1- “Đi cho biết đó biết đây/ Ở
nhà với mẹ, biết ngày nào khôn”. Lời ru ấy đã thấm sâu vào tiềm thức của bao
người và nó thôi thúc họ lên đường, khi đã đủ lông – đủ cánh. Trước, khám phá
thiên hạ – sau, mở mang đầu óc. Khoác tay nải lên vai và bước chân ra khỏi cửa,
họ giống nhau ở chỗ, đều mang thân phận lữ khách. Tuy vậy, trình độ và mục
đích, thiên hình – vạn trạng. Nào phải, ai cũng giống ai:
– Người khôn, như con ong mật: Mắt,
họ chỉ nhìn điều hay – tai, họ chỉ nghe lẽ phải. Tinh hoa của thiên hạ, được họ
tiếp thu và vận dụng một cách linh hoạt vào hoàn cảnh cụ thể của mình. Thế và lực
của họ, nhờ đó, hưng khởi.
Thiên hoàng Minh Trị – một minh
Quân của đất nước Mặt trời mọc, là 1 ví dụ. Không thỏa mãn với những thành tựu
mà Nhật bản đã có được, Ngài chủ trương cách tân và phóng tầm mắt, nhìn ra năm
châu – bốn bể. Sau đó, du nhập có chọn lọc, những tinh hoa kĩ thuật của phương
Tây. Cộng thêm, những ưu việt của nền Văn hóa khai phóng và nền Dân chủ tiến bộ
của nó. “Lượng đổi – chất đổi”. Những tiền đề đó, cộng với “nền Văn hóa đậm đà
bản sắc Dân tộc”, là điểm tựa vững chắc, đảm bảo cho Nhật bản không gục ngã,
ngay cả trong những lúc: Đất nước, tưởng chừng đã kiệt quệ sau hoang tàn của
chiến tranh hoặc sau những thảm họa kinh hoàng của Tự nhiên. Không những thế,
còn ngạo nghễ vươn lên và phát triển hùng cường – thịnh vượng, như ngày hôm
nay.
– Loại thứ 2, khôn ngang bò. Loại
này, dẫu có được dẫn sang tận La mã để gặm cỏ, khi trở về, chúng vẫn chỉ là những
con bò. Vô thưởng – vô phạt như thế, nhưng suy cho cùng, nó cũng chẳng làm hại
ai. Trái lại, ăn cỏ của thiên hạ, còn chuyển hóa được nó thành thịt và sữa. Sau
đó, hiến dâng những sản phẩm hữu ích đó, cho đời.
Viết đến đây, tự dưng chạnh lòng.
Chợt nhớ tới thân phận của những lao nô và đĩ điếm của thời hiện tại. Vì họ, mà
Cả Lú đã phải lao tâm – khổ tứ, suy nghĩ đến bạc cả lông đầu. Tam khoanh – tứ đốm,
vẫn không ngoài cái chuyện: xuất khẩu họ (một cách nói khoa trương – mĩ miều của
cái chuyện buôn người, ở thời @), đi đâu và cho thật nhiều. Để cuối cùng, y và
đám đồng đảng, ngồi dạng tè he ra, hả hê mà đếm những đồng Obama đẫm mồ hôi –
máu và nước mắt của họ.
– Những người CS, ngay từ “thế hệ
vàng F1”, đã không được như hai loại kể trên. Cuộc sống đói cơm – rách áo, khiến
họ phải tha phương cầu thực. Thân phận thấp hèn, để xuất dương, họ phải mang
tính mạng của mình ra, đặt cược. Người thì đi rửa bát trên tàu thủy – kẻ lại đến
quét tuyết ở Ba lê. Đêm đông giá lạnh, không có tiền, họ phải ngủ cùng “gạch nướng”,
ở những quán trọ tồi tàn (Lạy Thánh mớ bái, chỉ mong, đấy là những viên gạch thật,
làm bằng đất sét. Chứ không phải loại gạch, làm bằng xác thịt của những loài đĩ
bợm, nơi đầu đường – xó chợ). Đầu chày – đít thớt; vặt mũi – đút miệng. Chạy ăn
từng bữa, còn chẳng đủ. Tưởng, hơi đâu mà: “mơ thấy cưỡi rồng, lên thượng đế”.
Sự thực, không phải như thế. Chí của những vĩ nhân CS đời F1 vĩ đại hơn nhiều
và vượt quá sức tưởng tượng của đám đông dân chúng. Đũa mốc, nhưng họ vẫn cố
chòi mâm son. Bởi vậy, lạy lục – cạy cục, xin vào học ở những trường danh tiếng
của Mẫu quốc – nơi, chỉ “đào tạo tay sai cho chế độ Thực dân”. Trình độ và cả
văn hóa nữa, đều lùn. Hệ quả tất yếu, đơn từ của họ, sớm bị xếp vào cái tủ “Hồ
sơ lưu” và chờ được bạch hóa, vào thời điểm thích hợp.
Bị thế giới văn minh ruồng rẫy,
quẫn chí, họ đành chu du sang Nga la tư. Đập ngay vào mắt họ, là cái cảnh, bọn
cầm quyền ở đó, rặt một lũ vô lại. Phẩm chất nổi trội nhất của chúng: tham lam
– dốt nát – độc ác và cuồng tín. Thế mà, chỉ với cây súng và nhà tù trong tay,
thoắt cái, chúng đã trở thành ông chủ nô với quyền hành tuyệt đối. Chúng được độc
quyền Chân lý. Chúng được độc quyền cưỡng bức và mặc sức bóc lột dân chúng –
đám lao nô thời hiện đại. Không phải làm lụng vất vả, lũ dòi bọ ấy, vẫn được
vinh thân – phì gia. Ngẫm thấy, nó vô cùng thích hợp với mình. Bởi vậy, gắng
công nghiên cứu và học hỏi cái chủ thuyết CS. Đặng đem về và gieo rắc nó trên mảnh
đất quê hương.
Tầm nhìn hạn hẹp, đã thế, lại chỉ
nghĩ đến mình. Bởi vậy, họ không thấy được mặt trái của Chủ nghĩa CS. Cái thứ,
“chỉ là giấc mơ của vài người, nhưng là cơn ác mộng của tất cả nhân loại” –
Victor Huygo. Thậm chí, còn được diễn đạt một cách thậm tệ hơn, bởi một vị chân
tu: “Cộng Sản là loài cỏ dại, mọc trên hoang tàn của chiến tranh, là loài trùng
đôc, sinh sôi nẩy nở, trên rác rưởi của cuộc đời” – Đức Dalai Lama lãnh tụ tinh
thần của Phật giáo Tây Tạng.
Chủ thuyết Cộng sản, được sinh
ra, bởi băng đảng thảo khấu của bọn khủng bố – bởi lũ khát máu và bởi những kẻ
độc tài. Tất cả, đều ở đẳng cấp bệnh hoạn. Bản thân cái Lý thuyết “đấu tranh
giai cấp” hoang đường đó, đã đi ngược lại tất cả những quy luật của Tự nhiên và
Xã hội. Lẽ ra, nó chẳng thể có chỗ đứng trong Xã hội của loài người. Tuy vậy,
Lê nin và sau này, cả Stalin nữa, đã lần lượt đem nước Nga và một phần của Đông
Âu ra, để làm chuột bạch. Đi đến đâu, chúng gieo rắc kinh hoàng đến đó. Về mặt
này, tuy có cùng gốc S, nhưng IS và ngay cả cái tổ chức SS khét tiếng của nước
Đức Quốc xã, còn lâu mới bén được gót của CS.
Sức chịu đựng của con người, là
có giới hạn. Cuối cùng, chính những nạn nhân của chế độ CS, đã phải vùng lên. Họ
đã buộc phải ra tay và họ đã buộc phải lên tiếng. Bây giờ, chế độ CS đã tuyệt
chủng ở Châu Âu và đừng mơ, sẽ có ngày, nó được phục sinh tại đó.
Những thế hệ sau của những người
CS Việt nam, chẳng phải, đều là lũ cặn bã bỏ đi. Do đó, không thể nói, họ không
biết đến những điều đó. Chính vì biết rất rõ, nên chúng đã lặng lẽ quay đầu lại
với cái chủ nghĩa CS vô luân – vô thần. Xưa, họ kêu gào đánh đổ chế độ “người
bóc lột người”. Nay, chính chúng mở cửa, rước những ông chủ Tư bản vào. Để cùng
họ, bóc lột công nhân Việt nam. Sợ lợi nhuận khủng, còn chưa đủ đô, chúng nhẫn
tâm, mang “con gái Việt nam rất đẹp” ra, để mồi chài và khuyến mại.
Chúng đem cái chủ thuyết Mác – Lê
khốn nạn về Việt nam. Chúng bắt dân chúng phải thờ phụng và phải sống chung với
nó. Trong khi, gia đình – của cải – con cái và ngay cả bản thân chúng nữa, hoặc
cách li – hoặc tránh xa nó. Như, tránh hủi. Bằng chứng, những thứ quí giá nhất
đó của chúng, đều đã lần lượt được gửi đi tị nạn ở những nước Tư bản giãy chết.
Sự khốn khổ của Nhân dân Việt nam – sự tan hoang của Đất nước Việt nam, là vật
thế chấp cho cuộc sống xa hoa – phè phỡn của bè lũ chóp bu CS, ở nơi “Tây
phương cực lạc”. Ở đó, chúng hưởng thụ, ngay và luôn. Cần quái gì, phải đợi đến
thì tương lai – Cần quái gì, phải đợi đến chết, mới đến được cái xứ “Tây phương
cực lạc” (chắc gì đã có) của nhà Phật.
Thật là, tuyệt đỉnh của sự đểu
cáng và ác độc.
Truyền thuyết Việt, kể rằng: Kết
thúc quá trình lưu đày, Mai An Tiêm mang được giống Dưa hấu đỏ về cho quê
hương. Xóm làng, nhờ đó, mà sung túc. Chuyện của chàng, nhờ đó, mà truyền tụng
đến tận ngày nay. Ngược lại, những người CS, sau khi xuất dương, đã du nhập cái
chủ thuyết “đấu tranh giai cấp” đẫm máu về Việt nam. Sự kiện này, quả thật, đã
tạo ra một bước ngoặt vĩ đại – đã tạo ra một cơn địa chấn kinh hoàng trong Lịch
sử của Dân tộc. Nó, là nguyên nhân của mọi nguyên nhân – là căn nguyên của mọi
loại tội lỗi, dẫn đến sự băng hoại toàn diện về mọi mặt của Đất nước Việt nam
hiện nay.
Ra ngoài đường, ăn đến mòn cả bát
đĩa của thiên hạ, nhưng cái hay của họ, lại không học được. Cuối cùng, nhẹ thì
nói là, chỉ tha được phân – xúc được cứt của họ về và đổ vào giữa nhà của mình.
Nặng thì nói là, dắt được đám voi hoang về, để chúng “dày mả tổ”.
Đó là cách thứ nhất, mà những người
CS đã làm, để tri ân đất Mẹ và cũng là cách, mà chúng đã dùng, để báo hiếu cho
quê hương Việt nam.
2- Bây giờ, trừ những loại không
còn tim – óc, tuyệt đại đa số đảng viên và ngay cả ông Đảng trưởng Nguyễn Phú
Trọng, cũng đã nhìn ra chân tướng của Chủ nghĩa CS. Họ không còn niềm tin vào sự
thành công của nó nữa. Bằng chứng, chính là lời thú nhận một cách công khai của
ông Đảng trưởng: “đến hết thế kỉ này, chắc gì đã có chủ nghĩa xã hội hoàn thiện
ở Việt nam”. Ông ta, nói đúng. Nhưng, chưa đủ sức thuyết phục. Triết gia Trần Đức
Thảo, mới xứng đáng là bậc thầy của vấn đề này, khi chỉ ra gốc rễ của nó:
“Không có thứ lí luận biện chứng nào, có thể chứng minh rằng: một xã hội đầy
đen tối, đầy dối trá độc ác quỉ quyệt đầy hận thù tranh chấp đầy chia rẽ và
tham nhũng của hôm nay sẽ đẻ ra một thế giới đại đồng chân thật đoàn kết thương
yêu tốt đẹp trong tương lai”. Ngắn gọn và dễ hiểu, những lão nông quê tôi, dạy
con cháu: “Gieo cỏ dại xuống ruộng, đừng có mơ, sẽ thu hoạch được ở đó, cả một
cánh đồng lúa chín vàng”.
Không tin vào chủ thuyết CS,
nhưng Cả Trọng và đám đồng đảng, đâu có thể dễ dàng từ bỏ nó. Trái lại, phải cố
sống – cố chết, để duy trì và bám chặt lấy nó. Dễ hiểu, bởi rũ bỏ nó, lấy đâu
ra đặc quyền – lấy đâu ra đặc lợi. Hơn ai hết, chúng biết rất rõ: “Bỏ điều 4,
là tự sát”.
Nước lã, chẳng dễ trộn với dầu hỏa.
Đây, có thể nói, là một trong những nhiệm vụ bất khả thi của hệ thống Tuyên
giáo CS. Chúng chẳng có nhiều sự lựa chọn, ngoài chuyện nâng bi – thổi kèn và
tô son – trát phấn cho cái thây ma Cộng sản, đang trong quá trình phân hủy và
thối rữa.
Đầu tiên, chúng ngụy biện một
cách hết sức củ chuối rằng: Chủ nghĩa khủng bố CS, kết hợp với lòng yêu nước,
đã giúp Việt nam đánh Pháp – đuổi Mỹ và cuối cùng, đã giành được Độc lập.
Quả là, có cái chuyện đánh được
Pháp và đuổi được Mỹ. Nhưng, không có cái chuyện: “chúng ta làm chủ của mình, từ
đây”. Trước hết, hãy nghe lời thú nhận của Võ Văn Kiệt – một lãnh đạo chóp bu của
CS, qua xác nhận của tướng Trương Giang Long: “Khi nào mà đảng ta thực sự độc lập
về đường lối, thì bấy giờ, Đất nước có những chuyển biến tích cực” (video clip
bài nói chuyện này, từ thời điểm 10:15). Trên thực tế, Đất nước ta đã phụ thuộc
hoàn toàn vào Trung cộng. Phụ thuộc đến mức, không thể giãy ra được nữa. Từ
Chính trị – Kinh tế – Ngoại giao – An ninh – Quốc phòng…, cho tới Văn hóa và lối
sống. Chỉ xin, nêu một dẫn chứng: Khi Trung cộng tỏ ý không thích lập trường chống
họ một cách quá thái quá của Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch, ông này,
ngay lập tức, đã bị Đảng CS Việt nam cách chức và cho về vườn.
Sinh ra ở trên đời, từ cá nhân
cho tới Quốc gia, ai cũng có khát vọng vươn lên – ai cũng có khát vọng làm chủ.
Chuyện đó, thường tình. Ngặt nỗi, đâu có phải “muốn, là được”. Ối kẻ, không tài
giỏi – không có đầu óc tổ chức – không có vốn – không có mối quan hệ rộng…
nhưng vẫn không lượng được sức mình. Chúng vẫn liều lĩnh, tranh bá với thiên hạ.
Hậu quả, đau lòng. Bao nhiêu kẻ đâm đầu vào đá như thế – bấy nhiêu người, phải
nhảy lầu tự tử. Khi không đủ trình độ, để làm “thày của thằng dại”, người không
quá ngu, ắt phải chọn “thằng khôn”, để phò – để mà, được làm đầy tớ cho chúng.
Ảnh minh họa. Nguồn: internet
Đảng ta, à quên, Đảng CS, mặt ngay
– tay đờ và khôn hơn lợn. Họ thừa biết, với năng lực của mình, vĩnh viễn, họ
không thể tranh bá với thiên hạ. Muốn ngồi được lên đầu – lên cổ Dân tộc Việt,
bắt buộc, họ phải dẫn ngoại bang vào và chấp nhận thân phận làm tay sai cho
chúng. Có điều, họ không chịu làm đầy tớ cho thằng khôn. Họ đã bắt chúng ta, đổ
ra bao nhiêu máu xương và vô số tiền của. Mục đích, đuổi đi cho bằng được, 2 nền
Văn minh của nhân loại. Đó là, Pháp và Mỹ. Sau đó, chúng “sáng suốt”, quàng cái
xích chó vào cổ và tình nguyện, làm nô lệ. Trước, cho Quốc tế CS. Thông qua việc,
xin được làm tên lính xung kích – xin được làm, cái gọi là “tiền đồn của phe
XHCN”. Đồng nghĩa với việc: mang giang sơn gấm vóc Việt ra, làm bãi chiến trường.
Bây giờ, không thể rõ ràng hơn, đang xin nhận thân phận làm chư hầu, cho cái bọn
man di – mọi rợ Tàu cộng.
Một sự lựa chọn, không hề đại diện
cho ý chí và nguyện vọng của Dân tộc Việt nam.
Mang chủ thuyết “đấu tranh giai cấp”
ra làm phương tiện, để giành Độc lập. Cho dù, có thành công, thì đó cũng chỉ là
cách “dùng thuốc độc, để giải khát”.
Sinh thời, Hồ Chí Minh, đã từng
nói một câu rất chí lý: “Nếu nước Độc lập mà dân không hưởng Hạnh phúc – Tự do,
thì Độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”. Ngặt nỗi, ông và những truyền nhân của
mình, đến vế đầu còn chẳng thực hiện được, mong chi đến cái chuyện Hạnh phúc, với
lại Tự do. Tệ hơn nữa, thuốc độc Mác – Lê, đã ngấm sâu vào cơ thể và đã đến
lúc, nó phát tác dữ dội. Hậu quả, Thiên nhiên và cả Xã hội của chúng ta nữa, đã
bị băng hoại đến mức, khó mà có thể phục hồi.
Đó là cách thứ 2, mà những người
CS đã làm, để tri ân đất Mẹ và cũng là cách, mà chúng đã dùng, để báo hiếu cho
quê hương Việt nam.
3- Paul Doumer – Toàn quyền Đông
Dương, thời kì 1897 – 1902, trong cuốn hồi kí “Xứ Đông dương” của mình, đã đánh
giá rất cao về người Việt: “Người An nam, chắc chắn là tộc người ưu trội so với
các tộc người xung quanh. Người Cao miên, Ai lao và Xiêm la đều không thể chống
lại được họ. Không một quốc gia nào trong Đế quốc các xứ Ấn độ có những phẩm chất
như họ. Phải tới tận Nhật bản, mới có tộc người có phẩm chất của người An nam
và giống như người An nam. Người An nam và người Nhật bản, chắc chắn có mối
quan hệ thân tộc từ xa xưa. Cả hai, đều thông minh, cần cù và dũng cảm… So với
các dân tộc khác ở Châu Á, trên tư cách người thợ và người lính, người An nam,
vẫn xếp cao hơn một bậc”.
Cùng có phẩm chất ngang nhau vào
đầu thế kỉ XX. Nhưng người Nhật, được những người thông minh – có tâm hồn cao
thượng và giàu chất nhân văn lãnh đạo. Bởi thế, Dân tộc và Đất nước của họ,
vươn lên không ngừng. Ngược lại, người An nam, bị Đảng CS nô dịch. Cho nên, bị
“lưu manh hóa” và đã trở thành một lũ mọi rợ. Luật pháp, không còn. Thế vào đó,
là cái thứ Luật rừng của Đảng CS. Hệ quả tất yếu: Luân thường – đạo lý, bị đảo
lộn một cách hoàn toàn. Đồng tiền lên ngôi và thống trị Xã hội.
Dân tộc Việt, giờ đây, đã đánh mất
đi truyền thống “thương người như thể thương thân”. Họ chẳng còn thiết tha bao
dung – yêu thương và đùm bọc lẫn nhau nữa. Thoắt cái, tất cả đã bị biến thành một
lũ dối trá – đê tiện. Từ cái lời hiệu triệu: “Hãy tự cứu lấy mình, trước khi trời
cứu” của cựu Tổng Bí thư Nguyến Văn
Linh, cả Xã hội, giật mình bừng tỉnh. Phát pháo lệnh đó, đã châm ngòi cho sự hỗn
loạn và thói sống gấp. Ai cũng chỉ nghĩ đến mình và sống cho riêng mình. Trèo
lên đầu – lên cổ đồng loại để sống, cũng không từ. Ai cũng vô cảm – độc ác –
man rợ và rừng rú. Như cái thuở, còn mông muội và ăn lông – ở lỗ…
Tuy vậy, “trong họa – có phúc”.
Tiếng Việt của chúng ta, nhờ đó, mà trở thành ngôn ngữ Quốc tế. Đi đến đâu và ở
khắp hang cùng – ngõ hẻm của Thế giới, cũng gặp những biển cảnh báo, ghi bằng
tiếng Việt. Nội dung, “ăn cắp là phạm pháp và có thể bị phạt tù”. Không phải ngẫu
nhiên, mà Quốc tế ưu ái và chỉ cấp riêng cho chúng ta, những tấm “kim bài” đó.
Từ cái cô mũi hếch – mắt trắng dã Kiều Trinh, chuyên liến thoắng dạy Đạo đức
cho dân chúng trên đài Truyền hình Quốc gia, cho tới ông Đại sứ, thay mặt cho nước
nhà tại Hoa kỳ, ai cũng thạo nghề… “sáu ngón”.
Thực dân Pháp đến “khai hóa Văn
minh” ở Việt nam và họ đã đem đến cho xứ sở An Nam mít của chúng ta, một
bộ mặt rất văn minh và hiện đại. Sự văn minh và hiện đại ấy, đã và
đang theo đuổi chúng ta, cho đến tận bây giờ. Những thứ đó, không dễ gì,
có thể thay thế được. Trước hết, đó là những tuyệt tác kiến trúc. Tỷ như,
dinh Toàn quyền Đông dương – nhà hát lớn Hà nội – nhà thờ Đức bà Sài gòn – viện
Viễn đông bác cổ – cầu Long biên… Nhưng, có lẽ, đóng góp lớn nhất vẫn là:
sáng chế và truyền bá thành công chữ quốc ngữ, cho dân Việt. Ngoài ra, không thể
không kể thêm tới một hệ thống hạ tầng giao thông hoàn chỉnh – hiện đại, so với
khu vực Châu Á, thời bấy giờ. Hoàn chỉnh và hiện đại như thế, nhưng trên phạm
vi cả nước, bói không ra một trạm thu phí giao thông.
Hà nội đẹp, do được những con người
có tâm – có tầm, quy hoạch một cách khoa học và bài bản. Hà nội cũng rất hiện đại.
Bằng chứng, nó là thành phố đầu tiên ở Châu Á, được chiếu sáng bằng điện. Còn
Sài gòn, lung linh đến mức, được bạn bè Quốc tế, gọi nó là “Hòn Ngọc của Viễn
đông”.
Gần hơn nữa, vào những năm 60 của
thế kỉ trước, người Mỹ kéo quân tới miền Nam Việt nam. Sang thăm Sài gòn vào thời
kì đó và chứng kiến sự phát triển kì diệu của nó, Thủ tướng Lý Quang Diệu, đã
phải nuốt nước bọt, mà ao ước: “hy vọng, là một lúc nào đó, Singapore sẽ phát
triển giống như Sài Gòn”.
Bây giờ, sau khi đã dùng vũ lực để
cưỡng chiếm toàn bộ Việt nam: lũ quỷ đỏ, căn bản, đã “băm nát Hà nội” (lời thú
nhận của chính cái thằng lẻo mép Hứa Đức Chung). Hòn Ngọc của Viễn đông, thì bị
đập đến biến dạng và bị quăng xuống bùn. Căn bệnh kinh niên của nó: nhầy nhụa –
bẩn thỉu – lộn xộn – kẹt xe và tắc đường. Trên bình diện cả nước, sự vụ còn thê
thảm hơn nhiều: ngài IL Houng Lee – Trưởng cơ quan Đại diện IMF tại Hà nội, đã
từng rất “lạc quan”, về cái “triển vọng tươi sáng” của Việt nam. Ông ta, đã cặm
cụi tính toán và trên cơ sở đó, đã đưa ra những cái mốc thời gian: Ngay cả khi,
đã “chạy đến phọt cả cứt ra quần”, phải có thêm 18 năm nữa, Việt nam mới mong
đuổi kịp được Indonesia – mất 34 năm nữa, để đuổi kịp Thái Lan và nhanh thôi, mất
thêm197 năm nữa, sẽ sờ được vào cái “phao câu” của Singapore.
Thế giới, đã từng tổng kết: Người
Hàn, nhập sách của Nhật về, để dạy cho trẻ con nước họ: 20 năm sau, hóa Rồng.
Người Việt, nhập chủ nghĩa Mác – Lê về, để thờ: 87 năm sau, đội được đít của
thiên hạ.
Thú hóa con dân Đất Việt và kéo
lùi sự phát triển của Dân tộc. Đó là cách thứ 3, mà những người CS đã làm, để
tri ân đất Mẹ và cũng là cách, mà chúng đã dùng, để báo hiếu cho quê hương Việt
nam.
4- Mở đầu cho Bản Tuyên ngôn Độc
lập, khai sinh ra nước Việt nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã long
trọng tuyên hứa: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho
họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được
sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Ngay sau đó, để chứng tỏ cho cái
Chính nghĩa sáng ngời của mình, ông ta đã tuyên hứa tiếp: Sẽ đoạn tuyệt với bất
cứ thể chế Chính trị man rợ nào, nếu chúng đi ngược với quyền và lợi ích hợp pháp
của Nhân dân:
“Về chính trị, chúng tuyệt đối
không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào… Chúng thẳng tay chém giết những
người yêu nước thương nòi của ta… Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách
ngu dân. Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến xương tủy, khiến cho dân ta nghèo
nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều. Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ,
nguyên liệu. Chúng giữ độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng. Chúng đặt
ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn trở
nên bần cùng. Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên. Chúng bóc lột
công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn”.
Bây giờ, ngồi điểm lại, hết sức dễ
dàng thấy: Tất cả những lời nói đó, đã được đồng đảng của ông ta thực hiện một
cách đầy đủ – trọn vẹn và trên cả mức tuyệt vời. Những quyền tối thiểu của một
con người, cũng bị Đảng CS tước đoạt sạch. Dân chúng, có quyền ăn đồ ôi thiu và
độc hại của Tàu. Nhưng không có quyền mở mồm, để nói ra sự thực.
Đảng CS, đã thiết lập ở Việt nam,
một chế độ Độc tài. Ở đó, mọi quyền lợi và quyền lực của Đất nước, không còn
thuộc về Nhân dân. Nó cũng không thuộc về Đảng CS – một cái thứ, về thực chất,
chỉ đóng vai trò bung xung. Sự thực, tất cả những thứ đó, bị thâu tóm bởi một
nhóm nhỏ những ông trùm Mafia đỏ. Dĩ nhiên, vẫn theo nếp xưa, “cha truyền – con
nối”. Tất cả bọn chúng: được độc quyền Chân lý – được độc quyền lãnh đạo và được
độc quyền ban phát. Mọi nghị quyết của Đảng, do những thằng đần đưa ra, dù đúng
– dù sai, chẳng phải chỉ đảng viên, mà tất cả mọi người dân, đều phải có nghĩa
vụ và trách nhiệm, nhắm mắt mà thi hành.
Thằng mắt sáng, phải đi theo sự
chỉ dẫn của những thằng mù – những thằng, cả đời, chỉ biết có ăn và phá hoại.
Ăn một, chúng phá mười. Hậu quả, Dân tộc này, đi lạc lối. Nguyễn Phú Trọng, thằng
trốn nghĩa vụ Quân sự trong những năm gian khổ – ác liệt nhất của Chiến tranh,
giờ đây, ngoi lên làm Chính ủy của toàn Quân. Dưới sự lãnh đạo “toàn diện và
tuyệt đối” của cái thằng nhát chết đó, chúng ta bị Tàu cộng ép, như ép giò. Việt
Nam, rơi vào thế, mà sự tồn vong của Dân tộc, đang ở trong trạng thái “ngàn
cân, treo sợi tóc”.
Phân hóa giàu nghèo, cũng sắp đạt
đến mức cực đỉnh. Từ đó, kéo theo những hệ lụy không dễ giải quyết trong ngày một
– ngày hai. Bất công khủng khiếp trong Xã hội, cũng theo đó, mà phát sinh.
Tất cả tài nguyên của đất nước, từ
của nổi – cho đến của chìm, từ lâu, đã không còn thuộc về Nhân dân nữa. Tất cả,
đều bị băng nhóm Mafia đỏ đào bới – khai thác theo lối tận diệt. Dễ thấy nhất:
Rừng già, về cơ bản, đã bị chúng đốn sạch. Đất đai của Tổ quốc, chỗ thì chúng
tùy tiện sang nhượng cho ngoại bang – chỗ nào chưa thể, chúng đều dẫn ngoại
bang vào, tống cổ dân bản địa đi, để cho lũ kia thuê với cái giá rẻ mạt… Tất cả
những nguồn lợi đó, Đảng CS đã thâu tóm sạch, để chia chác cho nhau. Chúng
không cần, phải “hỏi ý kiến của Nhân dân” trên mọi lĩnh vực và chúng cũng không
hề cho người dân, được hưởng tí sái nào. Không những thế, chúng còn bày đặt ra
sưu cao – thuế nặng, khiến dân nghèo lụn bại. Đó, vẫn chưa phải là tận cùng của
sự tham lam và ác độc. Chúng còn đi vay vô tội vạ, với lãi suất cắt cổ của Quốc
tế về, để tiếp tục chia nhau và bổ đầu người dân, bắt họ phải gánh chịu.
Cái Chế độ mà Hồ Chí Minh đã cực
lực lên án và đả phá, buồn thay, lại chính là Chế độ CS. Trong cái chuyện tiên
tri, ai dám bảo: “Hồ Chí Minh, kém Trạng Trình?”.
Đánh đổ chế độ Thực dân – Phong
kiến thối nát. Thay vào đó, là một thể chế Độc tài, so độ thối nát và man rợ,
còn kinh khủng hơn nhiều.
Đó là cách thứ 4, mà những người
CS đã làm, để tri ân đất Mẹ và cũng là cách, mà chúng đã dùng, để báo hiếu cho
quê hương Việt nam.
…
5- Này, Phú Trọng!
Từ thời thượng cổ, người nước Nam
ta, chuộng cả “sư” lẫn “sĩ”. Cho đến tận bây giờ, vẫn vậy và không hề thay đổi.
Chưa ở đâu và chẳng bao giờ, trong các đền thờ – chùa chiền – miếu mạo, lại dựng
tượng và đi thờ một gã hoạn lợn thất đức hoặc cái thằng lâm tặc dâm dê. Lão biết,
chú không thuộc hai cái dạng kể trên. Trên cả “sư”, chú còn là “giáo sư” – trên
cả “sĩ”, chú còn là “tiến sĩ”. Cả đời, cái tăm, chú cũng không biết vót. Nghề
thạo nhất của chú, là cạo giấy. Lì đến mức, “mắt, thong manh – đít, thâm xì”. Sở
học, ắt thuộc hàng thượng thặng – Bản lĩnh, ắt thuộc dạng phi thường. Nghe cái
danh “sĩ phu Bắc hà” của chú, khác nào, bị đấm vào tai. À quên, như “sấm động
bên tai”. Lão già đây, ngưỡng mộ vô cùng. Cùng với nó, là nỗi khát khao, được
“mắt thấy – tay sờ” vào cái đại danh ấy. Để xem, hư – thực của nó, như thế nào.
Dịp may ấy, cuối cùng, rồi cũng tự
trên trời rơi xuống. Khi chính chú, chẳng biết có bị chập mạch hay không, mà ngứa
mồm và cho Võ Văn Thưởng – cái loại “vắt mũi còn chưa sạch”, mang loa đi rao khắp
làng trên – xóm dưới, đòi khiêu chiến với cả thiên hạ. Thấy lạ, lão cũng mon
men ra xem và có kí tên vào chiến thư của chú. Lão hẹn: “Ngày mai, quyết chiến”.
Xong xuôi, lão quay về lấy gậy và ra chiến địa, ngồi chờ. Ngày này, trôi qua –
tháng khác, lại gần. Chim trời, có nhìn – cá nước, có thấy – riêng chú, bặt
tăm. Chắc chú quên, chứ tầm như chú, sao lại có thể sợ lão Dân già đến mức,
“sun cả chim lại”, như thế.
Nếu chú quên, qua sứ giả
Internet, lão tái gửi thư tới chú. Nếu có giỏi, hãy phê vào đó và mang cái mớ
lí sự cùn Mác – Lê ra, mà thi đấu cho nó đàng hoàng. Đừng chỉ lèm bèm, đối thoại
mãi với mấy ông/bà già cổ hủ và sắp chui xuống lỗ trong các cuộc tiếp xúc với cử
tri nữa. Đừng nấp mãi trong đũng quần của mấy thím Công an nữa. Như thế, nhục
nhã thay, cho các đấng nam nhi và hổ danh thay, cho các “sĩ phu Bắc hà”. Nếu thấy,
vẫn chưa đủ tự tin, hãy xua thêm bọn đầu lâu – xương chéo của chú ra và dùng
phép “tiền pháo – hậu binh”. Trước, nhốt lão Dân già vào đồn và đánh cho lão ấy
mềm xương. Sau, mở phiên Tòa và kéo cả lò – cả ổ ra, để xem cái cách, mà lão
đây hạ nhục cả chú, lẫn cái thể chế Chính trị của chú. Thê thảm lắm, Trọng ạ:
Thứ nhất, cái thể chế Chính trị của
chú, đã lừa đảo và ăn cướp của lão Dân già. Nhân chứng – vật chứng, nhiều đến mức,
quá dư thừa. Từ cổ – chí kim, từ Đông – sang Tây, người ta đều phải gọi các
chú, là lũ tội phạm.
Là tổ chức tội phạm, liệu các chú
có dám bất chấp tất cả, để làm cái chuyện “chó leo bàn thờ”. Nghĩa là, ngồi vào
cái ghế Quan tòa, để xét xử nạn nhân?
Chuyện này mà lộ ra, nói thật, đến chó nó cũng không ngửi được. Nếu chú
ngửi được, đừng ngần ngại, hãy làm đi. Đó, là điểm yếu thứ 2 của các chú.
Thứ 3, với 2 nhân tố kể trên, khi
xử lão, các chú không thể đem cái thứ, mà nhân gian vẫn gọi là Luật pháp ra, để
sử dụng được. Bắt buôc, các chú phải dùng đến cái thứ, mà xưa – nay, các chú vẫn
giấu, “như mèo giấu cứt”. Đó chính là, Luật rừng của băng đảng CS. “Chính
nghĩa” của các chú, sẽ bị lão đây, cho “lộn mề gà”.
Cuối cùng, quan trọng nhất, người
đối diện và đối thoại với chú, bằng cấp chẳng đầy mình như chú. Nhưng cả lí luận
lẫn thực tiến, chắc dư sức, để nhấn chìm xuống bùn, cả chú lẫn cái đám đồng đảng
đểu của chú.
Đừng manh động và đừng có điên đến
mức, phải làm theo cái kịch bản đó, Trọng nhé. Hãy nâng lão Dân già, như nâng
trứng mỏng và hãy treo cổ bất cứ đứa nào muốn hại chú, thông qua việc, định sờ
“phao câu” của lão Dân già.
Lão đây hẹn và rất muốn: bình
tĩnh, ngồi đối thoại sòng phẳng với chú, về rất nhiều vấn đề. Trong đó, có cả
cái mớ tiền, mà các chú đã lừa đảo và ăn cướp của lão. Nuốt không trôi được
đâu, Trọng ạ. Bởi, lão đây, là Dân già. Lão không phải là Trịnh Văn Bô và cũng
không phải là Trịnh Vĩnh Bình. Bắt nạt và ăn cướp của lão, đâu có dễ. Nhớ cho
kĩ, điều đó.
Chào chú và lão sẽ chờ, để được đọc
bài phản biện của chú.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét