
BỐI CẢNH
CỦA VẤN ĐỀ (tiếp theo)
ĐỀ NGHỊ ĐỐI TƯỢNG
Thiểu số lãnh đạo
thấu triệt vấn đề cần phải giải quyết của cộng đồng là một điều kiện thiết yếu
cho cộng đồng. Đa số chịu lãnh đạo hiểu biết vấn đề cần phải giải quyết của
cộng đồng là một điều kiện thiết yếu cho cộng đồng. Đối tượng của quyển sách này là tìm xem vấn đề
cần phải giải quyết của cộng đồng Quốc Gia Việt Nam trong thời kỳ này của cộng
đồng là vấn đề gì.
Trong khuôn khổ vài ba trăm trang giấy, và đối với một vấn
đề đương nhiên quan hệ cho dân
tộc và tự nó phức tạp như vấn
đề nêu lên đây, ước vọng của
tác giả không làm sao vượt
lên quá được cái mức công
việc chỉ nêu lên các khía cạnh của vấn đề, và, những dây liên hệ giữa các khía
cạnh trong toàn bộ.
Mặc dù đã tham khảo một số lớn tài liệu trong nước cũng như ngoại quốc và để tâm nghiên cứu vấn đề
trong nhiều năm, tác giả không khỏi lấy làm lo sợ và đắn đo khi phải trình bày
kết quả suy luận riêng của mình. Động cơ duy nhứt khiến cho tác giả thắng được sự e dè của mình là nỗi lo âu
mà tác giả chia sẻ với toàn dân Việt Nam trước tình thế rất bi quan của dân tộc. Vì vậy mà đánh bạo đóng góp
một phần nhỏ nhặt vào công cuộc tìm lối thoát cho cộng đồng Quốc Gia.
BA BỐI CẢNH
Đối tượng
chánh vẫn là vấn đề cần phải giải quyết của cộng đồng dân tộc. Nhưng, bao giờ cũng vậy, một phần của toàn bộ
lúc nào cũng được sáng tỏ hơn
khi được đặt vào toàn bộ. Vì
thế nên vấn đề cần phải giải quyết riêng của Việt Nam sẽ được đặt trong ba bối cảnh.
Bối cảnh thứ nhứt là bối cảnh rộng lớn của tình hình chính
trị thế giới. Bối cảnh thứ hai, nhỏ hơn, gồm các nước trong thế giới đang ứng phó với một thử
thách tương tự, như thử thách của Việt Nam. Và sau
cùng, bối cảnh thứ ba là một bối cảnh hẹp gồm các quốc gia thuộc về một khối
văn hóa với Việt Nam: Các nước
láng giềng ở Đông Á và Đông Nam Á.
THỊ KỲ SỞ DĨ
(2)
Một mặt khác,
mỗi thời kỳ của cộng đồng dân tộc gồm nhiều thế hệ trước và sau thế hệ hiện tại. Vả lại, thực
trạng lịch sử mà chúng ta nhìn thấy trước mắt là hậu quả của những sự kiện đã xảy ra hằng mấy thế kỷ trước và là nguyên nhân của những sự
kiện sau này. Vì thế nếu muốn tìm hiểu thực trạng hiện tại và dự đoán các biến
cố trong tương lai, bắt buộc
phải xét lại lịch sử của nhiều thế kỷ đã qua. Ví như chúng ta hiểu được cốt truyện đang diễn tả trên màn bạc và
đoán được ít nhiều những cảnh
sắp tới, là khi nào chúng ta đã xem qua các đoạn trước của cuốn phim. Do đó, sẽ có nhiều chương
dành cho lịch sử của nhiều quốc gia trong những thế kỷ đã qua.
GIẢI PHÁP
Sau khi, nhờ ở những sự phân tích trên, vấn đề cần phải giải
quyết của Việt Nam trong thời kỳ hiện tại của cộng đồng đã sáng tỏ, nhiều chương sẽ dành cho sự nghiên cứu một
giải pháp mà tác giả nghĩ rằng thích hợp cho dân tộc. Nhưng trước khi bàn tới giải pháp đề nghị, thì, theo gương các người lữ hành, trước
khi lên đường, chúng ta sẽ
kiểm điểm lại cái vốn tinh thần và vật chất mà chúng ta có, cũng như những món nợ phải mang theo mình.
Vài chương
sẽ được dành cho bản mục lục
đó. Cuối cùng vài chương sẽ
dành để phác họa giải pháp mà tác giả thiển nghĩ rằng thích hợp cho vấn đề. Các
khía cạnh chính trị, kinh tế và văn hóa sẽ được đề cập đến. Như
trên đã nói, đối với một vấn đề bao la và phức tạp như vậy và trong khuôn khổ của vài ba trăm
trang, ước vọng của tác giả
không thể vượt quá cái mức
công việc chỉ nêu lên các khía cạnh của vấn đề.
Phần nghiên cứu tỉ mỉ và chỉ giáo xin trân trọng dành cho
các bậc học giả trong nước.
VỊ TRÍ CỦA TÁC GIẢ
Bất cứ một đối tượng
nào cũng có thể được nhìn từ
nhiều vị trí. Vị trí khác, kết quả của sự nhìn sẽ khác, nghĩa là hai người từ hai vị trí khác nhau cùng
nhìn một vật thể, mỗi người
sẽ thấy một vật thể khác. Trong các đoạn nhận xét, phân tích và suy luận dưới đây, đối với một vấn đề hay
nhiều vấn đề, tùy theo hoàn cảnh tác giả sẽ đứng từ những vị trí khác nhau. Ví
dụ có nhiều sự kiện sẽ có khi được
nhận xét từ một vị trí quốc gia, và có khi từ một vị trí của một cộng đồng
ngoài quốc gia. Lúc nào trường
hợp đến, người đọc sẽ nhận
thấy ngay là vị trí nào.
Tuy nhiên, có hai vị trí cần phải có sự thỏa thuận trước giữa tác giả và người đọc. Vì nếu không có sự thỏa
thuận trước, thì nhiều vấn đề
hoặc khía cạnh của vấn đề sẽ không được sáng tỏ, vì tác giả và người đọc sách sẽ đứng vào những vị trí khác nhau.
Vị trí thứ nhứt là một vị trí lúc nào tác giả cũng sẽ đứng
vào để nhìn tất cả các vấn đề trình bày: đó là vị trí thực tế lịch sử. Bởi vì thực tế lịch sử không có thể
phủ nhận được. Và trên nền
tảng vững chắc đó mới có thể lấy óc khoa học mà suy luận không sợ phạm vào
những lỗi lầm căn bản.
Vị trí thứ hai là vị trí không bao giờ tác giả dám đứng vào
để nhìn bất cứ vấn đề nào được
trình bày: đó là vị trí triết
lý tôn giáo, và lý thuyết là những lĩnh vực mà sự đối chọi giữa hai chủ trương trái ngược có thể kéo dài vô cùng tận.
Bất cứ trong lãnh vực nào của đời sống của cộng đồng: chính
trị, văn hóa, và kinh tế, sự nhận xét phân tách và suy luận của tác giả đều căn
cứ trên những sự kiện lịch sử và để một bên tất cả các lý thuyết. Hành động như trên không có nghĩa là phủ nhận
sự ích lợi của lý thuyết và giá trị của nhiều lý thuyết. Nhưng cố định đứng ngoài vị trí triết lý và
lý thuyết để tránh tất cả các sự biện luận không thiết thực và do đó không
thích hợp với mục đích của quyển sách.
TÀI LIỆU TRANH
ĐẤU
Mấy trăm trang dưới
đây không phải là một tài liệu tranh đấu theo nghĩa thông thường của danh từ này: nghĩa là lời văn sẽ không đanh thép, và ý
văn sẽ không đề cao bất cứ cái gì của dân tộc hay của khối Quốc Gia. Hình thức
sẽ không cổ võ nhiều người
đứng lên dấn thân vào một công cuộc chung và nội dung sẽ không cố tình binh vực
một lập trường đã quyết định
trước.
Nhưng mấy
trăm trang dưới đây có thể là
một tài liệu tranh đấu, nếu gọi là một tài liệu tranh đấu, tài liệu nào khả dĩ
mang thắng lợi tới cho chủ trương
Quốc Gia Dân Tộc. Bởi vì mấy trăm trang dưới đây là một tài liệu nghiên cứu sự kiện thực tế của lịch sử. Mà
thấy được thực trạng của vấn
đề, biết mình và biết chung quanh mình là một yếu tố quyết định cho sự thắng
lợi.
Chính vì lập trường nghiên cứu sự kiện thực tế của lịch sử
cho nên tự ti mặc cảm tuyệt nhiên không có, khi nhận xét rằng Việt Nam là một
quốc gia nhỏ và yếu. Nhỏ và yếu vì dân số, vì kinh tế kém mở mang, và vì sự góp
phần vào văn minh nhân loại. Trái lại, chính vì không tự ti mặc cảm nên mới có
nhận xét như vậy. Cứ gì có
một dân số khổng lồ, một kinh tế phong phú mới là một dân tộc lớn. Và chính là
khi chúng ta dám nhìn thẳng vào thực trạng của dân tộc, chúng ta mới đủ điều
kiện đưa dân tộc vượt lên.
Và cũng vì lý do trên mà tài liệu này không đề cập đến bốn
ngàn năm văn hiến của dân tộc, lại chỉ nói đến một ngàn năm lịch sử. Cũng như trên, làm như vậy không phải vì tự ti mặc cảm. Những gì
trong lịch sử của chúng ta chỉ có một ngàn năm sau này mới có đủ tài liệu đích
xác để làm nền tảng cho suy luận.
LỐI HÀNH VĂN
Sau hết tác giả cố tình sử dụng một lối hành văn dùng nhiều
danh từ. Các ngôn ngữ trên thế giới chia làm hai loại, loại cụ thể và loại trừu
tượng. Ngôn ngữ cụ thể dùng
nhiều động từ trong câu văn để diễn tả những động tác. Ngôn ngữ trừu tượng dùng nhiều danh từ để diễn tả
những khái niệm. Văn hóa của một dân tộc càng tiến bộ, những khái niệm trừu tượng càng nhiều, ngôn ngữ càng trừu
tượng.
Vì một khái niệm trừu tượng lúc nào cũng diễn đạt một tư tưởng phong phú
hơn một tác động cụ thể, nghĩa là một danh từ bao giờ cũng diễn đạt một tư tưởng phong phú hơn một động từ. Giữa hai câu: - Ông A đến Saigon.
và: - Sự đến Saigon của ông A. Câu thứ nhứt chỉ diễn tả hành động cụ thể “Đến
Saigon của ông A”. Câu thứ hai trái lại, mô tả chẳng những hành động cụ thể đó
mà tất cả các sự kiện dính liền vào hành động trên.
Việt ngữ cũng có lối hành văn với danh từ, nhưng thường thì động từ vẫn quen dùng hơn. Bởi vậy cho nên câu “Ông A đến
Saigon” nghe quen tai hơn. Tuy nhiên, trong một vấn đề bao la và phức tạp như vấn đề được giải thích trong những trang sau này, tác giả nhận thấy sự cần thiết phải diễn
tả cho hết các tư tưởng, vừa
để cho cuộc suy luận được bao
quát và vững chắc, vừa để cho các tư
tưởng diễn tả được phong phú hầu các khía cạnh của vấn đề
được sáng tỏ. Các câu văn
dùng nhiều danh từ mặc dù có hơi lạ tai, nhưng hàm súc và khúc chiết hơn để diễn tả những ý kiến trừu tượng tổng quát và bao gồm, thay vì những
ý kiến cụ thể giới hạn cho từng trường
hợp. Vấn đề hành văn này sẽ được
đề cập đến với nhiều chi tiết trong phần văn hóa của đoạn sau cùng của quyển
sách.
Đến đây kết thúc các trang giới thiệu vấn đề để bước vào phần trình bày nội dung vấn
đề. Trong suốt một ngàn năm lịch sử từ ngày lập quốc, dân tộc Việt Nam đã vượt qua nhiều thử thách mà sử còn
ghi chép. Theo định luật của các sinh vật, mỗi lần vượt qua được một thử thách là mỗi lần vượt lên một nấc thang tiến hóa – một cộng đồng dân tộc là một sinh
vật. Cộng đồng của chúng ta trưởng
thành trong thử thách. Tuy nhiên, sự tin tưởng nơi tiềm lực của dân tộc không nên làm cho chúng ta xem thường thử thách đang đợi chờ thế hệ
của chúng ta.
Trước
chúng ta đã có năm thế hệ đã thất bại trước thử thách này. Từ một ngàn năm nay,
dân tộc chúng ta chưa có bao
giờ gặp phải một thử thách ghê gớm như vậy. Thử thách càng lớn, sự thắng lợi càng đưa dân tộc lên cao, nhưng sự thất bại cũng sẽ bi thảm một cách tương xứng cho các thế hệ sau này.
Hai mươi năm nay, các biến
chuyển đã đưa lần sự thắng
lợi và thất bại của thế hệ của chúng ta đến chỗ chỉ còn cách nhau một đường tơ.
Các trang trong phần chính sẽ giải thích vì sao trách nhiệm
ứng phó với thử thách hiện tại, ngày giờ này đang đè nặng lên vai của miền Nam
Việt Nam. Và chưa bao giờ
cộng đồng dân tộc đòi hỏi mỗi phần tử phải tham gia vào một công cuộc đầy kích
thích như ngày nay. Nếu không
thấy vấn đề thì trong sự thất bại hay thắng lợi, mười phần trách nhiệm của người là năm và năm phần là vận nước. Đã thấy vấn đề thì trong sự
thắng lợi hay thất bại, mười
phần trách nhiệm của người là
bảy và ba phần là vận nước.
Đối với một phần tử của cộng đồng, không có sự ước mong nào thiết tha hơn là sự ước mong thấy dân tộc lại vượt qua thử thách, lần nầy cũng như những lần đã qua trong lịch sử
Chú thích: [1] loại mâu thuẫn lúc nào cũng có ở trong nội
tâm: Mâu Thuẫn Nội Tại [2] Cách thức khảo sát của Khổng Tử là: "tam
khan": "Thị kỳ sở dĩ, quan kỳ sở do, sát kỳ sở an" (xem việc người đó làm, khảo sát quá trình người đó làm, xem xét người đó làm lúc an, lúc nguy).
Ngô Đình Nhu (1910-1963)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét