Nguồn: Heather Stur, “Combat
Nurses and Donut Dollies”, The New York Times, 31/01/2017.

Joyce Denke chỉ mới 19 tuổi khi vị
hôn phu của cô, hạ sĩ David Ives, nhận lệnh đến Việt Nam. Khi đó là đầu năm
1967 và anh chỉ còn sáu tháng tại ngũ. Cặp đôi trẻ sống tại thành phố Temple,
phía nam thành phố Waco, bang Texas, họ quyết định không để cuộc chiến làm ảnh
hưởng đến niềm phấn khởi về một tương lai ở bên nhau và đã bắt đầu lên kế hoạch
kết hôn khi anh trở về vào tháng 11.
Chỉ bảy tuần sau khi đến Việt
Nam, Ives đã tử trận vào ngày 23/04/1967 ở tuổi 20. Denke vẫn còn giữ bức thư
cuối anh viết cho cô vào ngày 19/04/1967. Anh kết thư bằng dòng chữ “mối tình
sâu đậm nhất của anh, Dave.”
Cái chết của Ives đã thôi thúc
Denke gia nhập Hội Chữ thập Đỏ Mỹ và đến Việt Nam. Cô muốn làm một điều gì đó để
vinh danh cống hiến của anh, và vào năm 1970, cô được cử đi trong biên chế Hội
Chữ thập Đỏ với tư cách thành viên của chương trình Các Hoạt động Giải trí Hải
ngoại (Supplemental Recreational Activities Overseas – S.R.A.O.). Đó là một
trong nhiều cách mà phụ nữ Mỹ tham gia vào cuộc chiến.
Câu chuyện về Chiến tranh Việt
Nam là câu chuyện về các trận đánh: lính tiền phong, các cuộc phục kích, bẫy
mìn, chứng kiến đồng đội tử trận, thoát chết trong gang tấc. Chúng ta thường
quan niệm rằng “chiến trận” là việc của những người đàn ông – chúng ta nghĩ đến
hình ảnh họ sử dụng vũ khí, lái máy bay và chấp nhận thương vong. Nhưng chúng
ta lại quên mất rằng những người phụ nữ cũng đóng vai trò trung tâm trong câu
chuyện đó.
Các nữ y tá thuộc biên chế của
Quân đoàn Nữ (Women’s Army Corps) và các nữ nhân viên dân sự làm việc cho Hội
Chữ thập Đỏ thường chứng kiến những hệ quả của chiến tranh. Với các y tá và ở mức
độ nào đó là với những người thuộc chương trình S.R.A.O. như cô Denke, ứng phó
với chiến sự là công việc của họ. Y tá chữa vết thương thể xác, còn những người
thuộc Hội Chữ thập Đỏ giúp xốc dậy tinh thần của binh sĩ, tức là chữa lành những
vết thương tinh thần.
Phụ nữ không bắt buộc phải tham
gia quân dịch trong thời Chiến tranh Việt Nam, nhưng đã có hàng ngàn người tình
nguyện. Với một số người, cuộc chiến này tạo cơ hội để họ được đi xa và tạm
hoãn các nghĩa vụ kết hôn và sinh con, vốn là vai trò mà xã hội vẫn gắn cho các
cô gái trẻ trong những năm 1960. Một số nữ quân nhân tình nguyện đến Việt Nam
vì họ muốn tham gia vào cuộc chiến hoặc để chính mình trải nghiệm những gì thật
sự diễn ra trên chiến trường. Những người còn lại ghi danh vào quân đội để vào
đại học và hưởng các phúc lợi việc làm sau khi các tuyển trạch viên hứa rằng họ
sẽ không được đưa đến Việt Nam.
Hội Chữ thập Đỏ đã đưa nhiều nhóm
phụ nữ ra nước ngoài để hỗ trợ các binh sĩ từ Thế Chiến II. Họ phục vụ cà phê
và bánh donut nên họ được gọi bằng biệt danh “Búp bê Donut” (Donut Dollies).
Vào năm 1965, lo sợ việc cuộc chiến kéo dài sẽ ảnh hưởng đến tinh thần binh sĩ,
các quan chức của Bộ Quốc phòng đã yêu cầu Hội Chữ thập Đỏ thành lập chương
trình S.R.A.O. tại Việt Nam. Từ năm 1965 đến năm 1972, gần 630 phụ nữ đã đến Việt
Nam làm việc theo chương trình này. Một số người làm việc cho các trung tâm giải
trí tại các căn cứ lớn nơi những người lính có thể chơi bida, nghe nhạc, đọc
sách, chơi trò chơi, viết thư hay ngồi nói chuyện. Những người còn lại thì di
chuyển, thường bằng trực thăng, tới các căn cứ hỗ trợ hỏa lực (pháo binh) ở những
vùng hẻo lánh, nơi binh sĩ chờ chuẩn bị tham gia những trận đánh tiếp theo. Những
cô gái S.R.A.O. đi theo cặp và mang theo các bộ trò chơi, đồ ăn nhẹ, sô đa và
nước ép.
Trong khoá đào tạo trước khi khởi
hành, những hướng dẫn viên đã nói với các cô rằng họ phải mang đến “cảm giác
gia đình” cho các binh sĩ, để gợi họ nhớ về vợ, người yêu, mẹ hay chị em gái. Họ
phải đóng vai trò như những cô bạn hàng xóm – dễ thương, thân thiện và biết
quan tâm. Không phải ham muốn thể xác. Những chiếc đầm xanh nhạt vốn được thiết
kế để thể hiện vẻ ngây thơ đầy sức sống nhưng lại không thực tế trong cái nóng,
bụi và bùn ở Việt Nam. Hầu hết những cô gái chỉ vừa đôi mươi, chỉ lớn hơn đôi
chút so với độ tuổi trung bình nhập ngũ của các binh sĩ.
Luôn tươi cười là một yêu cầu bắt
buộc trong công việc của những cô Búp bê Donut, vì thế họ phải gạt những lo sợ
và buồn phiền của chính mình về cuộc chiến sang một bên. Nhiều người trở nên
thân thiết hơn với các binh sĩ. Emily Strange là một Búp bê Donut đóng tại vùng
Đồng bằng sông Cửu Long cùng với Sư đoàn Bộ binh số 9 và Lực lượng Lưu động
trên Sông, cô đã kết bạn với một anh lính tên Michael Stacy. Cô thân với Stacy
vì họ đều chơi guitar và thường cùng nhau gảy những điệu dân ca. Nhưng sau khi
anh tử nạn trong một vụ rơi trực thăng vào tháng 03/1969, cô nhận ra rằng mình
phải giữ khoảng cách với các anh lính. Vì thế cô không còn cố gắng nhớ tên hay kết bạn cùng họ nữa.
Thật lâu sau cuộc chiến, cô tin rằng
chắc chắn có những người cô quen biết có tên xuất hiện trên Bức tường Việt Nam.
(Bức tường tưởng niệm lính Mỹ trong Chiến tranh Việt Nam đặt tại thủ đô
Washington D.C. – ND). Thế nhưng cô không thể đối mặt với nỗi đau khi biết
chính xác họ là ai. Công việc của Strange là động viên tinh thần những người
lính cô đơn, đầy lo sợ và cô phải thể hiện sự lạc quan và hoàn thành công việc
mặc cho chính cô cũng cảm thấy sợ hãi và lạc lõng. Cô gọi việc làm đó là mang
gương mặt “Eleanor Rigby” được cô đặt trong chiếc lọ cạnh cửa. (Trích từ lời
bài hát Eleanor Rigby của nhóm The Beatles: “Waits at the window, wearing the
face – That she keeps in a jar by the door” – ND)
Trong số những nữ quân nhân phục
vụ trong cuộc chiến, hầu hết trong số họ với con số khoảng 5.000 người đã phục
vụ trong Quân đoàn Nữ Quân y. Họ đã có mặt tại Việt Nam từ những ngày đầu tiên:
Như sử gia Kara Dixon Vuic đã chỉ ra, Quân đội bắt đầu điều động y tá vào Sài
Gòn vào năm 1956 để đào tạo các y tá người Việt. Khi cuộc chiến càng leo thang,
họ phải làm gấp đôi công việc khi phải vừa chữa trị những vết thương thể xác
cho các binh sĩ và đôi khi là thường dân Việt Nam, vừa phải xoa dịu tinh thần
cho những người bị thương và sắp chết. Vài y tá ôm lấy những người lính khi họ
kêu gào gọi tên cha mẹ và trút hơi thở cuối cùng. Họ làm công việc thông báo
cho người lính biết là anh ta sẽ không đi lại hay nhìn được nữa. Theo nghĩa đen
lẫn nghĩa bóng, các y tá đưa những người lính bị thương qua ngưỡng cửa từ chiến
tranh sang một cuộc sống đã thay đổi
hoàn toàn, hoặc cái chết.
Vài y tá sử dụng nước hoa vì nó
khiến bệnh nhân gợi nhớ về quê nhà. Trong một bệnh viện quân sự tại vùng chiến
tranh, một chút bình thường thôi vừa là một điều hoàn toàn phi lý, vừa cũng là
một nhu cầu cực kì cần thiết. Lynda Van Devanter, một nữ quân y với cuốn hồi kí
“Home Before Morning” (Về nhà trước lúc trời sáng) là nguồn cảm hứng cho bộ
phim truyền hình “China Beach”, từng đeo
ruy băng trên tóc để khiến cô thêm nữ tính nhằm đáp ứng mong muốn và nhu cầu của
các bệnh nhân. Cùng lúc đó, cô phải kìm nén cảm xúc và phải cứng rắn hơn để đối
mặt với gánh nặng phải dịu dàng và xinh xắn trước mắt những người lính đang suy
nhược và hấp hối.
Linda Pugsley là một y tá 22 tuổi
làm việc tại Bệnh viện Thành phố Boston khi cô gia nhập Không quân vào năm
1967. Cô đã trải qua huấn luyện cơ bản, tham gia trường bay và được phong quân
hàm thiếu uý. Lúc đó, cô không mang cảm xúc chính trị nào về Chiến tranh Việt
Nam, nhưng cô muốn góp sức mình vào việc chăm sóc các thương binh Mỹ ở đó. Cô
nhận thấy mình có thể hoàn thành mục tiêu với một lý do rất hay: Các ca trực cuối
tuần ở Bệnh viện Thành phố Boston cũng thường đầy những ca bị thương do súng đạn
hay đâm chém, tông xe hay các loại thương tích đẫm máu khác.
Tuy nhiên, những điều đó chẳng hề
giúp cô sẵn sàng cho Việt Nam. Đủ loại thương tích, tiếng la hét khản đặc liên
tục của những người lính bị thương, mất tay chân và đang hấp hối, tiếng ù ù của
trực thăng chở càng nhiều người bị thương đến, có nhiều lúc trở nên quá tải.
Cũng như Strange, Pugsley cuối cùng không buồn nhớ tên bệnh nhân của mình như là
một cách để ứng phó với hoàn cảnh.
Xếp sau các nữ quân y trong số những
người phục vụ tại ngũ là những người được điều động đến Việt Nam thông qua Quân
đoàn Nữ (WAC). Cũng như y tá, WAC đầu tiên đến Việt Nam là để đào tạo nhân sự
cho Quân đoàn Nữ miền Nam Việt Nam. Có khoảng 700 người thuộc WAC phục vụ trong
cuộc chiến, hầu hết là công việc bàn giấy, nhưng cũng không thể tránh khỏi tham
gia chiến đấu.
Linda McClenahan lớn lên tại
Berkeley, bang California và gia nhập WAC sau khi chiếc xe buýt thuộc trường
trung học của cô phải chuyển lộ trình vào một ngày nọ vì một cuộc biểu tình phản
chiến. Cô từng làm việc ở trung tâm truyền thông của Quân đội từ năm 1969 đến
năm 1970, và một trong những công việc của cô là thực hiện các báo cáo về
thương vong. Cô thường là một trong những người đầu tiên đọc tên những người đã
tử trận. Trung tá Janie Miller, thuộc biên chế WAC từng phục vụ tại Hàn Quốc và
Việt Nam, quản lý một nhà tang lễ Quân đội tại Sài Gòn. Cô xoay vòng nhân viên
mỗi ba tháng một lần để xử lý vấn đề tổn thương tâm lý do công việc. Khi Pinkie
Houser, một thành viên của WAC đã từng tự nguyện đến Việt Nam vào năm 1968, chứng
kiến chỉ huy của mình tử trận trên chiến trường, cô lưu giữ các ghi chép và gửi
những vật dụng cá nhân của ông về gia đình. Đó là một trong những công việc khó
khăn nhất mà cô từng phải làm trong cuộc chiến.
Chiến trận, hay những trải nghiệm
chiến tranh đau đớn cùng cực, vẫn luôn giữ vị trí trung tâm trong hồi ức của
người Mỹ về Chiến tranh Việt Nam. Số lượng những người phụ nữ phục vụ tại Việt
Nam có thể rất nhỏ so với những người đàn ông nhưng chính vì như thế, kinh nghiệm
chiến tranh của họ và các hệ quả lại mang tính tập trung. Họ ở đó để giảm bớt
gánh nặng của những người lính, nhưng họ lại phải đóng vai trò thật lớn với thật
nhiều người mà không thể giảm bớt được gánh nặng cho chính mình.
Heather Stur là phó giáo sư lịch
sử tại trường Đại học Southern Mississippi và là tác giả của cuốn sách được xuất
bản gần đây nhất “Beyond Combat: Women and Gender in the Vietnam War Era.”
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét