Tác phẩm mới nhất về chiến trường Huế 1968.
Tết đã đến nhưng năm nay, bà Ngô Thị Phái, ngụ ở thị trấn
Triệu Sơn, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa và thân nhân vẫn chưa an lòng vì họ
vẫn chưa tìm thấy hài cốt ông Ngô Văn Phiếu. Ông Phiếu – anh ruột bà Phái –
sinh năm 1946, từng được Quân đội nhân dân Việt Nam động viên vào lính để “giải
phóng miền Nam, thống nhất đất nước”.
Theo lời một đồng đội của ông Phiếu thì khi vào Nam, ông được
chỉ định phục vụ trong Tiểu đoàn 16, Trung đoàn 24, Sư đoàn 304. Sau đó Tiểu
đoàn 16 được đặt dưới sự chỉ huy của Tỉnh đội Long An để thực hiện cuộc “Tổng
tiến công và nội dậy Xuân Mậu Thân 1968”.
Đêm 30 tháng Chạp Âm lịch Xuân Mậu Thân 1968, ông Phiếu là một
trong hàng ngàn người lính tấn công phi trường Tân Sơn Nhất và mất mạng…
Hồi tháng 7 năm ngoái, nghe tin hệ thống công quyền Việt Nam
đang tìm kiếm các ngôi mộ tập thể - chôn cất những người lính tham gia công cuộc
“giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước” – hồi Xuân Mậu Thân 1968, trên Đài
Tiếng nói Việt Nam (VOV), bà Phái đã đi tìm người đưa tin để hỏi thăm thêm.
Phóng viên của VOV kể rằng, gia đình bà Phái đã tự đi tìm
hài cốt ông Phiếu nhiều lần trong nhiều năm nhưng không thành công. Thông tin về
việc tìm kiếm những ngôi mộ tập thể ở phi trường Tân Sơn Nhất lại làm dấy lên
hi vọng trong lòng bà Phái và thân nhân. 50 năm đã qua và đất nước thống nhất
đã hơn bốn thập niên, hài cốt ông Phiếu có thể đã rã thành bùn đất, nên bà Phái
chỉ hy vọng ai đó tìm đúng nơi ông Phiếu được chôn cất để xin ghi tên ông vào tấm
bia được dựng ở đó rồi xin một nắm đất đắp lên mô đất thay cho nấm mộ của ông
Phiếu ở quê nhà.
Cuộc tìm kiếm những ngôi mộ tập thể trong khu vực phi trường
Tân Sơn Nhất được thực hiện hồi năm ngoái, bao gồm hai đợt, một đợt hồi tháng
6, một đợt hồi tháng 10 và đã kết thúc hồi cuối tháng 11 mà không đem lại kết
quả nào.
***
Trong một vài tài liệu được xuất bản chính thức, chẳng hạn
như “Tết Mậu Thân 68 - Bước ngoặt lớn của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước”,
tác giả Hồ Khang dựa vào các thống kê của hệ thống công quyền Việt Nam, cho biết
(trang 362), cuộc “Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968” đã đẩy khoảng
50.000 người lính thuộc “Quân Giải phóng miền Nam” đến chỗ chết và mất tích
(44.824 chết, 4.511 mất tích), chưa kể 61.267 người lính bị thương, thêm vài
ngàn người bị bắt làm tù binh, đi lạc, đầu hàng,… Bất kể tổng thiệt hại về quân
số, nhân lực ít nhất cũng khoảng 113.000 người, một số cá nhân là người trong
cuộc như Thiếu tướng Huỳnh Công Thân, Anh hùng các lực lượng vũ trang nhân dân,
Tỉnh đội trưởng Long An, Tư lệnh Phân khu 3 khi diễn ra cuộc “Tổng công kích –
Tổng khởi nghĩa Tết Mậu Thân 1968” thuật lại trong “Ở chiến trường Long An” của
Thiếu tướng Huỳnh Công Thân (Nhà xuất bản Quân đội nhân dân - 1994) rằng chủ
trương thực hiện “Tổng công kích – Tổng khởi nghĩa Tết Mậu Thân 1968” vừa điên
rồ, vừa phi nhân (xua hàng trăm ngàn người lính thuộc “Quân Giải phóng miền
Nam” vào chỗ chết), trước nay, cuộc “Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân
1968” vẫn được ca ngợi là “bằng chứng sinh động của bản lĩnh kiên cường, của tư
duy và nghệ thuật quân sự Việt Nam”.
Khoan bàn đến yếu tố nhân văn của cuộc “Tổng tiến công và nổi
dậy Xuân Mậu Thân 1968” (tuyên bố ngưng bắn nhân dịp Tết rồi tổ chức tấn công đồng
loạt trên khắp miền Nam, thảm sát thường dân - trong đó có khoảng 6.000 người ở
Huế, biến hàng triệu người thành vô gia cư, trắng tay vì nhà cửa, tài sản bị
phá hủy,…), chỉ xét cách hệ thống công quyền Việt Nam đối xử với những người
lính được điều động tham gia cuộc “Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân
1968” rồi chẳng may mất mạng thì cũng đủ để thấy đó là vô đạo.
Sau 43 năm “giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước”, đâu
chỉ có ông Phiếu vẫn còn mất xác! Năm ngoái – 42 năm sau khi đã làm chủ hoàn
toàn Việt Nam – hệ thống công quyền Việt Nam mới tổ chức thêm một số đợt tìm kiếm
những người lính trở thành liệt sĩ khi tham gia cuộc tấn công hồi Tết Mậu Thân
1968 ở phi trường Biên Hòa và phi trường Tân Sơn Nhất.
Những đợt tìm kiếm vừa kể khởi đầu bằng nỗ lực của một Kiến
trúc sư tên là Nguyễn Xuân Thắng và bạn bè. Từ việc có cậu ruột là liệt sĩ đến
nay vẫn còn mất xác, ông Thắng và một số người cùng hoàn cảnh, cùng chí hướng
đã bỏ rất nhiều thời gian, công sức thu thập thông tin, hình ảnh liên quan đến
các ngôi mổ tập thể - chôn cất những người lính thuộc “Quân Giải phóng miền
Nam” và mất mạng khi tấn công vào phi trường Biên Hòa và phi trường Tân Sơn Nhất.
Qua Internet, ông Thắng tìm thấy một số cựu chiến binh Mỹ hoặc tận mắt mục
kích, hoặc tham gia chôn cất các liệt sĩ Việt Cộng hồi Tết Mậu Thân 1968 ở phi
trường Biên Hòa. Ngoài việc gửi thêm thông tin, dữ liệu, một đại tá và một
trung sĩ cựu chiến binh Mỹ còn sắp xếp để quay lại Việt Nam hỗ trợ tìm kiếm.
Nhiệt tình của những Nguyễn Xuân Thắng, Bob Connor, Martin
Strones,… thúc đẩy Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Đồng Nai phải nhập cuộc và cuối cùng
đã tìm thấy - cải táng hài cốt 150 liệt sĩ.
Ông Thắng cũng đã chuyển những thông tin, dữ liệu tương tự
cho Bộ Chỉ huy Quân sự TP.HCM. Tuy ông Thắng ước lượng quanh khu vực vốn là rìa
phi trường Tân Sơn Nhất có từ 600 đến 700 liệt sĩ Việt Cộng chưa được cải táng
nhưng một số cá nhân như ông Vũ Chí Thành – từng tham gia tấn công phi trường
Tân Sơn Nhất hồi Tết Mậu Thân 1968 – khẳng định, con số này phải đến hàng ngàn.
Sau 43 năm tính từ tháng 4 năm 1975, phần đất trống bọc
quanh phi trường Tân Sơn Nhất giờ đã trở thành khu dân cư, đường sá, nơi một số
doanh nghiệp xây dựng các cơ sở kinh doanh thành ra hai đợt tìm kiếm được thực
hiện hồi giữa và cuối năm ngoái không mang lại kết quả nào.
Dữ liệu với rất nhiều hình ảnh mà các cựu chiến binh Mỹ trao
cho ông Thắng để ông chuyển cho Bộ Chỉ huy Quân sự TP.HCM và cung cấp cho báo
giới có một chi tiết ít người để ý: Đó là khi chôn cất những liệt sĩ Việt Cộng,
quân đội Việt Nam Cộng hòa đã dựng bảng ghi rõ, đó là “Nơi an nghỉ của những
chiến sĩ lầm đường đêm Mùng 1 Tết Mậu Thân. Linh thiêng xin các bạn hãy giúp
cho xứ Việt Nam thân yêu của chúng ta mau thái bình” – những tấm bảng ấy chỉ bị
triệt hạ sau tháng 4 năm 1975. Ngoài việc bứng bỏ những tấm bảng ấy, phe ta đã
không làm gì cho những người đã đổ máu, xương để giúp phe ta giành chiến thắng.
Phớt lờ và “chia năm, xẻ bảy” là nguyên nhân chính khiến những thân nhân liệt
sĩ như bà Phái, ông Thắng ngậm ngùi. Nhiều người cha, người mẹ chết không nhắm
mắt. Trách nhiệm tìm kiếm thân nhân đã hi sinh cho công cuộc “giải phóng miền
Nam, thống nhất đất nước” được chuyển từ đời cha, sang đời con, với một số gia
đình, trách nhiệm đó đã được chuyển cho thế hệ… cháu!
Đợt cải táng những liệt sĩ Việt Cộng mất mạng hồi Tết Mậu
Thân 1968 khi tấn công vào phi trường Tân Sơn Nhất diễn ra vào năm 1995 – hai
mươi năm sau khi “giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước” và do một doanh
nghiệp nhà nước thực hiện khi cải tạo phi đạo của phi trường Tân Sơn Nhất.
Tình nghĩa của những người cộng sản vốn chỉ như thế nên chẳng
có gì là lạ khi năm ngoái, trong quá trình thực hiện hai đợt tìm kiếm – cải
táng hài cốt liệt sĩ Việt Cộng ở phi trường Tân Sơn Nhất, giải thích về những
khúc xương, di vật (áo, thắt lưng, ví da,…), Thiếu tướng Trần Hữu Tài - Phó Chủ
nhiệm Chính trị Quân khu 7 – giải thích gọn lỏn, nhẹ tênh, không một chút áy
náy, xấu hổ: Đó là những thứ còn… sót lại từ… đợt cải táng năm 1995!
Tình nghĩa của những người cộng sản vốn chỉ như thế nên chỉ ở
Việt Nam mới có những chuyện chẻ xương, cắt sọ liệt sĩ, chia một bộ hài cốt
thành hai, ba để tham nhũng chi phí cải táng như đã từng xảy ra hồi giữa thập
niên 1990 khi Đồng Nai quyết định di dời một nghĩa trang liệt sĩ để lấy đất
làm… chuyện khác!
***
Bà Phái, ông Thắng và những người đồng cảnh ngộ cứ tiếp tục
khắc khoải về chuyện an nghỉ của người thân, từng hy sinh trong kháng chiến chống
Pháp, kháng chiến chống Mỹ, cuộc chiến chống quân xâm lược Trung Quốc, cuộc chiến
chống chế độ diệt chủng của Polpot ở Campuchia. Tổng Bí thư Đảng CSVN, Chủ tịch
Quốc hội, Chủ tịch Nhà nước, Thủ tướng từ thời này sang tời khác cứ tiếp tục tổ
chức kỷ niệm những “buổi lễ cấp quốc gia” kiểu như “Bản hùng ca Xuân Mậu Thân
1968” mới diễn ra ở Sài Gòn.
Những “buổi lễ cấp quốc gia” kiểu đó không phải nhằm tri ân
mồ hôi, nước mắt, máu xương của nhiều cá nhân, nhiều gia đình, chúng chỉ nhằm
tô vẽ cho sự lãnh đạo “tài tình, sáng suốt” của Đảng CSVN và những “thắng lợi rực
rỡ” trong quá khứ được sử dụng như bằng chứng, chứng minh, tổ chức chính trị
này xứng đáng trong việc tiếp tục duy trì độc quyền lãnh đạo “toàn diện, tuyệt
đối” ở Việt Nam.
Đừng vội tính nợ nần mà hệ thống công quyền Việt Nam phải
gánh đối với “ngụy quyền”, “ngụy quân”, “ngụy dân”, nợ xương máu mà hệ thống
công quyền Việt Nam đã vay của các liệt sĩ và thân nhân của họ cũng được xếp
vào loại khó đòi.
Hồi tháng 11 năm ngoái, tướng Sùng Thìn Cò – Phó Tư lệnh
Quân khu 2 đồng thời là đại biểu của tỉnh Hà Giang tại Quốc hội khóa 14, bảo với
các đồng viện là còn khoảng 2.500 hài cốt liệt sĩ đang phơi mưa nắng tại hàng
chục cao điểm ở Hà Giang.
Tướng Cò không cung cấp chi tiết nhưng dựa vào diễn biến
xung đột vũ trang tại biên giới Việt – Trung, người ta tin rằng những liệt sĩ ấy
đã đền nợ nước trong các đợt phản công - tái chiếm, phòng vệ lãnh thổ giai đoạn
từ giữa năm 1980 đến đầu năm 1987 ở Hà Giang.
Lý do chính khiến cha mẹ nhiều liệt sĩ chờ cho tới chết vẫn
chưa nhận được hài cốt của con là vì… hệ thống công quyền Việt Nam chưa cấp tiền
để tìm kiếm, mang hài cốt của các liệt sĩ về nhà. Vào thời điểm ấy, tướng Cò khẳng
định với các đồng viện rằng chỉ cần cấp tiền cho Bộ Quốc phòng và Quân khu 2 một
lần thì trong hai năm 2018 và 2019, quân đội sẽ đưa hết toàn bộ hài cốt các liệt
sĩ về với gia đình, về với quê hương.
Không thấy báo chí Việt Nam tường thuật chủ trương của giới
lãnh đạo Đảng CSVN cũng như Quốc hội, chính phủ quyết định thế nào về đề nghị của
tướng Cò. Người ta chỉ thấy sau khi Ban Bí thư công bố chủ trương, chính phủ Việt
Nam đã phê duyệt và ráo riết thực hiện kế hoạch xây dựng một nghĩa trang diện
tích 120 héc ta, trị giá 1.400 tỉ để lãnh đạo cao cấp của Đảng “yên giấc ngàn
thu”.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét