
BỐI CẢNH CỦA VẤN ĐỀ (tiếp theo)
Một quan niệm cần chỉnh đốn.
Nguyên do của một tình trạng như vậy rất dễ hiểu. Đã là một lý
thuyết thì không phải là thực tế. Nếu lý thuyết lại lấy một thuyết học triết lý
làm căn bản thì lại càng không thực tế nữa. Như chúng ta đều biết: Hai người chủ trương hai
học thuyết triết học khác nhau có thể cãi vã nhau đến tận thế mà không bao giờ
đi đến một sự thỏa thuận.
Vì thiếu căn bản thiết thực đó
cho nên các lý thuyết đưa ra
dù có một giá trị tư tưởng khá cao đi nữa, cũng không có
năng lực phát quang để thuyết phục ai cả. Tự đặt cho mình một lý thuyết thiếu
căn bản thực tế lại còn mang đến một hậu quả tai hại khác.
Những người tin tưởng vào lý thuyết đó tự bắt buộc phải tôn trọng những nguyên tắc
thiếu thực tế mà lý thuyết đề ra. Đến khi hành động và đụng chạm với thực trạng
của vấn đề thì phải lâm vào một tình thế không lối thoát. Bởi vì thực trạng của
vấn đề đâu có chiều ý của tác giả lý thuyết mà uốn nắn mình vào khuôn khổ các
nguyên tắc đã đề ra. Trong trường
hợp đó thì, hoặc phản bội lý thuyết mà theo thực tể, hoặc tôn trọng lý thuyết
mà phủ nhận thực tế.
Trong trường hợp thứ nhứt thiểu số lãnh đạo sẽ mất
uy tín, dần dần mất tin tưởng
của đa số và sẽ đi đến thất bại. Trong trường hợp thứ hai thất bại sẽ đến ngay. Vì thực tế không thể phủ nhận
được.
SỨC MẠNH CỦA SÓNG VÀ GIÓ
Khi nhìn thấy mãnh lực qui tụ của
lý thuyết tranh đấu Cộng Sản và bị mãnh lực đó ám ảnh, các nhà lãnh đạo của
khối Quốc Gia mới suy thấu có một nửa đường. Họ chưa nhìn
thấy rằng lý thuyết Cộng Sản chỉ là một phương tiện tranh đấu và sở dĩ phương tiện tranh đấu đó có một mãnh lực như chúng ta đều biết, là nhờ có hậu thuẫn
của một công trình nghiên cứu sự kiện thực tế lịch sử của nhiều thế hệ tư tưởng gia. Trong trường
hợp nào khối Cộng Sản đã lấy lý thuyết đó làm một phương tiện tranh đấu, chúng ta sẽ thấy sau
này trong phần chính của quyển sách.
Lý luận trên đây giúp cho chúng
ta thấy ngay vì sao một lý thuyết tranh đấu do một nhóm người ngồi lại nạo óc ra viết không thể phù
hợp với thực tế được. Đã
không phù hợp với thực tế thì làm sao mang đến những kết quả mong mỏi được và sớm muộn gì cũng bị đào thải.
Người ta nhìn thấy mãnh lực
của lý thuyết tranh đấu, nhưng
không nhìn thấy công trình nghiên cứu thực tế lịch sử làm hậu thuẫn cho mãnh
lực đó, cũng như nhìn thấy
mãnh lực của lượn sóng mà không
nhìn thấy sức mạnh của gió tạo ra lượn
sóng.
CỘNG SẢN VÀ TÂY PHƯƠNG
Nếu có thể tạo được một lý thuyết để chống lý thuyết tranh
đấu Cộng Sản thì đã lâu rồi, trong cuộc chiến đấu ác liệt giữa xã hội Tây phương và Cộng Sản, Tây phương đã tạo ra thứ khí giới sắc bén
đó. Nhưng, biết rằng lý
thuyết Cộng sản là một phương
tiện tranh đấu chỉ tìm được
mãnh lực của nó trong sự nghiên cứu thực trạng xã hội, nên Tây phƣơng nhứt là
nhữg dân tộc có óc thực tế như
Anh, Mỹ đã tìm giải quyết các vấn đề do thực trạng xã hội tạo ra để thắng chủ
nghĩa Cộng Sản. Họ đã thành công.
Ngày nay, ở Âu Mỹ, sở dĩ chủ nghĩa Cộng Sản thoái trào, không phải vì giá trị tư tưởng tuyệt đối đã kém. Nhưng vì thực trạng xã hội ở Âu Mỹ hiện nay đã thay đổi khác xưa nhiều và cái lý thuyết mà Cộng
Sản dùng làm phương tiện
tranh đấu không còn phù hợp với thực trạng hiện nay của xã hội Âu Mỹ nữa. Đây
là nguyên nhân chánh của sự tu chỉnh lý thuyết Các-mác Lê-nin mà nhiều lãnh tụ
Cộng Sản đang chủ trương.
Sự kiện trên lại chứng minh rằng
sức mạnh của một lý thuyết tranh đấu không phải ở giá trị tư tưởng của lý thuyết mà ở sự thấu triệt thực trạng của đối tượng. Như thế thì, khi tạo ra những lý thuyết để
chống lại Cộng sản mà không tìm hiểu thực trạng của vấn đề, các nhà lãnh đạo
của khối Quốc Gia đã làm một việc của những người lãnh đạo không thấu triệt vấn đề. Và lý thuyết tranh đấu, mặc dù
là một khía cạnh đáng để ý của vấn đề, tuyệt nhiên chưa phải là vấn đề.
Vấn đề xã hội Tây phương đã thắng chủ nghĩa Cộng Sản
trong nội bộ xã hội của họ, bằng cách giải quyết các vấn đề xã hội cho lớp người sút kém về kinh tế. Nhân cái gương đó, nhiều lãnh tụ Quốc Gia
cũng cho rằng nếu giải quyết các vấn đề xã hội trong nội bộ của chúng ta thì
chúng ta sẽ thắng Cộng Sản.
Nhận xét trên đúng mà không đúng.
Đúng vì vấn đề xã hội cũng chiếm một phần quan trọng trong vấn đề của chúng ta,
nhưng tuyệt nhiên chưa phải là vấn đề. Một mặt khác, thực trạng của xã hội Tây phương lúc chủ nghĩa Cộng Sản hoành
hành không phải là thực trạng của xã hội của chúng ta ngày nay.
TÍN NGƯỠNG
Lại có nhiều chủ trương lấy tín ngưỡng mà chống lại Cộng Sản. Tín ngưỡng là một nhu cầu thiêng liêng
của tất cả mọi người. Vì thế
khả năng qui tụ của một tôn giáo đối với các tín đồ là một điều kiện không thể
phủ nhận được.
Tín ngưỡng là một tín hiệu tập hợp hữu hiệu. Các
chế độ Cộng Sản đàn áp tôn giáo chính vì khả năng qui tụ nói trên, lúc nào cũng
đe dọa sự độc quyền lãnh đạo cộng đồng mà theo họ nhứt thiết phải dành cho đảng
Cộng Sản. Nhưng tác dụng thật
sự và đương nhiên của sự qui
tụ của tín ngưỡng là một tác
dụng tôn giáo nghĩa là chú trọng về phần linh hồn, về phần sau của cuộc đời
hiện tại. Và nếu không có Cộng Sản thì sự qui tụ đó cũng vẫn có.
Nói một cách khác sự qui tụ đó tự
nó không có mục đích chống lại chủ trương Cộng Sản. Chỉ khi nào, ví dụ trong một chế độ Cộng Sản, có sự
đàn áp tôn giáo, bởi vì chế độ Cộng Sản không thể dung dưỡng một sự qui tụ nào khác hơn sự qui tụ
là đảng Cộng Sản, thì sự qui tụ tôn giáo mới trở thành một hành động chống Cộng
Sản.
Nhưng sự chống lại vẫn là một hành động tiêu cực, nghĩa là sự chống
lại có mục đích tự bảo vệ và nếu đàn áp chấm dứt thì sự chống lại cũng chấm dứt.
Sự qui tụ tôn giáo chỉ có hiệu lực chính trị khi nào cộng đồng tôn giáo đứng
vào thế đối lập và tiêu cực chống lại một chủ trương. Ở trong một trường
hợp mà sự kiện Cộng Sản đàn áp tôn giáo vẫn còn là một viễn ảnh chưa thành hình thì sự qui tụ tôn
giáo tự nó chưa có điều kiện
để chống Cộng Sản.
Nếu mà các tín đồ có nhìn được xa và nhứt quyết không muốn
sống cảnh đàn áp tôn giáo của Cộng Sản, và do đó nhứt quyết chống lại Cộng Sản,
thì hành động đó cũng vẫn còn là một hành động tiêu cực chưa có thể mang lại thắng lợi. Muốn cho khả
năng qui tụ tôn giáo trở thành một lợi khí chống Cộng Sản thì phải mang cái khả
năng qui tụ đó mà dùng vào một công cuộc có mục đích giải quyết vấn đề thiết thực
của cộng đồng. Nghĩa là các nhà lãnh đạo chủ trương lấy tín ngưỡng
mà chống lại Cộng Sản, phải thấu triệt vấn đề cần phải giải quyết của cộng đồng và xử dụng khả năng qui tụ của tín
ngƣỡng để giải quyết vấn đề đó.
Nói tóm lại, tín ngưỡng tự nó không phải là một lợi khí chống
lại chủ trương Cộng Sản. Tín
ngưỡng sẽ trở thành lợi khí
chống lại Cộng Sản trong hai trường
hợp:
1.- Khi bị Cộng Sản đàn áp.
2.- Khi khả năng qui tụ của tín
ngưỡng được xử dụng trong công cuộc giải quyết các
vấn đề do thực trạng xã hội tạo ra.
Lý thuyết Cộng Sản mạnh nhờ có
một hậu thuẫn phong phú: Sự nghiên cứu các sự kiện thiết thực lịch sử. Tín ngưỡng sẽ là một lợi khí mạnh chống
lại chủ trương Cộng Sản khi
cũng có một hậu thuẫn nghiên cứu sự kiện thiết thực lịch sử. Chủ trương lấy tín ngưỡng để thắng Cộng Sản lại có thể đưa đến một kết quả bất lợi, cũng tương tự như kết quả bất lợi mang đến bởi các lý
thuyết chống chủ trương Cộng
Sản.
Ranh giới các cộng đồng tôn giáo
không ăn khớp với các cộng đồng quốc gia. Một quốc gia gồm nhiều cộng đồng tôn
giáo và một tôn giáo có thể có tín đồ trong nhiều quốc gia. Thêm vào đó sự kiện
đương nhiên là mỗi tín ngưỡng đều có cái phần giáo lý riêng
biệt của mình thường không
dung nạp các giáo lý khác. Thành ra sự huy động thiếu tinh vi lực lượng tín đồ của nhiều tôn giáo có
thể mang đến xung đột và chia rẽ trong nội bộ của cộng đồng quốc gia.
TIÊU CỰC CHỐNG VÀ TÍCH CỰC CHỐNG
Như vậy thì các biến cố chính trị ở Việt Nam từ hai mươi năm nay là một ví dụ cụ thể để minh xác
rằng sự thấu triệt vấn đề cần phải giải quyết của cộng đồng rất là thiết yếu
cho thiểu số lãnh đạo. Về phần họ, các nhà lãnh đạo Cộng Sản có phải là một
thiểu số lãnh đạo thấu triệt vấn đề cần phải giải quyết của cộng đồng không?
Trong phần chính của quyển sách sau này, chúng ta sẽ thấy rằng cường điểm của họ ở chỗ cùng với sự thâu
nhận lý thuyết Cộng Sản làm lợi khí tranh đấu, họ đã thừa hưởng của Cộng Sản quốc tế một công trình
nghiên cứu sự kiện thực tế lịch sử rất phong phú. Tuy nhiên, nhược điểm của họ cũng ở chỗ họ đã trụ vào
một di sản ngoại lai, trong khi thực trạng vấn đề Việt Nam ngày nay không phải
là thực trạng vấn đề các quốc gia Cộng Sản mà họ lấy làm gương mẫu.
Tóm lại các điểm dưới đây có thể dùng làm kết luận cho đoạn
trên. Lý thuyết Cộng Sản là một phương
tiện tranh đấu của một chủ trương.
Sức mạnh của chủ trương này
do di sản của cộng sản quốc tế: Một công trình nghiên cứu thực trạng xã hội rất
phong phú. Trên chính trường
của Việt Nam từ hai mươi năm
nay, chủ trương cộng sản đưa ra làm một giải pháp cho vấn đề
cần phải giải quyết của cộng đồng quốc gia Việt Nam. Toàn bộ của vấn đề này do thực trạng lịch sử của
cộng đồng Việt Nam trong thời kỳ này tạo ra. Thời kỳ này cố nhiên gồm nhiều thế
kỷ vừa qua và sẽ gồm nhiều thế kỷ sắp đến. Giải pháp Cộng Sản có thích hợp cho
cộng đồng hay không, phần chính của quyển sách sẽ trả lời tỉ mỉ câu hỏi này.
Nay chỉ biết rằng sức mạnh của
chủ trương Cộng Sản ở chỗ chủ
trương này đã lấy làm hậu
thuẫn sự nghiên cứu đến nơi thực trạng của vấn đề. Như thế thì, nếu muốn cho chủ trương Cộng Sản thất bại, thì phải
làm hai việc:
1.- Tìm hiểu rõ thực trạng của
vấn đề cần phải giải quyết của cộng đồng.
2.- Có một giải pháp khác để thay
thế cho giải pháp Cộng Sản.
Nhưng thay vì hai việc thiết thực trên, thì, cho đến ngày nay, các nhà
lãnh đạo của khối Quốc Gia chỉ đặt vấn đề chống lại chủ trương Cộng Sản một cách tiêu cực. Tiêu cực ở
đây không có nghĩa là không nhiệt thành mà chống lại, nhưng có nghĩa là đặt sự chống làm mục đích.
Vì sau cái việc chống, không
có một giải pháp cho vấn đề cần phải giải quyết của cộng đồng dân tộc. Nếu vấn
đề chưa giải quyết, thì, dù
chủ trương Cộng Sản bị đánh
bại bằng những phương pháp
nào đó trong nhứt thời, cái
nguyên nhân để cho chủ trương
Cộng Sản tồn tại vẫn còn.
Hơn nữa, để thực hiện sự chống
lại chủ trương Cộng Sản,
chẳng những tư tưởng của khối Quốc Gia tiêu cực, mà
lợi khí xử dụng lại không sắc bén. Các chủ trương chính trị không có khả năng qui tụ, nhưng một khi qui tụ rồi thì lại không xử
dụng được sự qui tụ đó vì
thiếu chương trình để giải
quyết vấn đề của dân tộc. Nếu cần một ví dụ để làm sáng tỏ suy luận trên đây,
chúng ta có thể ví thiểu số lãnh đạo Cộng Sản với một số người, trước khi xây một ngôi nhà đã thừa hưởng kết quả của một cuộc đào cẩn thận cho đến tận đá, và trên cái
khối đá vững chắc đó, họ đã đặt nền móng cho một ngôi nhà theo quan niệm của
họ. Nhưng hướng, kích thước, và kiến trúc của ngôi nhà có thích hợp
với cộng đồng không? Chúng ta sẽ trả lời sau này. Nay chỉ biết rằng ngôi nhà họ
muốn xây dựng, được đặt trên
một nền móng vững vàng có thể chịu đựng được sự lay chuyển của biến cố.
Trong khi đó thiểu số lãnh đạo
khối Quốc Gia không nỗ lực đào đến đá, không quan niệm trước sẽ xây ngôi nhà ra sao, lại bất cứ trên
bùn trên cát cũng hấp tấp xây nhà, cái nhỏ, cái lớn. Nhưng nền móng
không vững, các biến cố xảy đến gây sụp đổ lần lượt cái này đến cái khác. Nếu khối Quốc Gia đánh lại được khối Cộng Sản, làm cho chọ không xây được ngôi nhà mà họ quan niệm, thì
sự nghiệp đã đào đến đá mà họ thừa hƣởng của Cộng Sản Quốc Tế vẫn còn đó, và
quan niệm của họ về ngôi nhà vẫn còn đó. Vấn đề của thiểu số lãnh đạo Quốc Gia
là phải đào cho đến đá, trên đó đặt nền móng cho một ngôi nhà được quan niệm rõ rệt cho thích hợp với cộng
đồng. Chỉ có cách đó khối Quốc Gia mới thay thế được và loại hẳn ra được ngôi nhà của chủ trương Cộng Sản.
Sở dĩ khối Quốc Gia lâm vào tình
trạng sa lầy như trên chỉ vì
thiểu số lãnh đạo không thấu triệt vấn đề. Như vậy thì các biến cố chính trị ở Việt Nam hai mươi năm nay là một ví dụ rất cụ thể và minh
xác cho sự kiện thiểu số lãnh đạo phải thấu triệt vấn đề cần phải giải quyết
của cộng đồng. Đa số chịu lãnh đạo và vấn đề Thiểu số lãnh đạo đã không thấu
triệt vấn đề cần phải giải quyết của cộng đồng, tất nhiên đa số chịu lãnh đạo không
làm sao hiểu được vấn đề.
Và như thế những sự kiện khả dĩ làm đổ vỡ sự
điều hòa giữa thiểu số lãnh đạo và đa số chịu lãnh đạo, như chúng ta đã biết, sẽ lại xảy ra còn trầm
trọng hơn là trong trường hợp
mà thiểu số lãnh đạo thấu triệt vấn đề nhưng đa số chịu lãnh đạo không hiểu biết vấn đề. Giữa hai phần, thiểu
số và đa số của cộng đồng chẳng những
không có một sự phối hợp điều hòa, lại còn có một sự đoạn tuyệt kinh khủng.
Đối với bất cứ một vấn đề gì, chủ
trương của thiểu số lãnh đạo
đều không được đa số hiểu
biết và tán thành. Do đó, thiểu số lãnh đạo chỉ còn có phư ơng pháp mạnh để bắt buộc đa số phải tuân
theo. Kẻ thù không bỏ lỡ cơ hội, cố tâm nỗ lực đào sâu cái hố giữa thiểu số và
đa số. Lúc nào sự bất mãn của đa số đối với thiểu số cũng ngấm ngầm, và bùng nổ
dữ dội trong những lúckhủng hoảng. Thỉnh thoảng uy tín cá nhân của một vài người có thể thực hiện được sự qui tụ cần thiết cho sự tiến
triển của quốc gia trong một thời gian. Nhưng vì những yếu tố căn bản của sự điều hòa giữa hai khối thiểu số
và đa số không có, nên không bao lâu, việc đâu lại hoàn đấy.
Ôn lại và phân tích các biến cố
chính trị đã xảy ra từ hơn hai mươi
năm nay trong khối Quốc Gia Việt Nam, tất cả đều có thể hiểu được khi ta biết rằng nguyên do chính ở chỗ
không có sự phối hợp giữa đa số chịu lãnh đạo và thiểu số lãnh đạo. Trong những
hậu quả mà sự đoạn tuyệt giữa thiểu số lãnh đạo và đa số chịu lãnh đạo mang đến
cho cộng đồng, hậu quả sau đây đã thể hiện một cách rõ rệt trong những biến cố
hiện đang tiến diễn. Chúng ta biết rằng, mâu thuẫn đương nhiên lúc nào cũng có giữa thiểu số
lãnh đạo và đa số chịu lãnh đạo trở nên vô cùng trầm trọng khi hai điều kiện dưới đây xảy ra một lúc.
1.- Có sự đoạn tuyệt giữa thiểu
số lãnh đạo và đa số chịu lãnh đạo.
2.- Nhu cầu của cộng đồng bắt buộc
thiểu số đòi hỏi một sự đóng góp nặng nề của đa số chịu lãnh đạo.
Đa số chịu lãnh đạo không hiểu
biết lý do của sự đóng góp của mình và nghĩ rằng bị thiểu số bóc lột. Sự phẫn
nộ do đó càng ngày càng tăng lên. Lúc
bấy giờ bất cứ một kẻ xâm lăng nào đứng lên phất cờ giải phóng, đa số chịu lãnh
đạo sẽ hướng vào một cách mù
quáng. Trường hợp trên đây đã
xảy ra một cách điển hình, ít có, gần đây trong khối Quốc Gia của Việt Nam. Vì
nhu cầu phát triển, thiểu số lãnh đạo đã đòi hỏi nhiều nỗ lực ở đa số chịu lãnh
đạo, nhứt là ở thôn quê vào những năm 1958-1959 trong những chương trình gọi là phát triển cộng đồng. Nhưng vì một khiếm khuyết của thiểu
số lãnh đạo, cho nên đa số chịu lãnh đạo không ý thức sự cần thiết của những nỗ
lực đòi hỏi. Do đó sự bất mãn nhen nhúm và lần lần lan tràn.
Nhà cầm quyền Cộng Sản ở Hà Nội
khai thác ngay cơ hội và năm 1960 đã đưa quân xâm lăng vào miền Nam với danh nghĩa quân “Giải phóng”. Cố
nhiên là những người tự cho
mình bị thiểu số lãnh đạo miền Nam bóc lột hưởng ứng và hiện nay chúng ta còn đang mục kích hiện tượng nói trên.
Ở miền Bắc Việt Nam tình trạng
mâu thuẫn giữa thiểu số lãnh đạo Cộng Sản và đa số chịu lãnh đạo cũng không kém
gay go. Thiểu số lãnh đạo Cộng Sản ý thức vấn đề phát triển của cộng đồng, như chúng ta sẽ thấy trong phần chánh
sau này. Nhưng phương pháp phát triển của họ đòi hỏi
một sự đóng góp tột bực của đa số chịu lãnh đạo. Vì vậy cho nên, mặc dù kỹ
thuật dân vận của họ có hiệu quả, sự bất mãn của đa số ngày càng cao và tuy chế
độ cảnh sát của họ rất khắc nghiệt,
thỉnh thoảng vẫn có những cuộc nổi dậy chứng tỏ sự phẫn nộ của đa số chịu lãnh
đạo. Nếu thời cơ đưa đến, bất
cứ một người nào phất cờ giải
phóng miền Bắc, sẽ được đa số
chịu lãnh đạo hưởng ứng nồng
nhiệt.
Như vậy các biến cố xảy ra ở Việt Nam từ hơn hai mươi năm nay là một ví dụ cụ thể, minh xác
tính cách thiết yếu của sự hiểu biết vấn đề cộng đồng cần phải giải quyết đối
với đa số chịu lãnh đạo.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét