong hồn trung nghĩa, làm sáng tỏ phép
tắc điển lệ.
Thơ Ngự chế:
Qui phiên thức lệ biệt phong thần [12] ,
Hồi thủ tần xưng cận cửu tuần.
Chúc lệnh Tây hồ dĩ thân thoả,
Thị y Bắc khuyết chí tâm thân.
Tự tư loạn mệnh đồng trị mệnh,
Nhẫn vị ngoại thần thành thế thần.
Tảo thập thất ngôn lặc uyển diễn,
Quế cương thiên tải thức trung thuần.
Dịch nghĩa:
Phiên thần trở về nước, gạt lệ từ biệt cung vua,
Quay đầu thưa rằng sẽ trở lại chiêm cận vào dịp Thiên tử thượng
thọ chín mươi.
Lúc hấp hối dặn dò an táng tại Hồ Tây,
Để linh hồn được tho nguyện nương về kinh khuyết phương Bắc.
Lúc vận mệnh đảo điên, lòng không đổi giống như lúc bình an,
Bề tôi ngoài nước, nhưng thân cận như trong nước.
Chọn lời đẹp ghi thành thơ thất ngôn, khắc lên châu ngọc,
Để ngàn năm sau biết được bề tôi trung thuần. [13]
Vở kịch xây mộ giả tại Hồ Tây để được gần gũi Thiên triều đã
là khéo rồi, Nguyễn Quang Toản lại khéo hơn bằng cách biểu lộ niềm trân quí thơ
vua Càn Long tặng cha, đến nỗi chỉ chép lại bài thơ rồi cho đốt trước mồ, riêng
bản chính thì cho giữ lại để làm quốc bảo. Mọi việc được diễn tiến một cách êm
xuôi, khiến nhà Thanh không có cơ hội để can thiệp vào nước ta:
Ngày 5 tháng 5 năm Càn Long thứ 58 [12/6/1793]
Dụ các Quân Cơ Đại thần: Thành Lâm tấu: “Vào ngày 12 tháng 4
đến tế dụ trước phần mộ Nguyễn Quang Bình, Nguyễn Quang Toản thưa rằng:
Thân phụ được ban ân điển lớn, từ xưa đến nay hiếm ai có được
như vậy; tuy mòn gót liều thân cũng không đủ để báo đáp. Thơ Ngự chế là quốc bảo,
đáng giữ lại trong nước truyền đời, không dám đốt đi; chỉ xin sao lại một bản để
làm lễ phần hoá v.v…
Nguyễn Quang Toản tuy tuổi còn nhỏ, biết thận trọng kính cẩn,
thực đáng khen. Thành Lâm cho rằng sự cảm khích phát ra từ lòng chí thành, nên
chấp nhận lời xin; việc này cũng đúng. Riêng theo Nguyễn Quang Toản xin:
Đáng nên thân đến kinh khuyết làm lễ tạ ơn, nhưng mới được
ban tước, chưa tiện rời nước; có viên Bồi thần Ngô Đình Phụng là người thân tín
của phụ thân, sai đến kinh đô tạ ơn thay v.v…
Điều này xét ra không cần thiết. Sau khi Nguyễn Quang Bình mất,
nước này đã gửi riêng Sứ thần[14] đến báo, nay vẫn chưa tới kinh đô; An Nam đường
sá xa xôi, lại gửi thêm Sứ thần đến, không khỏi phiền hà mệt nhọc phải lặn lội
đi về. Thành Lâm hiện được lệnh đến kinh đô, đợi Phúc Khang đến Lưỡng Quảng
cũng cần thêm ngày giờ; vậy Trần Dụng Phu hãy thông tri cho viên Quốc vương rằng
không cần phải gửi Bồi thần Ngô Đình Phụng đến kinh đô tấu thay. Nếu như lúc chỉ
dụ này đến nơi, Ngô Đình Phụng đã đến quan ải; thì ngay trên đường đi, cho y trở
về nước để tỏ lòng thể tuất.
Mới đây lúc Nguyễn Quang Bình hấp hối, trối lại cho Nguyễn
Quang Toản rằng không cần phải đưa linh cữu về Nghệ An, hãy cho an táng tại Tây
Hồ, để được gần gũi cung khuyết của Thiên tử, tình từ thiết tha, đã giáng chỉ
ban thuỵ [15] Trung Thuần cùng một bài thơ Ngự chế, để viên Quốc vương [đương
nhiệm] khắc bia tại trước mộ, biểu lộ tấm lòng thành trước sau quyến luyến kinh
khuyết. Tờ chiếu chỉ này cùng thơ Ngự chế, đợi sau khi Sứ thần đến kinh đô báo
tang, sẽ giao cho để kính cẩn mang về. Nguyễn Quang Toản tiếp nhận xong, cũng
không cần sai sứ tạ ơn, chỉ cần dâng biểu giao cho viên Tuần phủ [Quảng Tây]
chuyển tấu.
Còn Nguyễn Quang Toản xưng rằng muốn đích thân đến kinh đô,
lại cũng không cần. An Nam là nước tân tạo, Nguyễn Quang Toản mới được phong tước,
các em tuổi còn nhỏ, mọi việc cần phải lo liệu, há lại coi thường đi xa? Cũng
ra lệnh cho Trần Dụng Phu báo thêm cho Nguyễn Quang Toản hay rằng sau năm Càn
Long thứ 60, đại Hoàng đế sẽ ước lượng tình hình, hoặc sẽ giáng chỉ cho đến
kinh đô cũng chưa biết chừng. Đem dụ này truyền từ 500 dặm cho Trần Dụng Phu,
cùng báo Phúc Khang An biết. [16]
Nguồn: © 2007 talawas
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét