Nền giáo dục phi nhân bản áp đặt lên hiện tại lẫn tương lai
với cái gông Marx-Lenin đã cho thấy quá rõ kết quả tồi tệ, nhưng sau bao nhiêu
năm, nó vẫn được “vận dụng” và “sáng tạo.”-Mạnh Kim
Có dịp trò chuyện với nhiều vị đồng hương, vừa từ
quê nhà sang California du lịch, tôi mới biết ra rằng mình đã “trở
thành” người Sài Gòn cũ. Lý do: có những người Sài Gòn mới, mới
đến sau 1975. Vùng đất nào cũng có kẻ đi, người tới. Tôi chỉ hơi
bối rối khi nghe họ nói thêm: “Ông mà về lại là đi lạc như không. Giờ
thay đổi hết trơn rồi, hoành tráng lắm!”
Trong trí nhớ xa xôi và trẻ dại của riêng tôi thì S.G
chưa bao giờ “hoành tráng lắm”, lúc nào cũng y như thế thôi. Cũng vẫn
chỉ là một đoạn đường rất ngắn, nằm giữa chùa Chà và vườn Tao
Đàn, được cắt ngang bởi hai con đường lớn: Nguyễn Du & Gia Long.
Nhà chị tôi số 69 Trương Công Định. Dù sinh ở Sài
Gòn, phần lớn thời gian tôi sống tại Đà Lạt. Tôi chỉ có mặt ở đây
vào những ngày hè, suốt thời thơ ấu và thời niên thiếu.
Tôi biết hết tên tuổi, cùng tính tình, của từng đứa
bé cùng lứa và cùng xóm. Chúng tôi tụ tập mỗi chiều để chơi tạt
lon, tạt hình, đá kiện, nhẩy dây, rượt bắt cứu tù, và lùng kiếm
tìm nhau (hằng đêm) sau khi tiếng “năm mười, mười lăm, hai mươi ...” vừa
chấm dứt.
Tôi cũng biết rõ độ chua ngọt của từng cây me trước
nhà, và danh tính của tất cả những người thợ hớt tóc đứng hành
nghề bên cạnh. Có hai ông Sáu lận nên tên gọi của họ được phân biệt
bởi phương tiện đi lại hằng ngày: Sáu Vespa và Sáu Mobillette.
Tôi gần với chú Vespa nhất, giản dị chỉ vì ông là
người không bao giờ lấy hết ba đồng công thợ. Chú Sáu luôn cho lại tôi
năm cắc, hay hào sảng xoé toạc tờ bạc một đồng rồi đưa tôi phân nửa.
Mừng hết lớn luôn. Số tiền này vừa vặn cho một
cuốn bò bía, một ly đá nhận, một que kem đậu xanh, một khúc mía
hấp, một đĩa gỏi đu đủ bò khô, hay một ly đậu đỏ bánh lọt nước
dừa.
Chỉ có điều phiền là chú Sáu hay nói hơi nhiều. Ông
không chú ý gì lắm đến công việc đang làm nên đầu tui cứ bị hớt gần
trọc hoài hà, ngó kỳ thấy bà luôn. Tuy tay cầm “tông đơ” nhưng mắt
chú Sáu luôn ngó xuống bàn cờ tướng của hai kỳ thủ đang bầy trận
gần đó, hoặc quay qua tranh luận với ông bạn đồng nghiệp (hay khách
hàng) ngồi kề. Ổng nói không ngừng
về những chuyện hoàn toàn xa lạ với đầu óc non nớt của một đứa
trẻ như tôi.
Phải mất rất nhiều năm tôi mới lờ mờ hiểu ra là
chú Sáu Vespa rất không bằng lòng về thể chế chính trị hiện hành.
Ổng luôn luôn thuyết phục mọi người (kể cả luôn tôi) rằng cần phải
có một chính phủ mới:
Rồi mày coi,
mấy ổng vô tới là sẽ thay đổi hết. Cách mạng mà!
Nhiệt tình cách mạng của chú Sáu Vespa, xem ra, không
được tất cả mọi người chia sẻ. Thỉnh thoảng, tôi vẫn nghe có người
gọi ổng bằng một danh hiệu khác: Sáu Việt Cộng. Thiên hạ cũng chỉ
thấy mặt đặt tên (cho vui) vậy thôi, chớ ở miền Nam – xem chừng – mọi
người đều sống rất lừng khừng và không mấy ai bận tâm về quan điểm
hay lập trường chính trị của tha nhân.
Đâu khác thì không biết, chớ ngay xóm tôi mà đi ngang
qua những bàn nhậu – kế bên, hay đối diện chùa Chà – mà nghe tiếng
chửi thề (“đ... mẹ Sáu Thiệu, hay đ... iữa mẹ Kỳ Râu) là chuyện rất
bình thường, chả khiến ai buồn ngoái đầu nhìn lại cả. Nhậu vô vài
ly rồi chửi chơi vài câu nào có chết ai đâu, miễn đừng đặt chất nổ
hay quăng lựu đạn gđám đông là “o.k salem” và “ça va tout.”
Miền Nam tự do mà. Có điều rõ ràng là vùng đất
này tự do hơi quá nên đủ khe hở để
“mấy ổng vô tới” thiệt. Trong đám đông dân chúng hân hoan phất
cờ, chào mừng đoàn quân giải phóng Sài Gòn – hôm 30 tháng 4 năm 1975 –
tôi đoán chắc chắn là phải có chú Sáu Vespa ... của mình rồi!
Niềm hân hoan này – tiếc thay – không mấy người giữ
được luôn, và cũng chả ai giữ được lâu. Năm 1978, tôi có dịp trở về
xóm cũ. Chú Sáu vẫn đứng hớt tóc ngay trân dưới gốc me ngày trước
nhưng cái Vespa thì không còn dựng kề bên. Thay vào đó là một cái xe
đạp cũ mèm. Ổng phân trần:
Tao bán rồi.
Không bán đi thì lấy cái gì ăn. Đ ...mẹ, tao đâu có dè tụi nó ...
Nói nhỏ nhỏ
lại chút xíu đi chú Sáu.
Nhỏ cái con
cặc. Đ...má, tao mà biết vậy thì hồi đó ...
Tôi vốn nhát, lại vừa mới tù ra [và hoàn toàn không
có ý muốn trở vô (liền) lần nữa] nên không dám đứng trò chuyện với
chú Sáu lâu, sợ có chuyện chẳng lành. Tôi lật đật biến liền, quên
luôn cả một cái bắt tay hay một lời từ biệt. Thiệt là hèn hết sức.
Bởi nhát và hèn nên trong số mấy anh chị em tôi là
đứa vượt biên đầu tiên hết thẩy. Vài năm sau, khi gia đình đoàn tụ,
trong lúc hàn huyên, tôi chợt nhớ đến chú Sáu Vespa. Chị tôi chép miệng:
Sau này ổng
uống dữ lắm, ngày nào cũng xỉn, và cũng chửi búa xua cà na nên bị
bắt lâu rồi.
Chị nghe ai nói
vậy?
Nghe ai? Công an
còng tay ngay tại gốc me kế nhà mình, tao thấy tận mắt mà. Tội
nghiệp chớ, vậy mà hồi đó có người còn nghi là ổng nằm vùng nữa
đó.
Chú Sáu có nói
với em là ổng không dè chị à.
Thì đâu có ai
dè là tụi nó tệ bạc và khốn nạn dữ vậy.
Chú Sáu Vespa, và bà chị tôi, không phải là những
kẻ đầu tiên “không dè” như vậy. Nhiều người thuộc thế hệ trước nữa
cũng “đâu có ai dè là tụi nó tệ bạc và khốn nạn dữ vậy” – theo như
lời của một chứng nhân thế giá, nhà báo Bùi Tín, trong một cuộc
phỏng vấn do thông tín viên Kính Hoà (RFA) thực hiện:
“Cha tôi lúc đó không hiểu gì nhiều về chủ nghĩa cộng sản
đâu. Sau này nghĩ lại thì cũng có thể nói rằng cha tôi bị ông Hồ Chí Minh lừa dối.
Lừa dối theo cái nghĩa là ông Hồ Chí Minh giấu rất kỹ tung tích cộng sản của
mình. Cũng được hưởng vinh danh, cũng được sử dụng lại với chính quyền mới,
nhưng về cơ bản là bị tuyên truyền, bị lợi dụng, có thể nói là bị lừa dối, tưởng
đâu họ là chính nghĩa lâu dài, nhưng không ngờ khi nắm chính quyền, thì họ càng
tha hóa, mất cái bản chất nhân dân.”
Nhân sĩ trí thức như cụ Bùi Bằng Đoàn, Huỳnh Thúc
Kháng, Vũ Trọng Khánh, Trần Duy Hưng, Hoàng Đạo Thuý, Đặng Văn Hướng
mà “về cơ bản là bị tuyên truyền, bị lợi dụng, có thể nói là bị
lừa dối” thì trách chi đến một ông thợ hớt tóc – như chú Sáu Vespa.
Dạ thì nẫy giờ tui cũng có trách dám trách móc ai
đâu. Chuyện cũng qua rồi mà. Nói nào ngay thì tui cũng đã xém quên
luôn chú Sáu Vespa, nếu bữa rồi không (tình cờ ) đọc được đọc một
bản tin ngắn – trên trang Vietnamnet – về bà Đàm Thị Thủy:
“Hiệu trưởng Trường ĐH Fulbright Việt Nam, bà Đàm Bích Thuỷ,
cho biết sẽ dạy các môn Chủ nghĩa Marx-Lenin và Tư tưởng Hồ Chí Minh khác biệt
so với các trường đang dạy hiện nay... Đối với môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, theo
bà Thuỷ, tư tưởng Hồ Chí Minh cũng là một phần trong lịch sử Việt Nam, nếu là
người Việt Nam, chúng ta nên tự hào về giai đoạn lịch sử đó.”
Bà Thuỷ, tất nhiên, có quyền “tự hào về giai đoạn
lịch sử” (nào đó) bất cứ. Đó là quan điểm riêng của từng người. Tuy
nhiên, ở cương vị Hiệu trưởng Đại Học Fulbright – một trường đại học tư
ở VN – được tài trợ bởi chính phủ Hoa Kỳ, nghĩa là bằng một phần
tiền thuế mà tôi đóng hằng năm nên buộc phải có đôi lời để rộng
đường dư luận.
Dù tuyệt đối tôn trọng qui chế đại học tự trị, và
chủ trương giáo dục tự do, tôi vẫn băn khoăn ở điểm là làm sao có
thể mở lớp giảng dậy về “môn tư tưởng Hồ Chí minh” khi chính đương
sự đã tự xác nhận rằng: “Tôi chẳng có tư tưởng gì ngoài tư tưởng
chủ nghĩa Mác –Lê.” Hay: “Bác tự nhận mình chỉ nêu ra được tác phong,
còn tư tưởng lý luận thì để cho Mao Chủ tịch.”
Không lẽ qúi vị trong ban giảng huấn của Trường Đại
Học Fulbright định dùng bạc giả? Nhân nói việc học hành, tôi chợt
nhớ đến một câu chuyện tiếu lâm (ngăn ngắn) vừa đọc bữa qua, trên
trang Bauxite Việt Nam:
Kolia đến trường khoe với cô giáo:
- Cô ơi, tối qua mèo nhà em đẻ một bầy 7 con, con nào cũng
là đảng viên cộng sản!
Bẵng đi mấy tuần, một hôm sực nhớ, cô giáo hỏi cậu bé:
- Này, Kolia, đàn mèo cộng sản nhà em thế nào rồi?
- Thưa cô, giờ chúng không còn là cộng sản nữa ạ.
- Sao vậy?
- Chúng mở mắt hết rồi!
Tôi có xem qua sự nghiệp của bà Đàm Bích Thủy. Bả
lanh còn hơn tép nữa. Dễ gì mà bị mắt hay lợi dụng, như chú Sáu
Vespa, hồi thế kỷ rồi. Chỉ có chuyện là mấy ông Marx, Lenin, và Hồ
Chí Minh bị bà Thủy lợi dụng để “đảm bảo” cho cái chức vụ hiệu
trưởng, cùng tài sản (chìm nổi) của mình ở Việt Nam thôi – đúng
không?
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét