Chủ Nhật, 28 tháng 1, 2018

2429 - Toàn cầu hoá môi sinh




Kể từ khi đúc kết bảng Thông Cáo Chung cho hội nghị Thượng Đỉnh về môi sinh tại Rio de Janeiro năm 1992, đại diện của 170 quốc gia trên toàn thế giới đã nhóm họp một lần nữa ở New York vào tháng 6/1997 để lượng định kết quả sau khi ký kết nhiều điều luật áp dụng cho toàn cầu. Tiếp theo, hàng năm các quốc gia trên thế giới cũng đều tổ chức thêm nhiều hội nghị thảo luận về các chuyên đề còn vướng mắc, đặc biệt là sự hâm nóng toàn cầu, và những năm sau nầy đổi tên lại là "sự thay đổi khí hậu" qua COP 23 tạo Bonn, Đức quốc vào tháng 11/2017.

Các ký kết sau đây đã được khơi mào từ năm 1992 và đang được tiếp tục bàn thảo và chi tiết tùy theo điều kiện từng vùng một:

- Ký kết về Đa dạng sinh học đã nêu lên tích chất bảo vệ môi trường, giám sát/chia sẻ hỗ tương các vấn đề môi sinh giữa các quốc gia;

- Luật về Biển để điều hòa các mặt kinh tế trên mặt biển cũng như định ranh hải phận và bảo vệ nguồn cá biển của từng quốc gia một;

- Luật Đánh cá ngoài biển khơi năm 1995 áp dụng cho toàn thế giới;

- Ký kết giữa Âu châu và Hoa kỳ về việc hạn chế lượng khí thải hồi vào bầu khí quyển để bảo vệ lớp ozone (1996);

- Luật cấm chuyễn vận các chất phế thải kỹ nghệ kể cả phế thải nguyên tử qua các nước kém mở mang.

1. Kết quả sau 25 năm

Sau 25 năm ròng rã hoạt động phối hợp từ sau hội nghị Thượng đỉnh, các kết quả ghi nhận thể hiện nhiều mặt tích cực lẫn tiêu cực.

Nhìn chung về các mặt tiêu cực thì sự gia tăng mức độ ô nhiễm không khí và sự giảm thiểu nguồn nước sinh hoạt là mối lo ngại hàng đầu cho thế giới mặc dù có quá nhiều luật lệ ràng buộc các quốc gia với nhau về hai vấn đề trên. Và kết quả dây chuyền là lượng ngủ cốc sản xuất cũng như lượng protein động vật sẽ không tăng trưởng kịp với đà gia tăng dân số trên thế giới. Nguy cơ nạn đói có thể xảy ra trầm trọng hơn trong tương lai ở những nước có đông dân cư và kém mở mang.

Về mặt tích cực, cần phải kể đến trước tiên là mức gia tăng dân số giảm dần dù còn có nhiều nơi không hạn chế được mức sinh sản như ý muốn. Với sự tiếp tay của các quốc gia giàu, cộng thêm trình độ dân trí ở các quốc gia đang phát triển tăng dần, mức gia tăng dân số đã giảm so với năm 1992, mặc dù dân chúng có tuổi thọ tăng lên và sống mạnh khỏe hơn. 

Về môi sinh có nhiều chỉ dấu cho thấy cố gắng trong việc giải quyết và thanh lọc môi trường ở nhiều quốc gia nhất là ở những quốc gia đang phát triển để từng bước hội nhập vào cộng đồng quốc tế.

Các quốc gia kỹ nghệ đã có nhiều cố gắng trong việc cải thiện môi trường, điển hình như:

- Như việc Đại học Toronto (Canada) đang đi gần đến kết luận trong việc nghiên cứu cải tạo đất ở những vùng đã bị lão hóa vì thâm canh và sử dụng quá nhiều hóa chất như phân bón và thuốc trừ sâu bọ; 

- Đại học MIT (Hoa Kỳ) đã nghiên cứu một số cây trồng qua kỹ thuận gene để có thể chống mặn và hấp thụ muối ở những vùng bị nước mặn xâm lấn. Và cũng chính kỹ thuật gene nầy sẽ giúp cho các thế hệ thực vật trong tương lai sẽ có sức đề kháng cao, tăng năng suất... do đó sẽ tiết giảm diện tích trồng trọt cùng phân bón và nước tưới tiêu;

- Trước những nguy cơ của việc sử dụng nhiều hóa chất như phân bón, thuốc sát trùng, diệt cỏ dại v.v..., một số quốc gia đã ý thức và cổ súy nông dân áp dụng phương pháp trồng trọt không dùng hóa chất, phương pháp hữu cơ (organic farming method). Kết quả trước mắt là phương pháp nầy làm giảm ô nhiễm mạch nước ngầm, và nông dân tránh được việc tiếp xúc trực tiếp với các loại hóa chất độc hại;

- Âu châu đã đi đầu cho chương trình trên bằng cách tăng diện tích trồng trọt theo phương pháp trên; 

- Ở Ý và Áo, diện tích đất áp dụng đã tăng hơn bốn triệu mẫu tây, chiếm hơn 10% tổng số diện tích trồng trọt trong năm 1999.

Tuy nhiên nhiều vấn đề tồn đọng vẫn còn quá nhiều ảnh hưởng trực tiếp lên hành tinh của chúng ta đang sống như:

- Sự bất cân đối về mức độ giàu/nghèo giữa các quốc gia. 

- Sức mạnh và quyền lực chính trị/kinh tế của một số quốc gia đã phát triển;

Đó là hai yếu tố căn bản ảnh hưởng đến môi trường sống và là cội nguồn bất ổn cho tương lai của các quốc gia. Đây cũng là những khuyến cáo do Worldwatch Institute đúc kết qua cuốn bạch thư Chỉ dấu sinh tồn 2000 - Vital signs 2000. Để rồi, hàng năm đều có một Vital Signs cho từng vùng một, thí dụ như hình dưới đây là resolutions của Vital sings 2017 ở Winnigeg, Canada

2. Những vấn đề tồn đọng hiện nay

Nạn nghèo đói: Mặc dù có sự kêu gọi của thế giới qua hội nghị Copenhagen (Đan Mạch) vào năm 1995 với chủ đề "quốc gia giàu phải viện trợ và xóa nghèo cho quốc gia nghèo" nhưng khoảng cách giàu nghèo giữa các quốc gia trên càng tăng. Bắc bán cầu và Nam bán cầu có hai đời sống kinh tế trái ngược. Trong năm 1999, kinh tế toàn thế giới khơi động trên 41 ức Mỹ kim (1 ức= 10-12) cho sinh hoạt và dịch vụ... nhưng 45% số lượng trên đã đi vào 12% dân số của các quốc gia hậu kỹ nghệ. Hiện tại vẫn còn trên 1.5 tỷ người sống trong tình trạng nghèo tuyệt đối (lợi tức dưới US$1/ngày). Và tình trạng nghèo đói nầy tiếp tục tăng thêm mặc dù có nhiều kết ước của các quốc gia giàu về việc chia sẻ và giảm thiểu phân nửa số lượng người nghèo trên thế giới vào năm 2015. Theo nhận định của thủ tướng Đan Mạch trong kỳ họp của Liên Hiệp Quốc về Hội nghị giảm nghèo tại Geneve (Thụy Sỉ) vào tháng 6/2000 thì các nước giàu cần phải cố gắng thêm để đạt được tiêu chuẩn trên.

Cũng trong năm 1999, các nước đang mở mang hiện còn nợ cc quốc gia phát triển 2.5 ức Mỹ kim. Tình trạng trên ảnh hưởng rất lớn đến các nước nghèo vì đôi khi mức nợ cần phải thanh toán chiếm hơn 39% ngân sách quốc gia. Chính tình trạng nầy đã khiến cho các nước nghèo không thể giải quyết được các vấn nạn thay đổi môi trường (thiên tai) như ngập lụt và đất chùi như đã xảy ra tại Venezuela vào tháng 12/1999. Thảm trạng nầy khiến cho trên 30.000 người thiệt mạng.

Các quốc gia phát triển đã hứa sẽ giúp đỡ tài chánh cho các quốc gia kém mở mang trong kỳ đại hội thượng đỉnh năm 1992, Liên Hiệp Quốc đã đưa ra đề nghị cụ thể là nên trích 0,7% tổng sản lượng quốc gia cho viện trợ. Nhưng hiện tại, mức viện trợ cho các nước nghèo chỉ đạt được 0,3% cho năm 1992 và 0,27%, năm 1995. Và chỉ tiêu mới nhất là sẽ đạt được tiêu chuẩn 0,7% cho năm 2002. (Lợi tức đầu người ở Việt Nam cho năm 1992 là US$230/năm đã tăng lên US$330/năm trong năm 1999. Cũng trong năm nầy, lợi tức của người dân Lào là US$377/năm).

Cung và Cầu: Vẫn còn 20% dân chúng trên thế giới tiêu thụ 80% nguồn tài nguyên thiên nhiên! Chính thiểu số người dân sống trong các quốc gia giàu nầy làm cho môi trường càng thoái hóa nhanh hơn như nhận định của Molly Sheehan trong bạch thư chỉ dấu sinh tồn 2000 trên. Chúng ta hình dung số lượng giấy sử dụng ở các quốc gia phát triển cao hơn chín lần mức tiêu thụ ở các nước nghèo. Số lượng xe sử dụng ở Bắc Mỹ, Tây Âu và Nhật Bổn cao gấp trăm lần ở Ấn Độ và Trung Quốc theo ước tính của UN Population Fund.

Mặc dù chính quyền của các quốc gia giàu đã đưa ra nhiều chính sách để cố gắng hạn chế sử dụng bừa bãi tài nguyên thiên nhiên, cải tiến quy trình sản xuất "sạch", tái sử dụng các phế phẩm để giảm thiểu phế thải độc hại... tuy nhiên người dân ở những nước nầy vẫn còn nhiều thói quen xấu trong sinh hoạt hàng ngày như phí phạm nguồn nước sinh hoạt và năng lượng.

Vấn đề Dân số: Vì nhu cầu cung cấp lương thực cần tăng theo tỷ lệ thuận với đà gia tăng dân số, các quốc gia đang mở mang cố gắng luân canh và thâm canh để gia tăng ngũ cốc. Việc làm nầy khiến cho đất đai bị cằn cỗi sớm hơn dự liệu trong vài vùng trên thế giới do đó mức độ phá rừng tăng nhanh hơn... Đối với các quốc gia đã phát triển, mức gia tăng dân số tương đối ổn định, và mức tăng trưởng lương thực hoàn toàn phù hợp và có tính khả thi cao so với điều kiện xã hội dự kiến cho một vài thế hệ tiếp theo. Ngược lại, ở các nước đang mở mang, việc tăng trưởng dân số quá nhanh và khó kiểm soát vẫn là vấn nạn chính cho các chính quyền nói trên. Từ tình trạng thiếu phương tiện, nguồn vốn cho đến dân trí người dân còn thấp kém.... quả thật khó cho các nước đang mở mang có thể hoạch định được một chương trình hay kế hoạch hữu hiệu về kiểm soát sinh sản.

Năm 1994 tại Cairo (Ai Cập) vấn đề hạn chế sinh sản được đặt ra nhưng vẫn còn tùy thuộc vào quyết định riêng của từng quốc gia. Cần nên nói thêm là yếu tố tôn giáo cũng là một cản ngại đáng kể trong vấn đề nầy. Năm 1959, nhà dự phóng Aldous Huxley trong bài thuyết giảng "Tình trạng nhân loại" (The Human Situation) tại Đại học Santa Barbara ước tính có 2,8 tỷ nhân khẩu hiện diện trên quả đất. Năm 1970, con số nầy tăng lên 3,7 tỷ được ghi nhận trong Ngày Địa cầu - Earth Day đầu tiên. Ba chục năm sau dân số tăng lên 6 tỷ. Hiện nay (2017) là 7,4 tỷ; và dự đoán cho năm 2050 là 9 tỷ. Trong tương lai, gần 98% của mức gia tăng dân số xảy ra ở những quốc gia đang phát triển như vùng Sahara (Phi Châu), dân số sẽ gấp đôi cho mỗi chu kỳ 23 năm!

Theo thống kê, tính đến tháng tư năm 1999, dân số Việt Nam có 76.327.921 người, tăng 11,9 triệu so với năm 1989. Tỷ lệ tăng dân số trung bình của thời kỳ 1989 – 1999 là 17%, giảm 5% so với thời kỳ 1979 – 1989. Năm 1998 tỷ suất sinh là 2,5 con cho một phụ nữ trong hạn tuổi sinh đẻ, giảm hơn 1/3 so với cách đó 10 năm. Tuy nhiên, mức độ gia tăng vẫn còn cách xa so với chỉ tiêu 2,0 con cho một phụ nữ. Đến năm 2017, dân số Việt Nam tăng lên đến hơn 95 triệu.

Dự kiến tăng trưởng dân số của một vài quốc gia trên thế giới cho năm 2035 là: Hoa kỳ 275 triệu năm 1999, tăng lên 408 triệu, Trung Cộng 1,3 tỷ lên 1,6 tỷ; và Ấn độ từ 1,0 tỷ lên 1,6 tỷ.

Rừng, Đất đai và Thực phẩm: Trong khi các nước hậu kỹ nghệ đang đẩy mạnh việc trồng rừng, tái tạo rừng và hạn chế phá rừng cho kỹ nghệ giấy và xây cất... thì sự thất thoát rừng ở các quốc gia kém mở mang đang trên đà báo động. Vì nhu cầu phát triển và tăng diện tích đất trồng trọt, nạn phá rừng bừa bãi làm cho rừng bị hủy diệt với tốc độ nhanh hơn việc tái tạo rừng. Trung bình hàng năm trên thế giới có khoảng 13,7 triệu hecta rừng biến mất. Riêng tại Việt Nam, năm 1994 tổng diện tích rừng chiếm 44% theo cơ quan Lương Nông quốc tế, nhưng năm 1980 còn khoảng 24% và tính đến năm 1998 chỉ còn 17% trên tổng diện tích đất đai! Với tốc độ phá rừng kể trên, thì trong tương lai chúng ta khó có thể lường được hậu quả của những thiên tai sẽ xảy ra cho Việt Nam.

Về lương thực: Mặc dù mức sản xuất đang trên đà gia tăng nhưng vẫn còn trên 800 triệu nhân khẩu trên thế giới đang chiến đấu với nạn đói và thiếu dinh dưỡng. Việc sử dụng thuốc trừ sâu rầy bừa bãi, phương pháp trồng trọt còn quá thô sơ, kỹ năng hiểu biết và ứng dụng phân bón còn yếu kém... Đó là những nguyên nhân chính làm cho hơn 300 triệu hecta đất dùng cho nông nghiệp bị thoái hóa hay không thể khai khẩn được. Thêm nữa, khoảng 1,2 tỷ hecta đất đang báo hiệu hiện tượng lão hóa và cho năng suất rất kém. Sự sa mạc hóa của đất ngày càng ảnh hưởng mạnh lên tổng diện tích đất trồng trọt trên thế giới. Tình trạng nầy chiếm hơn 1/4 đất nông nghiệp tương đương với 3,6 tỷ hecta. Một đại hội chống sa mạc hóa diễn ra trong năm 1996 đã cảnh báo về vấn đề nầy và khuyến cáo các quốc gia giàu nên viện trợ các nguồn thực phẩm thặng dư đến các nước nghèo, song song với việc cung cấp các kỹ năng tiên tiến để giúp các nước nầy tăng năng suất sản xuất thực phẩm.

Nguồn nước sinh hoạt: Hiện tại vẫn còn 1/3 dân số trên thế giới sống trong tình trạng thiếu nguồn nước để sinh hoạt hàng ngày. Nếu không có biện pháp thích ứng trong việc phân phối và tái tạo nguồn nước thì theo ước tính đến năm 2025 sẽ có 2/3 dân số không đủ nước để sử dụng. Trên thế giới, lượng nước ngầm bị thất thoát hàng năm là 160 tỷ thước khối, tương đương với lượng nước cần thiết để sản xuất 1/10 lượng lương thực nông phẩm cho nhân loại. Do đó việc xử lý và tái sử dụng nước thải sinh hoạt của dân chúng là ưu tiên hàng đầu. Thêm nữa, nếu lượng nước thải hồi không được xử lý, số nước nầy sẽ làm ô nhiễm mạch nước ngầm khiến cho tình trạng khan hiếm nước sạch càng tăng thêm.


Dự phóng về mức cung/cầu nước cho 118 quốc gia trên thế giới cho năm 2025 đã được Viện Quốc tế Quản trị nước - International Water Management Institute (Washington) nghiên cứu, phân loại, và đề xướng một số cảnh báo sau đây: cuộc chiến tranh trong tương lai nếu có sẽ khơi nguồn từ việc tranh giành nguồn nước sinh hoạt. Chính Gaddafi (Libya) đã từng tuyên bố ngày 3/12/1999 rằng Ai Cập có thể gây chiến tranh ở vùng Trung Đông vì... nước!

Căn cứ theo phân loại của viện nghiên cứu trên, có bốn loại quốc gia được phân chia tùy theo tình trạng khan hiếm nước sau đây:

- 17 quốc gia không đủ nước cho nhu cầu so với nguồn nước đã có năm 1990; đó là các quốc gia vùng Trung Đông, Nam Phi, Tây và Nam Ấn Độ, Tây và Tây Bắc Trung Cộng;

- 24 quốc gia cần phải tăng nguồn nước lên 100% để đối phó vớ sự gia tăng dân số như các quốc gia chung quanh sa mạc Sahara Phi châu;

- 32 quốc gia cần phải luân canh và dùng kỹ thuật cao để giảm lượng nước sử dụng cho nhu cầu nông nghiệp như Bắc Phi Châu, Nam Dương, Miến Điện, Nam Mỹ, Mễ Tây Cơ, và Trung quốc;

- Sau cùng số quốc gia còn lại như Bắc Mỹ, Tây Âu, Việt Nam mặc dù còn đủ lượng nước để sinh hoạt và tưới tiêu nhưng cũng cần phải đẩy mạnh việc thanh lọc lại để tái tạo nguồn nước...

Trong trường hợp Việt Nam, vào năm 2000 có 54% dân chúng sống trong các đô thị lớn được hưởng nguồn nước sạch và ở vùng nông thôn, nước sạch chỉ được phân phối cho nông dân là 34%. Nếu tính tổng số dân Việt Nam ở thời điểm nầy là 78 triệu và có 72% dân chúng sống ở vùng nông thôn thì có khoảng 46 triệu dân chúng vẫn dùng các nguồn nước không hợp vệ sinh vào các nhu cầu hàng ngày!

Qua Báo cáo Hiện Trạng Môi Trường Quốc Gia 2016 trong chuyên đề: Môi Trường Đô Thị của Bộ Tài Nguyên Môi Trường, xuất bản ở Hà Nội: "Theo số liệu thống kê năm 2015, trong tổng số 787 đô thị trên cả nước có 42 đô thị có công trình Xử Lý Nước Thải đạt tiêu chuẩn quy định đạt 5,3%". Nghĩa là có đến 94,7% nước thải ra môi trường không đạt tiêu chuẩn. Điều này giải thích vì sao: "Nước mặt ở các sông, hồ, kênh, mương nội thành, nội thị hầu hết đã bị ô nhiễm do tiếp nhận chất thải từ các hoạt động phát triển đô thị, khả năng tự làm sạch thấp, nhiều hồ đã trở thành nơi chứa nước thải của các khu vực xung quanh. Mặc dù đã có những nỗ lực cải thiện thông qua các dự án cải tạo nhưng ô nhiễm nước mặt tại các khu vực này vẫn đang là vấn đề nổi cộm tại hầu hết các đô thị hiện nay".

Việt Nam hiện có (2015) khoảng 17,2 triệu người (tương đương 21,5% dân số) đang sử dụng nguồn nước sinh hoạt từ giếng khoan, chưa được kiểm nghiệm hay qua xử lý, theo thống kê của Viện Y học lao động và Vệ sinh môi trường. Điển hình như tỉnh Tiền Giang, chỉ tính riêng xã Hưng Thạnh đã có hơn 50% dân cư vẫn phải dùng nước chưa được an toàn (nước giếng nhiễm phèn, nước sông ngòi ô nhiễm, nước mưa…) cho sinh hoạt hàng ngày.

Theo thống kê của Bộ Y tế và Bộ Tài nguyên – Môi trường, trung bình mỗi năm Việt Nam có khoảng 9.000 người tử vong vì nguồn nước và điều kiện vệ sinh kém. Cũng theo đánh giá tổng hợp của Bộ, hằng năm có gần 200.000 người mắc bệnh ung thư mới phát hiện mà một trong những nguyên nhân chính bắt nguồn từ ô nhiễm môi trường nước.

Trên thực tế, một số địa phương như xã Hưng Thạnh, xã Thạnh Tân (Tiền Giang), xã Duy Hòa (Quảng Nam), các ca nhiễm ung thư, viêm nhiễm ở phụ nữ do sử dụng nguồn nước ô nhiễm chiếm đến gần 40% dân cư toàn xã, có nơi lên đến 50%.

Việt Nam hiện thuộc nhóm quốc gia “thiếu nước” do lượng nước mặt bình quân đầu người mỗi năm chỉ đạt 3.840m3, thấp hơn chỉ tiêu 4.000m3/người/năm của Hội Tài nguyên Nước Quốc tế (IWRA). Đây được xem là một nghịch lý đối với một quốc gia có mạng lưới sông ngòi dày đặc và vũ lượng thay đổi từng vùng từ 1500 – 2000 mm hàng năm.

Ô nhiễm Đại dương: Đại dương bị ô nhiễm do nhiều nguyên nhân khác nhau trong đó ô nhiễm từ các sinh hoạt trên đất liền chiếm hơn 80%. Do đó nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân sống dọc theo các bờ biển trên thế giới, chiếm 66% dân số toàn cầu. Thêm nữa, lượng hải sản bị đánh bắt bừa bãi vẫn tồn tại (chiếm khoảng 60%) nhất là ở những vùng đang xảy ra tranh chấp hải phận giữa các quốc gia.


Năm 1995, tại hội nghị Basel (Thụy Sỉ) gần 100 quốc gia đã đồng ý và chấp thuận bộ luật kiểm soát và xử lý phế thải độc hại cùng việc quản lý các bờ biển nhất là những vùng biển san hô được đặc biệt lưu ý đến vì đây là nguồn tài nguyên lương thực biển dồi dào nhất. Tuy nhiên cho đến nay, các khuyến cáo trên không được đa số các quốc gia thi hành. Các nước đang phát triển vẫn tiếp tục thải hồi phế thải kỹ nghệ vào thẳng sông ngòi và đại dương, sử dụng chất nổ và cyanide để săn bắt cá. Trong lúc đó, một số quốc gia đã phát triển trong đó có Hoa Kỳ cũng dùng cyanide để đánh bắt cá kiểng ở những vùng biển san hô! Tệ trạng nầy làm hủy hoại vùng biển san hô như ở vịnh Hạ Long (Việt Nam) theo kết quả nghiên cứu của Hải học viện Nha Trang gần đây. Một khi vùng san hô bị hủy diệt, cá tôm không có nơi trú ẩn và sinh sản cũng như không có đủ lượng phiêu sinh vật, nguồn lương thực chính của tôm cá, do đó sẽ một số loài sẽ bị tuyệt chủng hay di chuyển qua những vùng khác. Tình trạng khan hiếm nguồn protein động vật sẽ càng thêm trầm trọng hơn.

Thời tiết: Tình trạng thán khí và các hợp chất hữu cơ có chlor ngày càng tăng dần trong không khí có nguy cơ phá vỡ lớp ozone trên bầu khí quyển và làm nhiệt độ trung bình trong không khí tăng lên. Mặc dù đã đồng ý ký kết trên căn bản làm giảm thiểu luồng khí thải hồi vào bầu khí quyển từ năm 1992 tại Rio de Janeiro, cộng thêm khuyến cáo Kyoto năm 1997, hầu hết các quốc gia ký kết đều không tuân thủ lời kết ước. 

Theo nghiên cứu vào năm 2000, thì trước năm 1995 cây cỏ và đất hấp thụ khoảng 50% tổng số thán khí thải hồi trên thế giới, trong lúc đó biển hấp thụ khoảng 40%. Nhưng từ năm 1999 trở đi, nạn phá rừng và đất trồng trọt bị chai cằn vì bị khai thác quá độ, cho nên mức hấp thụ của thực vật giảm đi so với biển. Từ đó biển trở thành đối tượng chính cho các nghiên cứu ứng dụng vào việc thanh lọc khí carbonic trong không khí. 

Nhiều nhà nghiên cứu đã lưu tâm và dự phóng về hệ quả của hiện tượng hâm nóng toàn cầu cho thế kỷ 21. Từ năm 1990, Hoa kỳ đã có dự luật nghiên cứu về sự thay đổi thời tiết- Global Change Research Act trong đó ghi rõ mục tiêu nghiên cứu và hệ quả ảnh hưởng lên nguồn nước, rừng, đời sống sinh vật, sức khỏe của người dân, biển và đời sống biển. 

Trung tâm Dự phóng và Nghiên cứu Thời tiết Hadley (Anh Quốc) tiên đoán thế giới trong tương lai là sẽ có mưa nhiều ở một số nơi và hạn hán ở nhiều vùng khác. 

Thiên tai sẽ xảy ra thường xuyên hơn và khó được dự báo trước... do đó hậu quả sẽ tàn khốc hơn. Trong khi đó, Viện nghiên cứu Thái bình dương về Phát triển, Môi trường, và An toàn - Pacific Institute for Studies in Development, Environment, & Security tại California dự đoán rằng thế giới sẽ nóng hơn, mưa nhiều hơn, ít tuyết cho mùa đông, nạn hạn hán và ngập lụt xảy ra thường xuyên hơn cho nhiều vùng và không có chu kỳ nhất định. Các tảng băng ở Bắc cực và Nam cực tan dần và làm tăng lượng nước trên đại dương do đó làm thu hẹp lại diện tích đất sinh hoạt cho loài người. Dự phóng nầy đã trở thành hiện thực cho năm 2017 vừa qua.

Năng lượng: Mức nhiệt năng lượng do than đá, dầu hỏa, khí đốt... được sử dụng tương đối ổn định ở các quốc gia có kỹ nghệ tân tiến. Tuy nhiên, việc ứng dụng rộng rãi các nguồn năng lượng khác như thủy điện và nguyên tử năng trong vòng 50 năm trở lại đây đã gây ra nhiều hệ quả nghiêm trọng cho bầu khí quyển và môi trường sống của loài người. Hiện tại các quốc gia đã phát triển đang lần lần tháo gỡ các đập nước đã xây dựng cho việc sản xuất thủy điện để hy vọng tái lập lại hệ sinh thái đã bị hủy diệt. Đối lại, các quốc gia đang phát triển vì nhu cầu năng lượng đang cố gắng xây dựng các đập thủy điện qua tài trợ hay vay mượn của Ngân hàng thế giới, Ngân hàng phát triển Á châu. Việc làm thiếu cân nhắc, không điều nghiên kỹ lưỡng nầy sẽ tác hại mạnh mẽ đến các thế hệ tương lai.

Sự thôi thúc và hổ trợ trong việc xây dựng các đập thủy điện ở các nước đang phát triển nhất là các nước vùng lưu vực sông Cửu Long của các cơ quan quốc tế nói trên không phải là một hảo ý để giúp đỡ các quốc gia trong lưu vực có điều kiện để phát triển. Đó chính thực là do chủ tâm muốn giải quyết các tồn động kỹ thuật và nhân sự chuyên môn núp bóng dưới danh nghĩa nhân đạo.

Lượng năng lượng cần thiết ước tính cho năm 2050 sẽ tăng gấp đôi so với hiện tại. Tuy nhiên sự phân bố năng lượng không đồng bộ. Trên hai tỷ dân trên thế giới hầu hết ở các nước kém mở mang vẫn không được hưởng những tiện nghi do điện mang đến. Và cũng cần nói thêm rằng, một số quốc gia đã cố gắng nghiên cứu sản xuất ra nguồn năng lượng "sạch" để giảm thiểu ô nhiễm. Đó là điện năng do ánh sáng mặt trời và gió. Hai công nghệ nầy tạo ra năng lượng và không làm ô nhiễm môi trường. Đáng kể nhất là năng lượng đến từ gió. Đây là nguồn năng lượng có độ tăng trưởng nhanh nhất trong năm 1999 (tăng 39%) và năng lượng mặt trời (tăng 30%). Cần phải kể thêm năng lượng không tạo ra ô nhiễm khác là các bóng đèn dạ quang có fluor (compact fluorescent lamp_CFL). Trong tương lai ba nguồn năng lượng nầy sẽ là những tác động chính trong việc làm giảm thiểu/ngăn chận hiện tượng hâm nóng toàn cầu.

Phế thải kỹ nghệ: Các chất phế thải kỹ nghệ như: hóa chất hữu cơ, hợp chất chứa kim loại nặng, phế thải nguyên tử, y khoa v.v... vẫn là một nguy cơ lớn cho nhân loại ảnh hưởng sâu đậm đến sức khỏe con người và làm đảo lộ hệ thống môi sinh toàn cầu. 

Theo thống kê năm 2015, khắp nước có 83 doanh nghiệp đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp phép và khoảng 130 đơn vị do các địa phương cấp phép đang hoạt động. Riêng công suất giải quyết chất thải nguy hại của các cơ sở được Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp phép là khoảng 1.300 nghìn tấn/năm trên tổng số chất thải rắn toàn quốc ước tính là 800… tấn/năm. Tổng số lượng chất thải nguy hại mà các đơn vị này thu gom, xử lý được trong năm 2012 là 165.624 tấn; năm 2013 là 186.657 tấn; năm 2014 là 320.275 tấn. Căn cứ vào khối lượng chất thải phát sinh này, tỷ lệ thu gom, xử lý chất thải nguy hại hiện nay chiếm khoảng gần 40% tổng lượng chất thải nguy hại phát sinh trên toàn quốc.

Riêng tại Việt Nam, các phế thải kỹ nghệ và y tế chưa được quan tâm đúng mức. Lượng thải rắn từ các bệnh viện chứa khoảng 400.000 tấn/năm (2014) trong đó, cũng theo ước tính tại Sài Gòn, sở rác thành phố chỉ thu gom được 20% chất thải trên tổng lượng rác ở các bệnh viện. Phần còn lại thì do các bịnh viện xử lý hoặc chôn hay đốt.

Đa dạng Sinh học: Những vấn đề còn tồn đọng trên thế giới nêu ở phần trên đã đem lại ảnh hưởng trực tiếp lên mặt địa cầu đặc biệt là mức độ tuyệt chủng của một số sinh vật trên trái đất đang trên đà gia tăng nhanh chóng. Dân số tăng trưởng, kỹ nghệ phát triển, rừng bị hủy diệt.... làm cho vùng đất sinh sống của sinh vật toàn cầu bị thu hẹp lại. Theo ước tính sẽ có vào khoảng 50.000 chủng giống thực vật và động vật biến mất trong vòng vài thập niên tới đây. Cho đến nay, các dự luật về an toàn sinh học (bio-safety) vẫn chưa được sự đồng thuận giữa các quốc gia trên thế giới.

3. Thay lời kết

Tất cả những vấn nạn trên thế giới đã trình bày trên đây đang dần dần được tháo gỡ hay cải thiện. Tuy nhiên đa số vẫn còn trong tình trạng hiện tại hoặc tệ hại hơn nữa đang xuống cấp và làm cho thế giới mất quân bình trong nhiều lãnh vực. Khoảng cách giàu nghèo tăng thêm giữa các quốc gia cũng như giữa các từng lớp trong cùng một quốc gia. Mức phúc lợi phân phối bất cân đối trong xã hội.

Các vấn đề tuy được thảo luận kỹ lưỡng nhưng sau cùng hầu như trong mọi vấn nạn, phương cách giải quyết cũng như việc giải quyết vi phạm vẫn còn lơ lửng và không có tính cách quyết liệt. Tình trạng "cái lý của kẻ mạnh" (kinh tế-quân sự) vẫn xảy ra khắp nơi trên quả địa cầu. 

Trong mỗi thương thảo hay nghị hội, các quốc gia đã phát triển cao trên thế giới dường như không thật lòng và có mục đích che đậy một số ẩn ý hay hậu ý chính trị hơn là giải quyết vấn đề hay giúp đỡ các quốc gia kém mở mang đứng lên. 

Trong một khía cạnh khác, như vấn đề toàn cầu hóa kinh tế qua Diễn đàn Kinh tế thế giới lần thứ 48 tại Davos, Thụy Sĩ kết thúc ngày 26/01/2018. Hơn 3.000 người tham dự Diễn đàn, trong số đó có hơn 1.900 lãnh đạo doanh nghiệp, 70 nguyên thủ quốc gia và người đứng đầu chính phủ, cùng nhiều nhà hoạt động xã hội dân sự nổi tiếng. Mặc dù, tất cả các lãnh đạo quốc gia thi nhau lên diễn đàn kêu gọi tiến trình toàn cầu hóa cần phải có đạo lý hơn, cần ưu tiên chia sẻ các nguồn phúc lợi, vì đây là điều kiện duy nhứt để chống lại các khuynh hướng cực đoan từ các quốc gia độc tài và xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, dư luận trên thế giới vẫn lo ngại trước một viễn ảnh khủng hoảng kinh tế mới.

Các quốc gia nhóm họp dù nhắm vào yếu tố kinh tế hay môi trường vẫn còn giữ thái độ thụ động trước áp lực hay hướng dẫn của các thế lực quốc tế cả về chính trị lẫn kinh tế.

Sau cùng, việc giải quyết ô nhiễm môi trường hay bảo vệ môi sinh của những quốc gia trên đây đôi khi chỉ là những lá bài cho các tính toán chính trị đen tối nhằm mục đích mang lại lợi nhuận và quyền lợi kinh tế tối đa cho nước mình mà thôi.

  

Vấn đề chính yếu là lãnh đạo các quốc gia đang phát triển phải sáng suốt và biết sắp xếp thứ tự ưu tiên những gì cần phải xây dựng và phát triển phù hợp với điều kiện của từng quốc gia một. 

Việt Nam cần có một hướng giải quyết các vấn đề sống còn trên một cách rạch ròi. Đảng CSBV không còn thì giờ nữa để tranh dành quyền lực, quyền lợi, thanh toán và tiêu diệt lẫn nhau nữa. 

Đã đến giờ CSBV phải cáo chung rồi.

Tuổi trẻ Việt Nam phải đứng lên làm lịch sử!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét