
“Một kẻ đáng nể”
Hitler trẻ hơn Stalin 11 tuổi, sinh năm 1889 ở một vùng biên
giới giữa hai nước Áo-Hung. Cha ông qua đời khi ông mới 13 tuổi và mẹ ông mất
năm ông lên 18. (Bác sĩ người Do Thái, người đã chăm sóc mẹ ông kể lại rằng
trong 40 năm hành nghề y của mình, ông chưa bao giờ thấy ai đau khổ về cái chết
của mẹ mình như Hitler.) Ở tuổi 20, Hitler phải xếp hàng đi xin bánh mỳ ở
Vienna, tài sản thừa kế và tiền tiết kiệm của ông đã gần cạn kiệt. Ông đã 2 lần
bị từ chối vào Học viện Mỹ thuật Vienna (“lý do bài vẽ hình theo mẫu không đáp ứng
yêu cầu”) và ông đã cư ngụ trong những nhà tạm cho người vô gia cư đằng sau một
ga xe lửa. Một người lang thang ở giường bên đã hồi tưởng lại rằng “quần áo của
Hitler toàn là chấy rận, bởi vì ông đã lang thang trong nhiều ngày ở ngoài đường
và trong tình trạng bẩn thỉu kinh khủng.”
Chẳng bao lâu sau, với một khoản vay nhỏ từ một người dì,
Hitler đã tìm được một nhà chung cư dành cho đàn ông. Ông cũng kiếm được những
công việc lặt vặt, như là vẽ hình trên bưu thiếp và phác thảo biển quảng cáo.
Ông cũng thường xuyên vào những thư viện công cộng của thành phố, nơi ông đọc
nhiều tiểu luận về chính trị, báo chí, về triết gia Arthur Schopenhauer, và tiểu
thuyết của Karl May, bộ truyện về những ngày đối đầu giữa những gã cao bồi và
người Da đỏ ở miền Tây nước Mỹ, hay về khu vực Cận Đông bí hiểm.
Hitler trốn lệnh nhập ngũ ở Áo. Khi bị chính quyền bắt, họ
cho rằng ông không đủ điều kiện sức khỏe và không phù hợp để tòng quân. Ông vượt
biên sang Munich, và vào tháng 8 năm 1914, ông tham gia quân đội Đức với cấp bậc
binh nhì. Khi Thế chiến I kết thúc, ông vẫn là binh nhì, nhưng những diễn biến
thời hậu thế chiến đã thay đổi cuộc đời ông. Ông nằm trong số những người chuyển
từ lực lượng chính trị cánh tả sang cánh hữu sau thất bại thảm hại của Đế quốc
Đức.
Những thước phim từ năm 1918 chiếu cảnh Hilter đang đi bộ
trong đám tang của một nhà lãnh đạo xứ Bavaria, một người Do Thái thuộc Đảng
Dân chủ Xã hội; ông mang hai băng tay, một cái màu đen (cho việc để tang) và một
cái màu đỏ. Vào tháng 4 năm 1919, sau khi Đảng Dân chủ Xã hội và những thành phần
vô chính phủ thành lập nhà nước Cộng hòa Xô-viết Bavaria, lực lượng cộng sản đã
nhanh chóng chiếm được chính quyền; Hitler đã suy nghĩ về việc tham gia Đảng
Dân chủ Xã hội, đóng vai trò là một đại biểu Xô-viết (hội đồng) của tiểu đoàn của
ông. Ông không có vai trò gì đáng kể nhưng có vẻ ông tham gia vào việc tuyên
truyền tư tưởng cánh tả cho binh lính. Mười ngày trước sinh nhật lần thứ 30 của
Hitler, nhà nước Cộng hòa Xô Viết Bavaria nhanh chóng bị nghiền nát bởi một lực
lượng gọi là Freikorps, thành phần chủ yếu là những cựu quân nhân thời chiến.
Hitler vẫn tại ngũ bởi vì một vị lãnh đạo cấp cao của bộ phận “thông tin” trong
quân đội Đức đã có ý định gửi ông vào một khóa học hướng dẫn chống cánh tả và
sau đó sử dụng ông để thâm nhập vào các nhóm cánh tả này. Viên sĩ quan đó kể lại
rằng Hitler “giống như một chú chó mệt mỏi và lạc lối, đang đi tìm chủ” và “sẵn
sàng phó mặc số phận cho người nào thể hiện sự chân thành tử tế đối với ông
ta.” Nhiệm vụ làm người lấy tin đã đưa Hitler tham gia vào một nhóm nhỏ cánh hữu
là Đảng Công nhân Đức, được thành lập để lôi kéo công nhân tránh xa chủ nghĩa cộng
sản và cũng chính Đảng này đã được Hitler, với sự giúp sức của lực lượng bài Do
Thái cực đoan di cư từ Đế quốc Nga cũ, chuyển đổi thành Đảng Công nhân Đức Quốc
gia Xã hội Chủ nghĩa, hay Đảng Quốc Xã (Nazi Party).
Mặc dù đã bắt đầu kiếm được một chút danh tiếng là một kẻ
kích động hữu khuynh cực đoan, Hitler vẫn là một nhân vật không quan trọng lắm.
Khi Stalin trở thành Tổng bí thư mới của Đảng cộng sản lãnh đạo một nhà nước lớn
nhất thế giới, Hitler vẫn đang bị tù giam sau nỗ lực đảo chính bất thành năm
1923 ở Munich, biến cố mà sau này bị chế nhạo là “cuộc đảo chính nhà hàng bia”.
Ông bị kết án 5 năm tù. Dù vậy, ông vẫn cố gắng biến bản án của mình thành thắng
lợi cuối cùng. Một trong những thẩm phán đã nhận xét rằng, “thật là một kẻ đáng
nể, tên Hitler này!” Thực vậy, mặc dù Hitler là công dân Áo, vị thẩm phán chủ tọa
vẫn cho phép ông ở lại Đức, với lý do là luật về trục xuất “không thể áp dụng
cho một con người có suy nghĩ và tình cảm giống người Đức như tên Hitler này, kẻ
đã tình nguyện phục vụ hơn 4 năm rưỡi trong quân đội Đức trong thời chiến, được
vinh danh bởi sự dũng cảm phi thường khi đối mặt với kẻ thù, và đã bị thương.”
Suốt 2 tuần đầu ở trong tù, Hitler đã tuyệt thực, vì tin rằng
ông xứng đáng được chết, nhưng những lá thư đã được gửi đến ca tụng ông như là
vị anh hùng dân tộc. Con dâu của Richard Wagner là Winifred, đã gửi bút và giấy
để động viên Hitler viết một quyển sách. Hitler có một phụ tá cùng ở tù, đó là
Rudolf Hess, người đã chép chính tả cho ông và tạo nên một cuốn tự truyện dành
tặng 16 thành viên Đảng Quốc Xã đã hi sinh trong cuộc đảo chính bất thành.
Trong cuốn “Mein Kampf” (Cuộc tranh đấu của tôi), Hitler mô tả bản thân như là
người được số phận lựa chọn và thề sẽ khôi phục địa vị cường quốc của Đức cũng
như quét sạch người Do Thái ra khỏi đất nước, và ông tự phong mình là “kẻ hủy
diệt chủ nghĩa Mác-xít.” Vào tháng 12 năm 1924, sau khi ngồi tù mới 13 tháng,
Hitler được thả. Nhưng quyển sách của ông có rất ít người mua, quyển thứ hai
cũng thất bại trong việc tìm kiếm nhà xuất bản, và Đảng Quốc Xã của ông cũng phải
vật lộn tại các hòm phiếu. Bá tước D’Abernon, đại sứ Anh ở Berlin thời điểm đó,
đã tóm tắt cuộc sống chính trị của Hitler sau khi ra tù sớm là “đang rơi dần
vào lãnh quên.”
Nhưng lịch sử chứa đựng nhiều bất ngờ. Việc nhân vật người
Áo này từ thành viên của một phong trào chính trị nhỏ lẻ đã trở thành một nhà độc
của Đức, và là đối thủ chính của Stalin, là điều mà không ai có thể tưởng tượng
được vào năm 1924. Nhưng Hitler hóa ra là một nhà hùng biện bậc thầy: thường
không chắc chắn, nhưng người đàn ông này sỡ hữu những ý tưởng cấp tiến và đánh
hơi được con đường cuối cùng ông sẽ đi cũng như nắm bắt được những cơ hội đến với
mình. Stalin cũng là một nhà chiến lược theo chiều hướng như vậy: một người với
những ý tưởng cấp tiến có thể nhận ra và nắm bắt những cơ hội mà ông không bao
giờ tạo ra nhưng lại biết cách biến chúng thành lợi thế của mình. Những cơ hội
quý giá nhất được Stalin và Hitler nắm bắt thường được xem là “những mối đe dọa”
khẩn cấp mà họ đã thổi phồng lên hay tự tạo ra. Lịch sử được dẫn dắt bởi sự
tương tác giữa địa-chính trị, các thể chế, và các ý tưởng – nhưng phải cần đến
những tác nhân của lịch sử để thúc đẩy những yếu tố này cùng chuyển động.
Kinh nghiệm của bản thân Stalin về nước Đức chỉ là một vài
tháng ở Berlin vào năm 1907, nơi ông dừng chân khi đang trên đường trở về Nga
sau một cuộc họp của Đảng Bolshevik ở London. Ông đã từng học tiếng Đức nhưng
không bao giờ thành thạo nó. Nhưng giống như những nhà cầm quyền trước của chế
độ Nga Hoàng, Stalin là một người sùng bái nước Đức, ngưỡng mộ hệ thống công
nghiệp và khoa học ở đất nước này chỉ với bằng một từ, đó là sự hiện đại của
nó. Nhưng trong một thời gian dài, Stalin không hề biết đến sự tồn tại của
Hitler.
Sau đó vào năm 1933, Hilter được chọn làm người lãnh đạo bộ
máy nhà nước vĩ đại mà Stalin hết sức ngưỡng mộ. Cuộc đời của hai nhà độc tài
này đã từng tồn tại song song với nhau, như nhà sử học Alan Bullock từng viết.
Nhưng chính điểm giao nhau giữa hai đường thẳng ấy mới có ý nghĩa quan trọng:
Hai người đàn ông đến từ bên lề xã hội của mình đều đã hồi sinh và tái tạo lại
đất nước mình một cách tàn bạo, rồi từ từ xích lại gần nhau một cách vô thức
(và sau đó là có ý thức). Hóa ra không chỉ có người Đức chờ đợi Hitler mà thôi.
Đối mặt
Vào thứ Bảy, ngày 21/06/1941, Stalin sải bước trong văn
phòng của ông ở điện Kremlin, với những bước đi ngắn thường thấy và tay cầm chặt
tẩu thuốc. Bên trong kiến trúc hình tam giác của điện Kremlin, tòa nhà Thượng
viện Đế chế chính là một pháo đài hình tam giác, và văn phòng của Stalin chính
là một pháo đài bên trong pháo đài đó. Thậm chí những cán bộ của chế độ với thẻ
ra vào điện Kremlin thông thường cũng phải cần giấy phép đặc biệt để đi vào khu
vực của Stalin. Nơi đó được những người bên trong của chế độ biết đến với cái
tên “Góc Nhỏ” (Little Corner). Tường văn phòng được lót bằng những bản gỗ cao
ngang vai, với ý tưởng rằng mùi gỗ giúp cải thiện chất lượng không khí, và những
chiếc thang máy được lát gỗ dái ngựa (mahogany). Phía sau bàn làm việc của
Stalin có treo chân dung của Lenin. Trên một góc bàn là một hộp trưng bày bên
trong chứa chiếc mặt nạ sáp hình khuôn mặt Lenin khi ông qua đời. Một cái bàn
nhỏ khác có gắn mấy chiếc điện thoại. (“Stalin”, ông sẽ trả lời như vậy khi bắt
điện thoại lên.) Bên cạnh cái bàn là một chiếc kệ có một cái bình đựng trái cây
tươi. Ở phía sau căn phòng có một cánh cửa dẫn đến phòng thư giãn (mặc dù căn
phòng này hiếm khi được sử dụng cho mục đích ấy), với những tấm bản đồ thế giới
to treo trên tường và một quả cầu khổng lồ. Ở căn phòng làm việc chính, nằm giữa
2 trong số 3 cánh cửa sổ lớn dùng để đón ánh nắng mặt trời vào buổi chiều là một
chiếc ghế da dài màu đen, nơi mà lúc có tâm trạng vui vẻ Stalin thường ngồi thưởng
thức trà chanh.
Trong suốt nhiều năm, những người được diện kiến ông thường
cho rằng ông đi lại trong phòng để kiểm soát tính khí nóng nảy của mình, hoặc để
làm bất an những người đang gặp ông. Lúc nào cũng vậy, ông luôn là người duy nhất
đứng trong phòng bước qua bước lại, dịch tới sát những người đang nói chuyện với
ông. Chỉ một ít người thân cận mới biết rằng Stalin chịu những cơn đau gần như
liên tục ở khớp chân, triệu chứng có thể do ảnh hưởng di truyền và việc di chuyển
sẽ giúp cơn đau phần nào được giảm bớt. Stalin cũng thường đi bộ quanh điện
Kremlin, thường là một mình, sờ vào những chiếc lá trên cây và đuổi những con
quạ đen bay đi. (Sau đó, lính canh sẽ đến và giết những con quạ đó.)
Stalin đã loại bỏ tư hữu và tự giao cho mình trách nhiệm
giám sát mọi thứ từ chính trị tới tài chính, điện ảnh…, và tất cả gộp lại thành
một, vào tay chỉ một người mà thôi. Ông phàn nàn về sự mệt mỏi, đặc biệt về cuối
những ngày dài làm việc, và ông cũng bị chứng mất ngủ, một tình trạng sức khỏe
mà công chúng không được biết đến. Chỉ một nhóm nhỏ những người trong nội bộ biết
về những căn bệnh nhiễm trùng gây ra những cơn sốt kéo dài của ông. Những lời đồn
đại về những vấn đề sức khỏe của ông đã lan truyền ra cả nước ngoài, và việc sử
dụng bác sĩ ngoại quốc từ lâu đã bị chấm dứt. Nhưng chỉ một số ít những bác sĩ ở
Nga có được những kiến thức chuyên sâu về bệnh lý cũng như tình trạng biến dạng
về cơ thể của ông, bao gồm việc ít khi sử dụng vai phải, tình trạng bạc màu của
những móng chân phải, và những ngón có màng bên bàn chân trái (trong truyền
thuyết dân gian Nga, đây làm một điềm báo về ảnh hưởng của quỷ Satan). Trong một
thời gian dài, Stalin không muốn gặp bất kì bác sĩ nào, và đã ngừng sử dụng thuốc
từ nhà thuốc ở điện Kremlin. Những người quản gia bị cấm mang bữa ăn cho ông từ
căng-tin của điện Kremlin, thay vào đó họ phải nấu bữa ăn từ nhà ông và phải nếm
thử thức ăn ngay trước mặt ông. Mặc dù vậy, Stalin vẫn bị đau bao tử nặng. Ông
thường xuyên phải hứng chịu những cơn tiêu chảy.
Tòa nhà Thượng viện Đế chế được xây dựng bởi nữ hoàng Nga gốc
Đức, Catherine Đại Đế, vì mục tiêu “vinh quang hóa Đế quốc Nga.” Vài thập niên
sau khi khánh thành, vào đầu mùa thu năm 1812, Napoleon cùng đội quân xâm lược
của ông kéo đến đây. Những thành viên trong Đại Quân Pháp (Grande Armée) – bao
gồm nhiều binh lính Tin Lành và Công giáo đến từ Đức, Ý, và Ba Lan – đã phóng uế
vào các nhà thờ Giáo hội chính thống của Kremlin và bắn vào các biểu tượng tôn
giáo. Sau khi sự chống cự khôn ngoan của người Nga đã làm cho lực lượng xâm
lăng phải khổ sở vì đói, trước khi rút quân, Napoleon đã ra lệnh phá nát điện
Kremlin thành từng mảnh. Những cơn mưa xối xả đã hạn chế được thiệt hại, nhưng
chất nổ đã phá hủy một số phần trên các bức tường và pháo đài. Sau đó tòa nhà
Thượng viện phải chịu một đám cháy lớn.
Đội quân canh gác có mặt dọc những hành lang dài được trải
thảm đỏ xung quanh Góc Nhỏ. “Xem thử có bao nhiêu lính canh ở đây?” Stalin hỏi
một viên chỉ huy quân đội. “Mỗi lần tôi đi qua hành lang này, tôi đều nghĩ, tên
này? Nếu là tên này, hắn ta sẽ bắn tôi từ phía sau, và nếu là một tên khác ở
sau góc rẽ kia, hắn sẽ bắn tôi từ phía trước.” Viên chỉ huy đó đã rất kinh ngạc
bởi sự hoang tưởng như vậy: rốt cuộc, chưa bao giờ có bất kì một âm mưu ám sát
thực sự nào nhắm vào Stalin. Nhưng “người đàn ông thép này” – “người sâu hơn cả
đại dương, cao hơn dãy Himalaya, sáng hơn cả vầng thái dương, người thầy của vũ
trụ,” theo lời của một nhà thơ người Kazakhstan – lại đang bị theo dõi từ xa.
Vào mùa hè của năm 1941, dường như rõ ràng là Hitler sẽ
giành chiến thắng trong Thế chiến II. Ông ta đã sáp nhập quê hương Áo của mình
vào Đức và cả những vùng đất của Czech, phần lớn Ba Lan, một dải đất của Litva,
tất cả tạo nên một nước Đại Đức mà vào năm 1871 Otto von Bismarck đã cố tình
tránh trong các cuộc chiến tranh thống nhất nước Đức (khi Bismarck cho rằng sự
tồn tại của Đế quốc Áo-Hung là cần thiết cho sự cân bằng quyền lực). Binh lính
của Hitler đã đánh chiếm được vùng Balkans, Đan Mạch, Hà Lan, Bỉ, Na-uy, và miền
bắc nước Pháp. Ngoài ra các nhà lãnh đạo trung thành với quốc trưởng Hitler
cũng đang cai trị các nước Bulgaria, Croatia, Phần Lan, Hungary, Ý, Romania, và
Tây Ban Nha. Hitler cơ bản đã kiểm soát được tất cả Châu Âu kéo dài từ eo biển
Anh ở phía Tây đến biên giới phía Đông với Liên Xô; chỉ hai nước Thụy Điển và
Thụy Sĩ vẫn còn giữ trạng thái trung lập, nhưng cả hai đều đang có hợp tác kinh
tế với nước Đức phát xít. Thật vậy, chỉ còn có người Anh cứng đầu là vẫn từ chối
chấp nhận thực tế mới, nhưng London không bao giờ có thể lật đổ được sự thống
trị lục địa Châu Âu của Berlin.
Stalin vẫn đang tuân thủ chặt chẽ hiệp ước bất tương xâm giữa
Đức và Liên Xô được ký vào tháng 8 năm 1939. Vào thời điểm đó, Hitler, người đã
quyết định xâm chiếm Ba Lan bằng vũ lực, cần ngăn cản khả năng thành lập một
liên minh chống Đức giữa Liên Xô, Pháp và Anh. Stalin đã đòi được những điều
khoản có lợi nhất. Khi đội quân của Hitler tung hoành khắp hầu hết lãnh thổ
Châu Âu, Stalin đã tránh được đối đầu với sức mạnh quân sự của Đức và lợi dụng
tình hình đó, Liên Xô còn xâm chiếm và sớm sáp nhập được các nước vùng Baltic,
đông Ba Lan, và các vùng Bukovina và Bessarabia thuộc Đông Âu. Hơn thế nữa,
thông qua việc trao đổi ngũ cốc và dầu, Stalin được nhận về các thiết bị máy
móc hiện đại và vũ khí tối tân từ Đức.
Việc thử nghiệm chính sách đối ngoại đầy rủi ro của Stalin
đã cho thấy rõ ông là một kẻ ranh mãnh, cũng như cơ hội, tham lam, và cứng rắn.
Chiến thuật của ông trước sau như một: chuẩn bị chiến tranh với việc xây dựng lực
lượng vũ trang ở quy mô lớn, tuy vậy phải làm tất cả có thể để tránh giao chiến
trong khi chờ Anh và Đức triệt tiêu lẫn nhau. Chiến lược này đã có tác dụng cho
đến khi Đức – nhờ nguồn cung cấp nguyên liệu thô dồi dào từ Liên Xô – đã chiếm
được Pháp vào mùa hè 1940, và lúc này Đức đã rảnh tay để hướng lực lượng của
mình về phía Liên Xô. Hai đối thủ về địa-chính trị và ý thức hệ, sau quá trình
bành trướng lãnh thổ của mình, đã đến lúc có chung đường biên giới.
Giờ đây, sau gần nửa năm lan tràn những tin đồn trái ngược về
khả năng xảy ra một cuộc xâm lược của Đức vào Liên Xô, các cảnh báo của lực lượng
tình báo về một cuộc chiến tranh khổng lồ sắp xảy ra đang đến từ mọi hướng. Ở
Moskva, các nhân viên tòa đại sứ Đức được lệnh di tản, tất bật thu nhặt những bức
tranh sơn dầu, các tấm thảm cổ, và bạc. Lực lượng cảnh sát mật của Liên Xô báo
cáo rằng tòa đại sứ quán của Ý cũng nhận được chỉ thị di tản. Đầu giờ sáng, một
đặc vụ Liên Xô ở Bulgaria báo cáo rằng một gián điệp Đức nói sẽ có “một cuộc đối
đầu quân sự được dự tính xảy ra vào ngày 21 hoặc 22 tháng 6.” Lãnh đạo cộng sản
Trung Quốc là Chu Ân Lai cũng báo tin cho các viên chức ở Comintern, một tổ chức
cộng sản quốc tế, rằng đối thủ Quốc dân đảng của ông là Tưởng Giới Thạch, “khẳng
định chắc chắn rằng Đức sẽ tấn công Liên Xô, và thậm chí còn đưa ra thời gian cụ
thể là ngày 21/06/1941!” Điều này đã thúc giục người đứng đầu Comintern gọi
ngay cho (Ngoại trưởng Liên Xô) Molotov. “Tình hình vẫn chưa rõ ràng,” Molotov
trả lời. “Một game lớn vẫn đang diễn ra. Và có những chuyện chúng ta không thể
tự quyết định được.”
(Còn tiếp)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét