
Nước Việt Nam là một nước
nhỏ, nhỏ về dân số, nhỏ về lãnh thổ, nhỏ về kinh tế kém phát triển, và nhỏ về sự
góp phần của chúng ta vào văn minh nhân loại. Trong suốt phần lịch sử nhân loại
mà chúng ta được biết tới
ngày nay, số phận của các quốc gia nhỏ, từ xưa vẫn không thay đổi. Lúc nào các quốc gia nhỏ cũng phải bị chi phối
bởi những trận phong ba bão táp vô trách nhiệm do các nước lớn gây ra. Và lúc nào cũng sống dưới sự đe dọa liên tục của một cuộc
ngoại xâm.
Từ ngày lập quốc, hơn một ngàn
năm lịch sử đã chứng minh rằng Việt Nam chúng ta không thoát ra ngoài vận mạng
thông thường đó. Hết phải chống
Bắc, rồi phải chống Tây, rồi lại phải chống Bắc. Liên tục, và lúc này hơn lúc
nào hết, nạn ngoại xâm vẫn đe dọa dân tộc Việt Nam.
Để duy trì ách thống trị của
mình, các cường quốc xâm lăng
thường áp dụng, đối với các
dân tộc bị trị, nhiều biện pháp, tuy có khác nhau về hình thức, nhưng chung qui vẫn thuộc hai loại
chính:
* Ngăn ngừa không để cho các quyền
lợi kinh tế thuộc vào tay ngƣời bản xứ.
* Kiềm hãm không để cho dân trí
phát triển.
Các loại biện pháp thứ nhứt nhằm
mục đích tiêu diệt tất cả các phương
tiện vật chất của người bị trị.
Các loại biện pháp thứ hai nhằm mục đích tiêu diệt những người có khả năng xử dụng các phương tiện vật chất trên, nghĩa là
các nhà lãnh đạo xứng danh. Đối với các dân tộc bị trị hai loại biện pháp trên
đều có những hậu quả vô cùng thảm khốc.
Tuy nhiên, nếu không có phương tiện của mình thì còn có thể
tìm phương tiện khác, chớ nếu
không có người lãnh đạo, thì
dù có phương tiện cũng không
xử dụng được. Vì vậy cho nên,
đối với một quốc gia mà nền độc lập bị đe dọa hay đã mất, thì phương pháp hữu hiệu nhứt và điều kiện thiết
yếu nhứt để chống lại ngoại xâm là nuôi dưỡng và phát triển sự lãnh đạo.
Trong thực tế, nuôi dưỡng và phát triển sự lãnh đạo có
nghĩa là tạo hoàn cảnh thuận lợi để cho cái tinh túy của tập thể hun đúc nên
thiểu số lãnh đạo xứng danh. Như thế nào là lãnh đạo xứng danh?
Thiểu số lãnh đạo và sự thấu
triệt vấn đề của cộng đồng
Trong toàn bộ của cộng đồng, gồm
có thiểu số lãnh đạo cộng đồng và đại đa số chịu sự lãnh đạo. Cộng đồng lành mạnh
khi nào giữa thiểu số lãnh đạo và đa số chịu sự lãnh đạo, sự thông cảm chạy đều,
dẫn dắt đến một sự phối hợp hữu hiệu trong mọi công cuộc của cộng đồng.
- Thiểu số lãnh đạo xứng danh phải bao gồm những
người có đạo đức. Nghĩa là có
“Nhân” theo cổ nhân.
- Thiểu số lãnh đạo xứng danh phải
gồm những người có đủ khả
năng vật chất, lý trí và tinh thần để ứng phó với các tình thế. Nghĩa là có
“Dũng” và có “Lược” theo cổ
nhân.
- Thiểu số lãnh đạo xứng danh phải
gồm những người thấu triệt vấn
đề cần phải giải quyết của tập thể. Nghĩa là có “Trí” theo cổ nhân. Đời sống của
một cộng đồng cũng như đời sống
của một cá nhân, có thể chia thành từng thời kỳ. Trong đời sống của một cá
nhân, một thời kỳ trung bình mười
năm. Đối với một cộng đồng, mỗi thời kỳ cố nhiên phải tương xứng với đời sống cộng đồng và có thể
là một vài thế kỷ. Trong mỗi thời kỳ của đời sống, mỗi cá nhân phải đương đầu với một ít vấn đề chánh và
đặc biệt của thời kỳ đó. Và mỗi cộng đồng cũng phải giải quyết một số vấn đề
chánh, thiết yếu cho cộng đồng, trong mỗi thời kỳ.
- Thiểu số lãnh đạo xứng danh phải
thấu triệt vấn đề đó để hướng
dẫn cộng đồng trên đường tiến
hóa, thích nghi chẳng những với khung cảnh của thế hệ hiện tại, mà lại còn với
đời sống vĩnh cửu của cộng đồng.
Các đức tính “Nhân” “Dũng” “Lược” phát sinh từ một căn bản thiên
phú, nếu được hoàn cảnh bên
ngoài xã hội và cố gắng bên trong cá nhân nuôi dưỡng và rèn luyện, sẽ phát triển đến đúng mức. Nhưng nếu không gặp được cơ hội rèn luyện và phát triển, các đức
tính trên, vì là thiên phú, vẫn tồn tại trong bản chất. Do đó, các đức tính
“Nhân” “Dũng” “Lược” là những
điều kiện chủ quan. “Trí” nghĩa là thấu triệt vấn đề cần phải giải quyết của cộng
đồng, là một điều kiện khách quan. Bởi vì sự thấu triệt vấn đề chỉ có thể được thực hiện bằng cách sưu tầm, khảo cứu, phân tích, lĩnh hội,
quan sát và tổng kết những tài liệu bên ngoài liên quan đến vấn đề. Không có
tài liệu bên ngoài thì một bộ óc dù thông minh xuất chúng, cũng không làm sao
hiểu được vấn đề. Các đức
tính trên đều cần thiết cho một sự lãnh đạo xứng danh.
Tuy nhiên, trong thực tế, sự khiếm
khuyết một trong các đức tính, không mang đến những hậu quả như nhau. Một sự lãnh đạo có đủ “Nhân” “Dũng”
“Lược” nhưng không thấu triệt vấn đề cần phải giải
quyết của cộng đồng không thể đưa
con thuyền cộng đồng đến chiến thắng. Một sự lãnh đạo, dù thiếu “Nhân” “Dũng”
“Lược”, nhưng lại thấu triệt vấn đề của cộng đồng, vẫn
có hy vọng mang thắng lợi về cho cộng đồng, dù rằng thắng lợi đó phải trả bằng
những gian lao và tang tóc.
Chúng ta có thể ví trường hợp thứ nhất với trường hợp của một người có xe và đánh xe rất tài, phát tốc độ,
kềm cương ngựa tới, kéo ngựa
lui, quanh phải, quanh trái vừa mau lẹ, vừa khoan thai không ai bì kịp. Nhưng lộ trình lại không biết. Như thế, dù xe có phóng nước lớn và vượt nghìn dặm cũng không đưa được khách đến nơi cần phải đến, vì chính người đánh xe cũng không biết đó là nơi nào.
Trường hợp thứ hai là trường
hợp của một người không xe và
cũng không biết đánh xe, nhưng
lại thấu triệt lộ trình. Như
vậy những người đồng hành với
người này, có ngày sẽ đến nơi
phải đến, tuy biết rằng cuộc hành trình sẽ đầy gian lao và đòi hỏi nhiều kiên
nhẫn.
Suy luận như trên đây không có nghĩa là muốn chứng
minh rằng “Nhân” “Dũng” “Lược”
không thiết yếu cho sự lãnh đạo. Nhưng
để chỉ rõ rằng mặc dù các đức tính “Nhân” “Dũng” “Lược” “Trí” đều cần thiết, tuy nhiên sự thấu
triệt vấn đề cần phải giải quyết của cộng đồng là quan trọng hơn cả.
Như thế thì, tới đây, chúng ta đã làm sáng tỏ được ba điểm:
1. Việt Nam của chúng ta là một nước nhỏ và yếu, lúc nào cũng bị nạn
ngoại xâm đe dọa.
2. Trong công cuộc chống ngoại
xâm, một khí giới hữu hiệu nhứt là phát triển lãnh đạo. 3. Trong công cuộc phát
triển lãnh đạo, điều kiện thiết yếu cần được thỏa mãn là: Thiểu số lãnh đạo phải thấu triệt vấn đề cần phải
giải quyết của cộng đồng.
Đa số chịu lãnh đạo và vấn đề
cần phải giải quyết của cộng đồng.
Sự thấu triệt vấn đề của cộng đồng
quan hệ như thế nào đối với
thiểu số lãnh đạo, trên đây chúng ta đã thấy. Một cộng đồng trong toàn bộ gồm
nhiều phần tử cá nhân hợp thành, chia làm hai khối, thiểu số lãnh đạo và đa số
chịu sự lãnh đạo. Thiểu số lãnh đạo có trách nhiệm với vận mạng của cộng đồng.
Cộng đồng có tồn tại mới bảo đảm được
phát triển của cá nhân. Cộng đồng tồn tại nhờ cố gắng và hy sinh của cá nhân,
tình nguyện hay cưỡng bách,
đóng góp.
Nhưng lý do của cuộc sống là sự thỏa mãn ước vọng chánh đáng của cá nhân. Nói một
cách khác, lý do của cuộc sống là lý do cá nhân. Mà điều kiện của cuộc sống là
điều kiện cộng đồng. Vì thế cho nên, ngay trong bản chất đã có sự mâu thuẫn giữa
quyền lợi của cộng đồng và quyền lợi của cá nhân trong cộng đồng. Một mâu thuẫn
như thế thuộc vào loại mâu
thuẫn lúc nào cũng có ở trong nội tâm của
mọi cuộc phối hợp sáng tạo giữa hai lực lượng tương phản.
Cứu cánh của sự lãnh đạo là thực
hiện một trạng thái điều hòa tuyệt đối giữa hai quyền lợi mâu thuẫn, cá nhân và
cộng đồng. Nếu sự điều hòa được
thực hiện dưới hình thức một
sự thăng bằng động tiến, nghĩa là hai lực lượng tương phản sẽ
dựa nhau và kích thích nhau để tiến, thì toàn thể cộng đồng sẽ tiến triển. Nếu
sự điều hòa được thực hiện dưới hình thức một sự thăng bằng
tĩnh chỉ, nghĩa là hai lực lượng
tương phản sẽ đóng khung và kềm
giữ nhau, toàn thể cộng đồng sẽ mất đà tiến và trở thành trụ đóng. Nếu sự điều
hòa không được thực hiện, cộng
đồng sẽ tan vỡ.
Nhưng sự mâu thuẫn giữa hai quyền lợi cá nhân và cộng đồng không phải
lúc nào cũng quyết liệt. Trong những thời kỳ bình thường của cộng đồng, cộng đồng không đứng trước một thử thách khó khăn, và
không đòi hỏi nhiều sự đóng góp của cá nhân. Trong những thời kỳ đó, sự mâu thuẫn
dịu đi – và công cuộc lãnh đạo chú trọng đến việc giữ cho trật tự xã hội được mọi người tôn trọng, và đời sống của mỗi cá nhân
được phát triển.
Nhưng ở vào những thời kỳ mà cộng đồng phải đương đầu với một cuộc thử thách nghiêm trọng,
và vì sự sống còn của cộng đồng, đòi hỏi những đóng góp to tát của cá nhân, sự
mâu thuẫn trên lên đến cực độ. Sự lãnh đạo ngoài sự bảo vệ trật tự xã hội còn
phải qui tụ những phương tiện
vật chất và nhân sự vượt quá
mức thông thường để đưa cộng đồng lướt qua các trở lực. Sự mâu thuẫn trở thành
cực kỳ trầm trọng. Trạng thái điều hòa rất khó thực hiện và sự tan vỡ của cộng
đồng có thể đến bất cứ lúc nào.
Như thế, sự mâu thuẫn, khi nhẹ khi nặng, lúc nào cũng có. Trong thực tế,
sự mâu thuẫn giữa hai quyền lợi, cộng đồng và cá nhân, sẽ biến hình thành sự
mâu thuẫn giữa thiểu số lãnh đạo và đa số chịu sự lãnh đạo, vì thiểu số lãnh đạo
nhân danh cộng đồng đòi hỏi sự đóng góp của đa số chịu sự lãnh đạo. Sự mâu thuẫn
càng ác liệt, nếu đại đa số không ý thức cộng đồng và không hiểu biết vấn đề cần
giải quyết của cộng đồng.
Trường hợp này càng dễ xảy ra trong các cộng đồng nghèo nàn về vật chất
và ấu trĩ trong tổ chức. Đa số chịu lãnh đạo không được cộng đồng bảo đảm cho những cần thiết tối
thiểu và sơ đẳng nên không có lý do tâm lý để biết đến cộng đồng, và, mải bận
tâm giải quyết các vấn đề của đời sống hằng ngày, không có thời giờ mà hiểu biết
vấn đề của cộng đồng.
Trong những thời kỳ bình thường, có thể miễn cưỡng thay thế sự tự ý tham gia của đa số chịu
sự lãnh đạo vào đời sống của cộng đồng bằng sự cưỡng bách tôn trọng luật lệ của cộng đồng. Nhưng trong những thời kỳ thử thách thì uy
tín vững chắc của một lãnh tụ, hay sự cưỡng bách bằng võ lực cũng không thay thế được sự đóng góp có ý thức vào nhu cầu của cộng
đồng. Và điều kiện thiết yếu để thực hiện sự tự giác đóng góp như vậy là đa số chịu sự lãnh đạo phải ý thức
cộng đồng và hiểu biết vấn đề cần phải giải quyết của cộng đồng.
Có như vậy thiểu số lãnh đạo và đa số chịu sự
lãnh đạo mới phối hợp điều hòa và tạo cho cộng đồng sinh lực cần thiết để vượt qua các thử thách quyết liệt
đang đợi chờ.
Nhiều hậu quả trực tiếp
Sự liên hệ đương nhiên giữa thiểu số lãnh đạo và đa số
chịu sự lãnh đạo trong một cộng đồng cũng đã đặt cho đa số chịu lãnh đạo sự cần
thiết phải hiểu biết vấn đề cần phải giải quyết của cộng đồng. Hơn nữa, trong
thực tế, nếu đa số chịu lãnh đạo ý thức vấn đề của cộng đồng, thì cộng đồng còn
có thể tránh được nhiều bước lỡ lầm mà hậu quả sẽ rất tai hại
cho các công cuộc chung. Đa số chịu lãnh đạo càng ý thức được vấn đề chung, thì đường đất xoay trở càng rộng cho chiến thuật
hành động của thiểu số lãnh đạo. Cuộc tranh đấu càng gay go, chiến thuật càng
trở nên khuất khúc và bất ngờ. Và như vậy sự phối hợp giữa thiểu số lãnh đạo và đa số chịu lãnh đạo sẽ
không sứt mẻ và cái sắc bén của chiến thuật không bị sờn. Kẻ địch không lợi dụng
được hoàn cảnh nghiêm khắc do
cuộc thử thách tạo ra để ly gián giữa thiểu số và đa số của cộng đồng.
Mọi sự lãnh đạo đều phải chịu sự
phê bình. Có phê bình xây dựng và có phê bình đả phá. Ngay trong lúc bình thƣờng,
đa số chịu lãnh đạo cũng không dễ dàng phân biệt được sự phê bình xây dựng với sự phê bình đả
phá. Trong những lúc nhiệt độ không khí tranh đấu lên cao và bao trùm mọi việc
thì sự nhận định càng dễ bị đánh lạc hướng và thiện chí càng dễ bị lợi dụng bởi những chủ trương phá hoại.
Tuy nhiên, nếu đa số chịu lãnh đạo
ý thức vấn đề của cộng đồng, thì ít nhiều cũng sẽ có một tiêu chuẩn để nhận xét
tính chất của sự phê bình và không bị những chủ trương phá hoại lừa gạt. Ví như hành khách, có thể không thấu lộ trình như nguời lái xe, nhưng
nếu nhiều hành khách có ý thức về lộ trình thì người lái xe khó mà mang một lộ trình lạ vào
thay thế cho lộ trình mà nhiều người
biết
Một sự lãnh đạo chân thành vì quyền
lợi của cộng đồng cũng có lúc phạm vào những lỗi lầm mà hậu quả sẽ có hại cho cộng
đồng. Nhiều cuộc đầu cơ khéo ngụy trang có thể lừa gạt đa số chịu lãnh đạo của
cộng đồng. Trong hai trường hợp
trên đa số có thể bị lôi cuốn vào những công việc tai hại. Và do đó có thể dẫn
dắt cộng đồng đến chỗ sụp đổ. Đa số chịu lãnh đạo dù không thấu triệt vấn đề cần
phải giải quyết của cộng đồng, nhưng nếu đã có ý thức, cũng có thể kịp thời
nghe theo những lời cảnh tỉnh xây dựng và từ chối không dự vào những công cuộc
đưa cộng đồng vào vòng tiêu
diệt. Càng phân tích các trường
hợp như trên, chúng ta càng
nhận thấy tính cách thiết yếu của sự hiểu biết vấn đề cần phải giải quyết của cộng
đồng đối với đa số chịu lãnh đạo.
Nhiều hậu quả gián tiếp
Đối với một cộng đồng quốc gia nhỏ
và yếu như quốc gia của chúng
ta, lúc nào cũng bị nạn ngoại xâm đe dọa, sự ý thức vấn đề của cộng đồng đối với
đa số chịu lãnh đạo còn hàm chứa nhiều
hậu quả tuy gián tiếp nhưng rất
quan trọng. Trong những thời kỳ phải đương đầu với nhiều thử thách quyết liệt, vận mạng của cộng đồng bị
đe dọa, thiểu số lãnh đạo bắt buộc phải đòi hỏi ở đa số chịu lãnh đạo nhiều cố
gắng phi thường, nhiều hy
sinh nặng nề và nhiều đóng góp to tát.
Nhưng nếu trong hoàn cảnh đó, đa số chịu lãnh đạo lại không ý thức
đúng mức vấn đề của cộng đồng, thì chẳng những sự góp phần của họ sẽ miễn cưỡng và không xứng đáng, mà lại còn
sẽ phát sinh một hiện tượng
tâm lý rất nguy hiểm cho cộng đồng. Vì tin rằng bị cưỡng bách đóng góp một cách quá đáng vào một
công cuộc mà họ không hiểu, đa số chịu lãnh đạo càng ngày càng bất mãn đối với
thiểu số lãnh đạo. Và lần lần sự bất mãn biến thành căm thù và cuối cùng vùng
lên thành phẫn nộ.
Đến cực độ này, đa số chịu lãnh đạo
sẽ trở thành một công cụ sắc bén cho bất cứ một kẻ ngoại xâm nào biết thừa cơ hội
đứng lên khoác áo nghĩa hiệp giải phóng cho đa số tự cho là bị thiểu số lãnh đạo
bóc lột. Trong lịch sử của chúng ta, sự thất bại của nhà Hồ và cuộc xâm lăng nƣớc
ta của quân Minh tiếp theo đó, là một sự kiện lịch sử điển hình cho trường hợp vừa phân tích trên đây. Hồ
Quí Ly quyết định thực hiện một cuộc cách mạng toàn diện cho dân tộc Việt Nam.
Xét lại sử liệu, cuộc cách mạng theo nhà Hồ quan niệm, nếu thành công đã thay đổi
hẳn cuộc tiến hóa của dân tộc. Nghĩa là con đường nhà Hồ đã vạch ra là con đường vô cùng lợi ích cho cộng đồng.
Nhưng Hồ Quí Ly, để thực hiện chương trình, đã cưỡng
bách đa số chịu lãnh đạo đóng góp nặng nề, trong khi đa số không ý thức được vấn đề của cộng đồng. Và những
biến cố đã xảy ra như ta đã
biết: Quân Minh đã lấy danh nghĩa giải thoát dân tộc Việt Nam khỏi tay một tên
soán ngôi, để cướp cả nước của chúng ta. Trong ví dụ lịch
sử trên đây, nếu đa số chịu lãnh đạo hiểu biết được ít nhiều vấn đề, đã tránh cho chúng ta một trong bảy cuộc xâm
lăng mà nước Tàu đã dành cho chúng ta trong một ngàn năm
lịch sử.
Nhưng sự hiểu biết vấn đề của cộng đồng đối với đa số chịu lãnh đạo
không những có một hiệu quả tiêu cực đối với nạn ngoại xâm, như chúng ta vừa thấy trên đây, mà lại còn có
một hiệu quả tích cực trong công cuộc chống lại nạn ngoại xâm lúc nào cũng đe dọa chúng ta. Những lý lẽ để chứng
minh sự kiện này lại nằm trong một ngàn năm lịch sử của dân tộc Việt chống lại
Trung Hoa.
Kinh nghiệm lịch sử của chúng ta
chứng tỏ rằng, rốt cuộc lại, không phải ngoại giao, cũng không phải quân lực đã
giúp cho chúng ta mấy lần đánh bại các cuộc xâm lăng của Trung Hoa và mấy lần
quật khởi sự thống trị ác nghiệt của họ. Bởi vì, ngoại giao chỉ mạnh khi nào có
quân lực mạnh làm hậu thuẫn. Và bởi vì, dù dũng lược có thừa, nhưng tài nguyên vật chất và nhân lực của
chúng ta giới hạn thì quân lực của chúng ta cũng giới hạn. Chúng ta đã đánh bại
quân xâm lăng và quật đổ ách thống trị vì chúng ta có người lãnh đạo và ý thức quốc gia được hun đúc và nuôi dưỡng cũng như vấn đề của quốc gia được
giải thích sâu rộng trong đa số chịu lãnh đạo.
Như vậy thì sự đa số chịu lãnh đạo ý thức cộng đồng quốc gia và hiểu
biết vấn đề cần phải giải quyết của cộng đồng là lợi khí sắc bén nhứt để cho một
quốc gia nhỏ và yếu như chúng
ta chống lại nạn ngoại xâm. Các trường
hợp đã phân tích trên đây chứng minh rằng sự đa số chịu lãnh đạo hiểu biết vấn
đề cần phải giải quyết của cộng đồng hàm chứa nhiều hậu quả ích lợi thiết yếu
cho cộng đồng. Nếu chúng ta nhìn nhận rằng, sự đa số chịu lãnh đạo hiểu biết vấn
đề mặc nhiên sẽ đưa đến sự đa
số chịu lãnh đạo tham gia trực tiếp hay gián tiếp vào chính sự của cộng đồng.
Và nếu chúng ta lại nhìn nhận rằng, sự đa số chịu lãnh đạo tham gia trực tiếp
hay gián tiếp vào chính sự của cộng đồng là bản chất của tinh thần dân chủ, thì
các điểm sau đây lại được
sáng tỏ:
1. Chỉ có sự tôn trọng tinh thần
dân chủ mới là một lợi khí sắc bén nhứt để cho một nước nhỏ và yếu như nước chúng ta chống lại ngoại xâm.
2. Phát huy sự hiểu biết của đa số
chịu lãnh đạo đối với vấn đề cần phải giải quyết của quốc gia là góp phần tích
cực nhất vào công cuộc xây dựng và củng cố tinh thần dân tộc.
Một ví dụ cụ thể và khắc tín
Trên đây chúng ta đã dẫn chứng để
quả quyết hai điều.
* Thiểu số lãnh đạo thấu triệt vấn
đề cần phải giải quyết của cộng đồng là một điều thiết yếu cho cộng đồng.
* Đa số chịu lãnh đạo hiểu biết vấn
đề cần phải giải quyết của cộng đồng là một điều thiết yếu cho cộng đồng.
Các biến cố dồn dập xảy ra trong
lịch sử Việt Nạm từ hai mươi
năm nay mà mọi người đều còn
ghi nhớ có thể lấy làm một ví dụ cụ thể và minh xác để chú giải hai điều trên
đây.
Thiểu số lãnh đạo và vấn đề
Từ hai mươi năm nay và còn trong nhiều năm nữa, các
biến cố chính trị ở Việt Nam đều phát sinh từ sự tranh giành ảnh hƣởng giữa hai
chủ trương Quốc Gia và Cộng Sản.
Mặc dù toàn bộ Việt Nam đều bị sự chi phối nặng nề của hai thế giới Tự Do và Cộng
Sản, sự hơn kém giữa hai chủ trương
vẫn tùy thuộc ở một số yếu tố nội bộ quyết định, trong số đó sự lãnh đạo chiếm
một vai trò quan trọng.
Sau này trong phần chính của quyển
sách, chúng ta sẽ phân tích với nhiều chi tiết những lý do vì sao chủ trương Cộng Sản chẳng những sẽ không
giải quyết đƣợc vấn đề của quốc gia Việt Nam trong thời kỳ nầy của cộng đồng mà
lại còn sẽ đưa dân tộc vào một
con đường đen tối cho nhiều
thế hệ trong tương lai. Mặc
dù lý trí của phần đông chưa
quan niệm được một cách rõ rệt
hiểm họa trên, nhưng số người trong mọi tầng lớp ngày càng chống
lại chủ trương Cộng Sản càng
tăng, vì ghê sợ phương pháp
cai trị tàn bạo của họ và ý thức ít nhiều về sự họ từ chối không nhìn nhận lý
do cá nhân của cuộc sống.
Đã thế một sự kiện không khỏi làm
cho chúng ta suy nghĩ. Vì sao, trong hoàn cảnh đó, chủ trương Cộng Sản lại càng ngày càng lấn áp chủ
trương Quốc Gia?... Các lãnh
tụ quốc gia, lo cho vận mạng của nước
nhà, đã để nhiều tâm trí tìm câu trả lời.
Lý thuyết tranh đấu
Nhiều người tin rằng, sở dĩ chủ trương Cộng Sản thắng thế là vì nhờ có một lý
thuyết tranh đấu. Để đối phó với chủ trương Cộng Sản thì ngược
lại chủ trương Quốc Gia không
có một lý thuyết tranh đấu. Do đó từ hai mươi năm nay, nhiều lý thuyết đã được tạo ra. Nhiều lý thuyết lấy một học thuyết triết học hay tôn
giáo làm căn bản. Một số khác mượn
nền tảng của một chủ nghĩa tranh đấu chính trị đã, trong một lúc nào đó và tại
một nơi nào đó trên thế giới, chống lại chủ nghĩa Cộng Sản. Đối với một vài lý
thuyết, tư tưởng hoàn toàn đóng khung trong giới hạn
dân tộc. Một vài lý thuyết khác khoáng đạt hơn dựa trên một hệ thống tư tưởng của các triết học danh gia thế giới.
Có nhiều xu hướng lại mang lập trường Quốc Gia để chống chọi lại lập trường Quốc tế, xem như là lập trường của Cộng Sản. Và quên đi rằng đối với một quốc gia, ngay cả các
quốc gia Cộng Sản, mọi chủ trương
đều được nghiên cứu vừa trên
lập trường Quốc Gia vừa trên
lập trường Quốc tế. Các lý
thuyết đưa ra làm lý thuyết
tranh đấu để chống lại chủ nghĩa Cộng Sản đã có nhiều. Và hiện nay vẫn còn có
người đang đi tìm một lý thuyết
khác nữa với tác dụng trên. Giá trị tư tưởng các lý
thuyết rất khác nhau nhưng tất
cả đều bất lực trong vai trò mong mỏi: Giúp cho chủ trương Quốc gia chiến thắng chủ trương Cộng Sản.
Chẳng những thế tất cả các lý
thuyết đều mang đến một kết quả bất ngờ và trái ngược: Mỗi lý thuyết có một số người tin tưởng, nhứt quyết trung thành với lý thuyết
của nhóm mình và thành thật hay miễn cƣỡng bảo vệ lý thuyết đó. Thành ra khối
người theo chủ trương Quốc Gia chia năm xẻ bảy làm
cho sinh lực chống lại kẻ địch còn yếu hơn là lúc không có lý thuyết. Thật là
không có gì làm cho người Cộng
Sản vui sướng bằng tình trạng
đó. Và họ chỉ ước mong khối
quốc gia tạo ra thêm nhiều lý thuyết tương tự.
Ngô Đình Nhu (1910-1963)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét