cogitASIA-Tác giả: Vũ Hồng Lâm (Alexander L. Vuving)
Dịch giả: Song Phan

Từ khi biển Đông nổi lên trở lại như một điểm nóng xung đột âm ỉ
vào khoảng năm 2008, cách nghĩ thông thường cho rằng, căng thẳng
trong khu vực này đang thúc đẩy một cuộc chạy đua vũ trang giữa các quốc
gia nằm ven biển này. Các chuyên gia, các nhà báo, và các nhà bình
luận đã nói về một cuộc chạy đua vũ trang trong khu vực như là một thực
tế, một xu hướng, hoặc một đe dọa đáng báo động. Một tường thuật gần
đây trên đài Tiếng nói Hoa Kỳ nhận xét, “Khi Trung Quốc mở rộng
ảnh hưởng ở biển Đông đang tranh chấp, một cuộc chạy đua vũ trang đã
phát triển giữa các nước có yêu sách trong khu vực”. Một bài bình luận trên trang The National Interest, nêu: “Khi
căng thẳng ở biển Đông tiếp tục leo thang, cuộc chạy đua vũ trang này
đặt ra một mối đe dọa đáng kể cho an ninh trong khu vực”. Một cái tựa lớn trên blog Lawfare viết, “Hải chiến: cuộc chạy đua vũ trang ở biển Đông leo thang”; một bài khác trên CNBC ghi là, “Chi tiêu quốc phòng châu Á: cuộc chạy đua vũ trang mới ở biển Đông”.
Khi quan sát kỹ hơn các sự kiện và xu thế thì sẽ thấy khác đi.
Nếu một cuộc chạy đua vũ trang là một nỗ lực để được ngang bằng hoặc
vượt trội đối thủ của mình, thì Malaysia, Philippines và Việt Nam sẽ
không theo kịp Trung Quốc, và cũng không theo kịp lẫn nhau. Ba nước
chính ở Đông Nam Á đòi chủ quyền trên biển Đông này ít có ý định tìm
kiếm sự ngang bằng hoặc ưu thế về quân sự. Thay vào đó, tham vọng lâu
dài của họ là điều có thể được gọi là “ngăn chặn tối thiểu”. Họ muốn
xây dựng đủ năng lực để làm cho những kẻ xâm lược tiềm năng phải suy
nghĩ hai lần trước khi tấn công họ. Và mục đích của việc ngăn chặn tối
thiểu này rõ ràng là một mục tiêu dài hạn, vì cả ba nước đều phải vượt
một chặng đường dài trước khi đạt được điều đó.
Hầu hết việc mở rộng thêm lực lượng gần đây, quân sự cũng như bán
quân sự, của Malaysia, Philippines và Việt Nam trong hai thập kỷ qua
là để thu hẹp khoảng cách đang có trong khả năng phòng thủ của họ. Các
thiếu sót này tồn tại trong nhiều năm qua—thậm chí hàng thập kỷ qua
trong một số trường hợp—nhưng đã lấy hành động quyết đoán của Trung
Quốc trực tiếp chống lại họ để xúc tác cho nỗ lực nghiêm túc trong việc
lấp đi khoảng cách. Sự hung hăng của Trung Quốc đã dấy lên sự cạnh
tranh từ Việt Nam, và ở một mức độ thấp hơn từ Philippines, nhưng điều
này nên được mô tả chính xác hơn như là một “sự cạnh tranh tốt
thiểu,” không phải là một cuộc chạy đua vũ trang.
Một cách để xem có một cuộc chạy đua vũ trang đang được diễn ra hay
không là xem xét chi tiêu quân sự như một phần của tổng sản phẩm quốc
nội (GDP). Ước tính của SIPRI gợi ra rằng trong 15 năm qua, không có
đối thủ chính nào trong tranh chấp biển Đông đã tăng đáng kể tỉ lệ chi
tiêu quân sự theo GDP. Ngoài ra, không một quốc gia nào trong số này
chi tiêu hơn 2,5% GDP cho quân đội (ngoại trừ Malaysia với 2,6% năm
2003).
Với một nền kinh tế lớn và phát triển nhanh, Trung Quốc đã có thể
duy trì một mức chi tiêu ổn định cho vũ khí trong suốt thời kỳ này.
Theo ước tính của SIPRI, chi tiêu quân sự của Trung Quốc là 1,9% trong
gần suốt thập kỷ 2007-2016, thời kỳ Trung Quốc gia tăng sự quyết
đoán và có một làn sóng căng thẳng mới ở biển Đông. Trung Quốc đã chi
hơn một chút, khoảng 2 và 2,1% GDP, trong 4 năm 2003-2006, khi căng
thẳng tương đối thấp ở khu vực này.
Trái với sự tin tưởng chung, cả Malaysia lẫn Philippines đều giảm
mức chi tiêu quân sự theo phần trăm GDP trong suốt 15 năm qua. Sự suy
giảm mạnh nhất đã xảy ra ở Malaysia, tỉ lệ này giảm từ 2,6% năm 2003
xuống còn 1,4% năm 2016. Ở Philippines, chi tiêu quân sự cũng giảm từ
1,6% năm 2003 xuống còn 1,3% năm 2016. Biệt lệ trong những nước này là
Việt Nam, tỉ lệ đã tăng nhẹ từ 2,1% năm 2003 lên 2,4% vào năm 2016.
Nhưng thập kỷ 2007-2016 không chứng kiến sự gia tăng đáng kể về tỉ lệ
GDP của ngân sách quân sự Việt Nam.
Một cách uyển chuyển hơn để phát hiện các cuộc chạy đua vũ trang là
so sánh sự tăng trưởng thực sự trong chi tiêu quân sự của các nước này.
Khi căng thẳng ở biển Đông bắt đầu một làn sóng mới khá lâu trong năm
2007-2009, chúng ta hãy lấy năm 2007 làm điểm xuất phát (xem hình 1).
Theo chi tiêu cố định bằng US$ năm 2015, khoản chi tiêu quân sự của
Trung Quốc tăng 2,2 lần trong giai đoạn 2007-2016. Trong cùng kỳ, Việt
Nam tăng 1,8 lần và Philippines 1,4 lần, trong khi đó Malaysia hầu như
không thay đổi. Những con số này khó có thể gợi ra là có một cuộc
chạy đua vũ trang.
Hình 1. Tăng trưởng chi tiêu quân sự trong điều kiện thực tế kể từ năm 2007

Hơn nữa, một cuộc chạy đua vũ trang thường liên hệ đến việc phát
triển vũ khí chiến lược. Mặc dù ngày càng hiểu rõ mối đe doạ từ Trung
Quốc, không một nước nào trong số các nước Đông Nam Á đòi chủ quyền,
đang phát triển vũ khí chiến lược. Không có bằng chứng Malaysia,
Philippines, hoặc Việt Nam mua sắm vũ khí hạt nhân hoặc tên lửa đạn
đạo. Chẳng hạn, Việt Nam đang đầu tư vào phòng thủ ven biển, phòng
không và các hệ thống tên lửa chống tàu, nhưng không vào loại tên lửa
có thể đặt các thành phố lớn của Trung Quốc vào cảnh bị làm con
tin. Loại tên lửa đáng gờm nhất mà Việt Nam , nước khu vực gần Trung
Quốc, có hiện nay là tên lửa hành trình P-800 Yakhont có tầm bắn tối
đa 186 dặm (khoảng cách từ biên giới Trung-Việt đến Quảng Châu, thành
phố lớn gần nhất của Trung Quốc, là khoảng 350 dặm – đúng ra là khoảng 710 dặm, có thể tác giả tính nhầm – ND).
Việt Nam và Malaysia đang nhắm tới tên lửa hành trình chống tàu
BrahMos của Ấn-Nga, có tầm bắn tối đa 280 dặm và có thể đặt trên các
tàu ngầm của họ. Việt Nam, Malaysia, và Philippines không có khả năng
chiến tranh không gian và chiến tranh mạng đáng kể, và có rất ít bằng
chứng về những nỗ lực của họ trong phát triển vũ khí chiến lược trong
các lĩnh vực này.
Hình 2. tăng trưởng chi tiêu quân sự trên thực tế kể từ năm 2007

Tiến trình của một cuộc chạy đua vũ trang bao hàm rằng, việc mở
rộng thêm lực lượng quân sự tạo ra bất ổn. Điều ngược lại là đúng đối
với việc hiện đại hóa lực lượng của Việt Nam, Philippines và Malaysia.
Chỉ khi các nước này có sự phát triển đáng kể về khả năng quốc phòng
thì mới có thể cải thiện sự mất cân bằng về sức mạnh đang nghiêng
về phía Trung Quốc, vốn đang đe dọa sự ổn định của khu vực. Nếu an
ninh khu vực dựa trên việc ngăn chặn sự thống trị của một quốc gia nào
đó ở biển Đông thì Việt Nam, Philippines và Malaysia bắt buộc phải
tăng mạnh khả năng phòng thủ của mình.
***
Tiến sĩ Alexander L. Vuving là Giáo sư về Nghiên cứu An ninh, tại Trung tâm châu Á-Thái Bình Dương Daniel K. Inouye.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét