Thứ Bảy, 31 tháng 12, 2016

Bài 2: Quan điểm về cộng sản ở Việt Nam



 Nguyễn Vũ Bình
 

Quan điểm về cộng sản thời hậu cộng sản (Bài 2: Quan điểm về cộng sản ở Việt Nam)


     Chế độ cộng sản ở Việt Nam mang đầy đủ các đặc tính của chế độ cộng sản nói chung, nhưng còn có thêm những điều khác biệt. Đó là cuộc nội chiến và hai cuộc chiến tranh với Cam-pu-chia và Trung Quốc. Phải đến tận những năm 1988-1989 thì Việt Nam mới im hẳn tiếng súng chiến tranh trên toàn lãnh thổ. Sự khốc liệt mà chế độ cộng sản đem lại được cộng hưởng với sự khốc liệt của các cuộc chiến tranh càng làm cho sự đau thương và tang tóc của nhân dân tăng lên gấp bội. 

Điều khác biệt của Việt Nam với các nước cộng sản Liên Xô và Đông Âu còn ở chỗ, từ khoảng những năm 1991-1993 đến nay, nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam đã lợi dụng quyền lực, sử dụng quyền lực để trục lợi từ các chính sách kinh tế. Đồng thời, để duy trì chế độ độc tài toàn trị, duy nhất đảng cộng sản lãnh đạo đất nước, nhà cầm quyền đã dồn nén mọi giai tầng xã hội, mọi tôn giáo một cách cực kỳ khốc liệt.

     Để xác định thái độ và phương cách ứng xử với di sản của chế độ cộng sản, chúng ta cần tham khảo kinh nghiệm của thế giới trong vấn đề này. Việc đầu tiên, là thái độ hay đánh giá khách quan về chủ nghĩa cộng sản và các chế độ cộng sản, chúng ta có thể tham khảo nước Mỹ và các nước châu Âu. Nước Mỹ đã xây dựng công trình Đài Tưởng niệm Nạn nhân của chủ nghĩa cộng sản với mục đích để lịch sử về sự tàn bạo của cộng sản sẽ được dạy cho thế hệ tương lai và để tưởng nhớ hơn 100 triệu nạn nhân của chủ nghĩa cộng sản. Tượng Đài đã được Tổng thống Mỹ George W. Bush khánh thành vào ngày 12/6/2007. Ở châu Âu, vào ngày 25/02/2010 nhiều chính trị gia và các nhà hoạt động nhân quyền, các sử gia đã ký và ra tuyên bố về tội ác của chủ nghĩa cộng sản tại Praha, Cộng hòa Séc. Đồng thời, Hội đồng Nghị viện của Ủy hội châu Âu (Ủy hội châu Âu là cơ quan dân cử của 46 quốc gia châu Âu) đã ra nghị quyết 1481 lên án chủ nghĩa cộng sản và coi chủ nghĩa cộng sản đã phạm tội ác chống lại loài người, vào ngày 25/01/2006. Như vậy, việc đầu tiên là đánh giá, xác định rõ thái độ đối với chế độ cộng sản. Ở Việt Nam chúng ta, cũng cần phải có thái độ và quan điểm tương tự. Điều khác biệt là, ở Việt Nam, do nhận thức của người dân còn rất nhiều hạn chế, chúng ta cần tập hợp tất cả tội ác của chế độ cộng sản Việt Nam và dùng lý lẽ, lập luận và các dẫn chứng để chứng minh tội ác của chế độ cộng sản. Nếu cần thiết, chúng ta sẽ để cho những ai chưa hiểu trao đổi và phản biện, tranh luận. Khi đã giải quyết được tất cả những ý kiến phản biện, chúng ta cần có động thái lên án chế độ cộng sản ở Việt Nam với toàn thể nhân dân. Chúng ta cũng sẽ đưa ra thảo luận, về việc yêu cầu đại diện tập thể lãnh đạo đảng cộng sản Việt Nam đứng ra thay mặt chế độ cộng sản xin lỗi nhân dân về những tội ác mà đảng cộng sản và chế độ đã gây ra.

     Về chính sách, chế độ của lực lượng cán bộ, công chức chế độ cũ, chúng ta cũng tham khảo ứng xử của các quốc gia châu Âu khi chế độ cộng sản sụp đổ. Bản thân người viết chưa có điều kiện tìm hiểu nhiều, nhưng thông qua báo chí và thông tin trên mạng Internet, hầu như không có sự trả thù, cũng như tiêu diệt hay đày đọa các đảng viên cộng sản (ngoại trừ những biến cố do hỗn loạn khi chế độ sụp đổ). Thậm chí, tiền lương hưu, phụ cấp của những người công chức thuộc chế độ cộng sản vẫn được bảo toàn. Tất nhiên, ở Việt Nam có những khác biệt cần phải làm rõ và có ứng xử khác. Như đã nêu, ở Việt Nam, từ những năm 1991-1993 tới nay, nhà cầm quyền Việt Nam đã lợi dụng và sử dụng quyền lực để trục lợi qua chính sách kinh tế, đồng thời để xảy ra tình trạng tham nhũng khủng khiếp. Hậu quả để lại là khoản nợ lên tới trên 200% GDP của nền kinh tế. Đây là điều khác biệt cần làm rõ và gắn vào việc giải quyết chính sách hậu cộng sản. Theo ý kiến của cá nhân người viết, cần gắn trách nhiệm của lãnh đạo đảng cộng sản, nhà nước và chính phủ Việt Nam các giai đoạn từ 1991 tới nay về vấn đề kinh tế. Cách thức và mức độ cần được bàn bạc công khai, minh bạch và được sự đồng thuận của toàn dân.

     Một quan điểm về hồi tố, chúng ta không thể bỏ qua vấn đề hồi tố bởi vì sự oan khuất và hận thù của người dân không được giải tỏa sẽ đưa tới những hậu quả khôn lường. Vấn đề là giới hạn của hồi tố tới đâu? Đó là những vi phạm của cá nhân, cơ quan chức năng đối với chính luật pháp mà nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam đặt ra. Có nghĩa là, sẽ hồi tố những vụ án, những sự việc mà các cán bộ và cơ quan của chế độ cộng sản vi phạm chính pháp luật mà cộng sản đưa ra. Chúng ta cần có Ủy ban hòa giải và hòa hợp dân tộc để xử lý hết những trường hợp này.

     Quan điểm chung là: chúng ta không trả thù, chúng ta không đày đọa người cộng sản sau khi chế độ cộng sản sụp đổ. Nhưng chúng ta phải làm rõ đúng, sai, công, tội để thống nhất nhận thức của nhân dân. Đồng thời, cần bắt họ chịu trách nhiệm về những việc họ đã làm. Nếu chỉ là mù quáng về lý tưởng, dẫn tới những hậu quả cho cá nhân và đất nước, như từ những năm 1990-1991 trở về trước, chúng ta có thể không truy cứu. Nhưng còn việc trục lợi, gây ra hậu quả nghiêm trọng (khoản nợ khổng lồ) thì cần truy cứu trách nhiệm. Mặt khác, khi đã đề ra pháp luật, mà cá nhân và cơ quan nhà nước lại vi phạm chính pháp luật đó, gây đau khổ cho người dân và trục lợi thì chúng ta cần bắt họ chịu trách nhiệm. Chỉ có làm công tâm như vậy, chúng ta mới giải quyết triệt để di sản của quá khứ.

     Một nguyên tắc cần tuyệt đối tôn trọng, đó là khi trao đổi, bàn bạc các chính sách hậu cộng sản, người dân phải được biết và tham gia đầy đủ. Chỉ khi nào có sự đồng thuận của người dân, chúng ta mới thực hiện các chính sách đó./.

Hà Nội, ngày 31/12/2016

N.V.B


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét