Kỷ niệm 2 tháng Chín, 1966 tại Hà Nội. Bìa phải là ông Hồ Chí Minh.
Tháng 8 năm 1945, là một tháng có
nhiều biến cố trên chính trường Việt Nam, tạo một khúc quanh quan trọng đối với
vận mệnh dân tộc và đất nước Việt Nam chúng ta.
I. TỪ BIẾN CỐ THÁNG 8 NĂM 1945.
Tháng 8 năm 1945 đảng Cộng sản Việt
Nam (CSVN) đã lợi dụng thời cơ cướp chính quyền từ tay chính quyền chính thống
quốc gia, với chính phủ Trần Trọng Kim mới tiếp nhận độc lập từ tay Nhật, ép của
Vua Bảo Đại thoái vị. Việt Minh cộng sản gọi cuộc cướp chính quyền không đổ máu
này là “Cách mạng Tháng 8” như là cuộc “Cách mạng Tháng 10 Nga” của đảng cộng sản
Bolsevick Nga lật đổ chế độ Nga Hoàng cướp chính quyền năm 1917. Nhưng người Việt
quốc gia chỉ coi là một “Biến cố lịch sử” và có lẽ chính sử dân tộc sau này
(khác với lịch sử do đảng CSVN viết) cũng sẽ viết khách quan với tiêu đề “Việt
Minh cộng sản cướp chính quyềnTháng 8 Năm 1945”, đã đưa Việt Nam vào một khúc
quanh mới đầy bất trắc và di hại nhiều mặt cho dân tộc và đất nước.
Thật vậy, trong Thế Chiến II
(1939-1945) Việt Nam cũng không thoát khỏi tham vọng xâm lăng của quân phiệt Nhật
thuộc Phe Trục (gồm Ðức, Ý, Nhật), đối đầu với phe Ðồng Minh (gồm Mỹ, Anh,
Pháp, Nga). Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp, chính phủ thân Nhật
Trần Trọng Kim được thành lập, tạm thời chấm dứt hơn 80 năm đô hộ của thực dân
Pháp trên nguyên tắc; nhưng thực tế lại rơi vào thế kìm kẹp của quân phiệt Nhật,
với chủ nghĩa Ðại Ðông Á và khẩu hiệu tuyên truyền lừa mị ‘‘Châu Á của người Á
Châu’’.
Sau khi hai trái bom nguyên tử Mỹ
ném xuống hai thành phố Hiroshima và Nagasaki ngày 13 tháng 8 năm 1945, đã đưa
đến sự đầu hàng đồng minh vô điều kiện của quân phiệt Nhật, kéo theo sự tồn tại
bấp bênh của chính phủ Trần Trọng Kim được thành lập trước đó 4 tháng. Tình
hình lúc này, theo sử gia Phạm Văn Sơn, thì tại Bắc Việt hai lực lượng cách mạng
quốc gia và cộng Sản tranh nhau nắm chính quyền.
Một bên là “Ðại Việt Quốc Gia Liên
Minh, một mặt trận quốc gia gồm nhiều đảng phái và quan trọng hơn cả là Việt
Nam Quốc Dân Ðảng và Ðại Việt Quốc Xã của các ông Nhượng Tống, Nguyễn Ngọc Sơn,
Nguyễn Xuân Tiếu.....” .
Bên kia là “Mặt Trận Việt Minh do
các lãnh tụ Ðông Dương Cộng Sản đảng là Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp điều khiển.
Dân chúng hướng cả về các lực lượng và trong khi Việt Nam như là cái nhà bỏ ngỏ,
dĩ nhiên ai vào trước thì người ấy làm chủ. Việt Minh nhờ có nhiều kỹ thuật đấu
tranh cách mạng và thủ đoạn sâu sắc, đã đi bước trước giành được chính quyền,
sau khi tổ chức được nhiều cuộc biểu tình cổ động quần chúng từ ngày 15 tháng 8
năm 1945 đến ngày 19 tháng 8 năm 1945, nắm được hậu thuẫn của các tầng lớp dân
chúng…’’.
Hồ Chí Minh và đảng CSVN đã lợi dụng
tình hình tranh tối tranh sáng, cướp chính quyền vào ngày 15 tháng 8, nhờ thủ
thuật tuyên truyền lừa mị và kinh nghiệm đấu tranh lật đổ, nên đã huy động được
sức mạnh của công chức và quần chúng trong một cuộc biểu tình trước Nhà Hát Lớn
Hà Nội; nên thay vì để ủng hộ chính phủ quốc gia Trần Trọng Kim mới được Nhật
trao trả độc lập trên nguyên tắc, thì thực tế đã biến thành cuộc biểu tình ủng
hộ Mặt Trận Việt Minh (tên việt tắt Mặt trận Việt Nam Độc lập Đồng minh hội, một
tổ chức do đảng CSVN lập ra làm mặt nạ ẩn mình) cướp chính quyền. Sau đó, Việt
Minh cộng sản tiếp tục tổ chức các cuộc biểu tình tương tự, từ ngày 15 tháng 8
đến ngày 19-8 năm 1945, cướp chính quyền ở nhiều nơi trên cả nước.
Ngày 25 tháng 8 năm 1945, vua Bảo
Ðại, vị vua cuối cùng của triều đại quân chủ chuyên chế Việt Nam, dưới áp lực của
Việt Minh đã tuyên bố thoái vị, và một chính phủ lâm thời liên hiệp Quốc-Cộng
do Hồ Chí Minh làm Chủ Tịch, ra mắt quốc dân ngày 2 tháng 9, với bản tuyên ngôn
độc lập thành lập nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Ðây là một sự liên hiệp bất đắc
dĩ về phía Việt quốc (gọi tắt phe người Việt quốc gia) do tình thế chẳng đặng đừng.
Trong khi về phía Việt Minh cộng sản việc thành lập chính phủ liên hiệp chỉ là
thủ đoạn chính trị có tính giai đoạn, khi họ còn yếu kém thế lực, chưa đủ uy
tín quốc tế và để có thêm thời gian củng cố thế lực đủ mạnh sẽ quay lại tiêu diệt
các chính đảng và các nhà ái quốc theo ý thức hệ quốc gia. Trong thời khoảng
này, sử gia Phạm Văn Sơn đã ghi nhận:
‘‘Các đảng phái quốc gia đối với
cuộc chuyển biến chính trị này và nội các Trần Trọng Kim đều có vẻ dè dặt, nhất
là đối với người Nhật tuy vẫn có sự giao thiệp công khai với họ. Riêng mặt trận
Việt Minh là hoạt động hơn cả. Họ tuyên truyền ầm ĩ trong dân chúng, ám sát một
số mật thám của chính phủ Pháp và tung ra khẩu hiệu ‘‘Ðánh Nhật đuổi Pháp’’. Giữa
lúc này dân chúng Việt Nam đã bắt đầu đánh nhiều dấu hỏi về nền độc lập vừa trao
cho họ trước sự lủng củng giữa chính phủ Trần và Ðại Bản Doanh Thiên Hoàng sau
khi đã xẩy ra một vài việc bất đồng ý kiến…’’.
Có thể nói đây là thời kỳ xung đột
quyết liệt và đẫm máu nhất trong giai đoạn tiền chiến tranh Quốc-Cộng
(1930-1954) giữa các chính đảng quốc gia với đảng CSVN, để giành quyền chủ đạo
kháng chiến chống Pháp. Thời kỳ này đảng CSVN còn rất yếu kém so với lực lượng
các chính đảng quốc gia, nên lãnh tụ CS Hồ Chí Minh đành phải chấp nhận thành lập
một chính phủ liên hiệp Quốc-Cộng. Ông Hồ Chí Minh nắm chức Chủ Tịch Chính Phủ
Lâm Thời, ông Nguyễn Hải Thần được cử làm Phó Chủ Tịch, ông Nguyễn Tường Tam (tức
nhà văn Nhất Linh) giữ chức Bộ Trưởng Ngoại Giao, Trương Ðình Tri làm Bộ Trưởng
Y Tế, Chu Bá Phượng coi Bộ Kinh Tế. Còn các Bộ quan trọng khác như Quốc Phòng,
Nội Vụ, Thông Tin do phía Việt Minh nắm giữ.
Trong Quốc hội liên hiệp hình
thành sau đó vào đầu năm 1946, Việt Nam Quốc Dân Ðảng và các đảng phái quốc
gia, kể cả Ðồng Minh Hội chỉ giữ 70 ghế trong cuộc bầu cử ngày 6 tháng 1 năm 1946
do Việt Minh cộng sản đạo diễn. Theo nhận định của sử gia Phạm Văn Sơn, thì đây
chỉ là một cuộc hợp tác bất đắc dĩ về phía Việt Minh, để Hồ Chí Minh dễ dàng ký
kết Hiệp Ðịnh Sơ Bộ Ngày 6 Tháng 3 Năm 1946 với Pháp, như là kế hoãn binh để có
thời gian củng cố uy thế quay lại tiêu diệt các chính đảng quốc gia và những
nhà ái quốc Việt Nam không tuân phục Việt Minh.
Ðể củng cố uy thế về mặt cơ chế tổ
chức chính quyền, ngày 27-5-1946, Hồ Chí Minh cho thành lập Tổng Liên Ðoàn Lao
Ðộng Việt Nam để nắm giai cấp công nhân. Ngày 29-5-1946 thành lập Hội Liên Hiệp
Quốc Dân Việt Nam, tức Mặt Trận Liên Việt, tiền thân của Mặt Trận Tổ Quốc Việt
Nam, một tổ chức ngoại vi của Ðảng CSVN để nắm các đoàn thể quần chúng. Ngày
11-8-1946 Việt Minh cho thành lập đảng Xã Hội Việt Nam, sau đó là đảng Dân chủ
Việt Nam để trang trí bộ mặt dân chủ giả hiệu cho một chế độ thực chất là độc
tài đảng trị phản dân chủ. Mặt khác, để tiêu diệt các đảng phái quốc gia trên
bình diện pháp lý, ngày 5-9-1946 Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh giải tán các tổ chức
gọi là tay sai Nhật như Ðại Việt Quốc Gia Xã Hội Đảng, Ðại Việt Quốc Dân Ðảng.
Một sắc lệnh khác ngày 12-9-1946 giải tán Việt Nam Hưng Quốc Thanh Niên và Việt
Nam Ái Quốc Hội. Phản ánh ý đồ đen tối của Việt Minh, cuốn ‘‘Lịch sử Việt Nam
(1945-1975)’’ do nhà xuất bản Giáo Dục Việt cộng ấn hành năm 1987 đã viết:
“Những năm 1945, 1946 tình hình
chính trị trong nước rất phức tạp nên ngoài việc trấn áp bọn phản cách mạng,
Chính Phủ Lâm Thời cũng có biện pháp tạm thời thỏa hiệp, đưa một vài đại diện của
Việt Nam Quốc Dân Ðảng, Việt Nam Cách Mạng Ðồng Chí Hội như Nguyễn Hải Thần,
Nguyễn Tường Tam, Trương Ðình Tri tham gia vào chính phủ lâm thời…’’.
Quả đúng như nhận định của sử gia
Phạm Văn Sơn, ngay sau khi ký được Hiệp Ước Sơ Bộ ngày 6-3-1946, Việt Minh liền
dốc toàn lực tiêu diệt Việt Nam Quốc Dân Đảng và các đảng phái quốc gia khác. Bởi
vì Hiệp Ước Sơ Bộ này chỉ có lợi cho hai phe thực dân Pháp và Việt Minh (mặt nạ
của cộng đảng Việt Nam), nhưng hoàn toàn bất lợi cho người Việt quốc gia.
Đối với Việt Minh cộng sản nhờ Hiệp
Ðịnh Sơ Bộ Mùng 6 tháng 3, đã loại được quân Tàu của Thống chế Tưởng Giới Thạch,
lãnh tụ Quốc Dân Đảng Trung Hoa, vốn hậu thuẫn cho Việt Nam Quốc Dân Ðảng và
các đảng phái quốc gia. Đồng thời cũng giúp Việt Minh có thêm thời gian củng cố
được thế chính quyền để tiêu diệt phe quốc gia; bất động được các nước đồng
minh vì đã thừa nhận chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Hồ Chí
Minh cầm đầu.
Ðối với thực dân Pháp thì toan
tính, nhờ Hiệp Ðịnh Sơ Bộ, Pháp đưa quân vào được Bắc Việt và giúp cho Việt
Minh cộng sản thành lập được chính phủ, thì sau này Trung Hoa và Mỹ sẽ không
còn lý do can thiệp vào Việt Nam. Bởi Pháp chủ quan tin rằng với ưu thế quân sự
có thể đè bẹp được Việt Minh trong ít tháng sau đó. Với Hiệp Ðịnh Sơ Bộ, Việt
Nam nằm trong khuôn khổ Liên Hiệp Pháp, người Pháp nghĩ rằng họ sẽ uy hiếp được
Việt Minh. Do đó, thực tế ngay lúc đó, Pháp đã có hành động hợp tác với Việt
Minh để cùng tiêu diệt phe quốc gia một cách tận tình. Bởi vì phe quốc gia vốn
là thù nghịch cố hữu của Pháp, trước khi có thêm thù nghịch với Việt Minh cộng
sản.
Chính vì những lợi ích vừa kể,
theo sự tính toán của Pháp, mà Pháp đã đồng tình với Việt Minh, thu xếp cho phe
quốc gia cùng ký vào Hiệp Ðịnh Sơ Bộ Mùng 6 tháng 3 năm 1946, để tránh sự phiền
phức với đồng minh, là Pháp có thể bị coi là đã hợp tác với một chính phủ cộng
sản. Vì hiểu dụng ý trên đây của thực dân Pháp và Việt Minh, nên hai ông Nguyễn
Hải Thần và Nguyễn Tường Tam đã kịp lánh mặt vượt thoát qua Tàu. Ông Vũ Hồng
Khanh, một trong những lãnh tụ hàng đầu Việt Nam Quốc Dân Ðảng còn ở lại trong
nước, đã ký tên vào Hiệp ước Sơ bộ, để rồi phải gánh chịu trách nhiệm trước lịch
sử, trước quốc dân và trước chính đảng của Ông. Theo nhận định của sử gia Phạm
Văn Sơn, thì “Sơ Ước 6-3 thành tựu đã là cái hố chôn vùi sự nghiệp của những
người quốc gia ở đây và làm đảo lộn cả tình thế chính trị đang có lợi chung…’’.
Sau khi tiêu diệt được phe quốc
gia, Việt Minh cộng sản đã độc chiếm chính phủ lâm thời, phát động và chủ đạo
tiến hành cuộc kháng chiến 9 năm cuối cùng chống thực dân Pháp sau đó
(1945-1954).
II. ĐẾN CUỘC KHÁNG CHIẾN CUỐI CÙNG
CHỐNG THỰC DÂN PHÁP (1946-1954)
Lịch sử kháng chiến chống thực dân
Pháp giành độc lập dân tộc của nhân dân Việt Nam gắn liền với từng bước chân của
quân xâm lược Pháp. Từ những ngày đầu khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, các
cuộc kháng chiến của mọi tầng lớp nhân dân Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của các
sĩ phu yêu nước mang ý thức hệ quốc gia, đã liên tục nổ ra ở nhiều nơi.
Năm 1930 đảng Cộng sản Việt Nam
(CSVN) do Ông Hồ Chí Minh đứng ra thành lập ở Hong-Kong Trung quốc, theo lệnh của
Đệ tam quốc tế cộng sản. Từ đó, trong cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, có thêm
lực lượng kháng chiến chống Pháp do đảng CSVN lãnh đạo, nhưng khác ý đồ. Người
Việt quốc gia kháng chiến chống Pháp để giành độc lập dân tộc. Việt Minh cộng sản
chống Pháp giành độc lập dân tộc chỉ là chiêu bài “ngụy dân tộc” để đạt mục
tiêu giai đoạn cướp chính quyền, tiến đến mục tiêu tối hậu cộng sản hóa Việt
Nam (*). Vì thế từ đó dẫn đến sự xung đột ý thức hệ giữa các nhà lãnh đạo kháng
chiến chống Pháp mang ý thức hệ quốc gia và ý thức hệ cộng sản. Để lôi kéo quần
chúng tham gia kháng chiến dưới sự chủ đạo của mình, hai bên Quốc-Cộng đã tuyên
truyền chống phá lẫn nhau ngày một lan rộng trong nhân dân biến cuộc xung đột ý
thức hệ cục bộ trong hàng ngũ lãnh đạo kháng chiến thành cuộc nội chiến ý thức
hệ toàn bộ giữa người Việt Nam theo ý thức hệ quốc gia (gọi tắt là Việt Quốc)
và người Việt Nam theo ý thức hệ cộng sản(gọi tắt là Việt Cộng). Trong 9 năm cuối
cùng của cuộc kháng chiến chống Pháp giành độc lập dân tộc, đảng CSVN đã loại
trừ được vai trò lãnh đạo của các nhà ái quốc và các chính đảng quốc gia, dành
quyền chủ đạo kháng chiến khởi đi từ biến cố Tháng 8 năm 1945.
Thật vậy, sau khi ký được Hiệp Ðịnh
Sơ Bộ ngày 6-3-1946 với Pháp, Việt Minh đã thực hiện chính sách hai mặt: Một mặt
dốc tòan lực tiêu diệt Việt Nam Quốc Dân Ðảng và các đảng phái quốc gia khác rất
tàn bạo ở khắp nơi. Mặt khác đối với quân Pháp thì Việt Minh ve vuốt, tuyên
truyền là “Pháp Mới”, “Pháp Dân Chủ” và để cho quân đội Pháp từ Hải Phòng kéo
lên Hà Nội trước sự bỡ ngỡ của dân chúng Hà Nội lúc bấy giờ.
Trong khi cuộc Hội Nghị tại Ðàlạt
từ ngày 24 - 4 đến 11-5-1946 thất bại, thì phái đoàn Phạm Văn Ðồng đã có mặt tại
Pháp để tham dự Hội Nghị Fontainebleau dưới sự chỉ đạo trực tiếp của ông Hồ Chí
Minh, cũng có mặt tại Pháp lúc bấy giờ, nhưng lánh mặt để dễ bề né tránh những
điều khó xử. Do lập trường khác biệt không thể thỏa hiệp, hội nghị
Fontainebleau đã tan vỡ vào ngày 19-12-1946. Việt Minh phát động một cuộc kháng
chiến toàn dân chống Pháp vào ngày 23 tháng 12 năm 1946. Cuộc kháng chiến này
do Việt Minh chủ đạo tiến hành, với sự tham gia của mọi tầng lớp nhân dân yêu
nước có chung khát vọng độc lập dân tộc. Thế nhưng đã bị Việt Minh cộng sản lợi
dụng lòng yêu nước của họ để thành đạt mục tiêu giai đoạn của mình (cướp chính
quyền…). Vì thế sau khi đã loại trừ các chính đảng Quốc gia, Việt Minh cộng sản
đã độc quyền lãnh đạo cuộc kháng chiến 9 năm chống Pháp cuối cùng và đã kết
thúc vào năm 1954 sau khi Pháp thất thủ tại căn cứ quân sự chiến lược Ðiện Biên
Phủ, đưa đến việc ký kết Hiệp Ðịnh Genève chia đôi đất nước vào ngày 20 tháng 7
năm 1954 giữa Việt Minh và thực dân Pháp.Vì chính quyền quốc gia của vua Bảo đại,
với Thủ tướng chính phủ Ngô Đình Diệm đã không ký vào Hiệp định này, nên chỉ có
hệ quả như là quân xâm lược Pháp (kẻ cướp nước) đã mất một nửa thuộc địa Miền Bắc
trên vĩ tuyến 17 cho Việt Minh cộng sản (phường bán nước cho cộng sản quốc tế
Nga-Tàu); còn một nửa nước Miền Nam dưới vĩ tuyến 17, Pháp buộc lòng phải trao
trả độc lập hoàn toàn cho chính quyền chính thống quốc gia Nam Triều của Quốc
trưởng Bảo Đại, mà trước đó Pháp đã phải trao trả độc lập từng phần cho chính
quyền này.
Thật vậy, sau khi hội nghị
Fontainebleau tan vỡ vào ngày 19-12-1946, Việt Minh bước vào cuộc kháng chiến
chống Pháp.Thanh thế của lực lượng kháng chiến Việt Minh cộng sản mỗi ngày một
mạnh, phát triển từ chiến tranh du kích tiến dần đến chiến tranh qui ước khi Việt
Minh đã có những đơn vị bộ đội chính quy các cấp Tiểu đoàn, Trung Đoàn, Sư
đoàn, được Liên Xô, Trung cộng trang bị vũ khí, hổ trợ hậu cần.Việt Minh đã mở
được các trận đánh qui mô lớn nhỏ, từng bước lấn chiếm mở rộng vùng kiểm soát gọi
là “vùng tự do” (tương tự vùng giải phóng trong chiến tranh Quốc-Cộng sau này)
theo chiến thuật “chiếm nông thôn bao vây thành thị” của lãnh tụ cộng đảng
Trung Hoa Mao Trạch Đông. Hệ quả là Pháp mất dần hầu hết các vùng nông thôn, chỉ
còn quyền cai trị nơi các thành thị gọi là “vùng tề”. Trước tình thế này, Pháp
đã nghĩ đến “giải pháp Bảo Đại”. Theo đó, Pháp sẽ trao trả độc lập từng phần
cho một chính quyền quốc gia với vua Bảo Đại là Quốc Trưởng, với ý đồ lôi kéo sự
ủng hộ, liên kết được các chính đảng quốc gia và người dân Việt Nam chống cộng
(thực tế một số cá nhân và chính đảng quốc gia đã tham chính sau khi rời bỏ kháng
chiến về thành, tiếng lóng “dinh tê”là về “vùng tề”do Pháp cai trị…); và tìm sự
hậu thuẫn quốc tế nơi các cường quốc tư bản chống cộng đang ở thế đối đầu trong
cuộc chiến tranh ý thức hệ toàn cầu hình thành sau Thế Chiến II, giữa tư bản chủ
nghĩa đứng đầu là Hoa Kỳ và cộng sản chủ nghĩa, đứng đầu là tân đế quốc cộng sản
Liên Xô (thực tế Hoa Kỳ đã viện trợ quân sự cho Pháp đánh Việt Minh cũng vì lợi
ích chống cộng…)
Để thực hiện giải pháp chiêu dụ
này, Hiệp định sơ bộ ngày 5-6-1948 ký tại vịnh Hạ Long giữa chính phủ Pháp và
chính phủ quốc gia lâm thời đầu tiên Nguyễn Văn Xuân với sự chứng kiến của Vua
Bảo Đại. Tiếp theo sau nhiều thương lượng đôi bên cuối cùng Hiệp Định Hạ Long
được sửa đổi và được ký kết vào ngày 8-3-1949 tại điện Elysée Pháp quốc giữa vua
Bảo Đại và Tổng thống Pháp Vincent Auriol. Theo đó “Nước Pháp long trọng thừa
nhận nền độc lập của nước Việt Nam và Việt Nam có quyền thực hiện thống nhất.
Nước Việt Nam công bố gia nhập khối Liên Hiệp Pháp với tư cách là một nước độc
lập trong Liên hiệp với nước Pháp…”.Ngày 23-4-1949 Hội Đồng Lãnh đạo gồm 50 hội
viên Pháp-Việt đã biểu quyết sát nhập Nam Kỳ quốc thuộc địa trở về lãnh thổ
Viêt Nam. Trước áp lực của tình thế, chính phủ Pháp đã phải trao trả dần chủ
quyền đối nội cũng như đối ngoại cho chính phủ quốc gia Việt Nam. Sau khi thất
trận Điện Biên Phủ, ngày 4-6-1954 Thủ tướng Pháp Joseph Laniel mới ký kết với
Thủ tướng chính phủ quốc gia Việt Nam là Hoàng thân Bửu Lộc một Hiệp Định xác
nhận “Việt Nam hoàn toàn độc lập”.
Sau này ông Hồ và đảng CSVN luôn tự
hào về cuộc kháng chiến 9 năm chống Pháp, như là công trạng độc quyền giành độc
lập cho đất nước và dân tộc. Thế nhưng thực tế cũng như thực chất không phải
như vậy, mục tiêu kháng chiến của Việt Minh không phải là giành độc lập cho dân
tộc, mà là giành thuộc địa kiểu mới cho các tân đế quốc đỏ Nga-Tầu trong bối cảnh
cuộc chiến tranh ý thức hệ toàn cầu giữa hai khối cộng sản và tư bản hình thành
sau Thế Chiến II.
Vì rằng, lịch sử và thực tế sau đó
đã có nhiều bằng chứng cho thấy cuộc kháng chiến 9 năm do Việt Minh phát động
và chủ đạo tiến hành, là không cần thiết và là một sự tiêu hao nhân lực, tài
nguyên đất nước và xương máu của nhân dân một cách vô ích.
Bởi vì, sau Thế Chiến II, phong
trào giải thực đã là xu thế tất yếu của thời đại, khi chủ nghĩa thực dân cũ đã
bước vào thời kỳ suy tàn đi đến cáo chung. Thực tế, nếu không có hiểm họa cộng
sản trên phạm vi tòan cầu, nếu Việt Nam không có Hồ Chí Minh và Ðảng Cộng Sản của
ông ta, thì Việt Nam đã được trao trả độc lập ngay sau khi Nhật đầu hàng Ðồng
Minh và tình hình Viêt Nam đã phát triển theo chiều hướng khác tốt đẹp cho dân
cho nước.
Theo chiều hướng này, Chính phủ
thân Nhật Trần Trọng Kim có thể đổ, nhưng một chính quyền quốc gia chính thống,
chính danh khác có uy thế và năng lực lãnh đạo Đất Nước sẽ hình thành; dù là chế
độ Quân Chủ Lập Hiến hay chế độ Dân chủ hoàn toàn, thì Việt Nam cũng sẽ được
các cường quốc mới như Hoa Kỳ và đồng minh hỗ trợ. Nhờ đó chính quyền này sẽ
ngăn cản được thực dân Pháp trở lại thống trị Việt Nam và các nước Ðông Dương.
Đồng thời, Việt Nam sẽ tránh được tình trạng chia đôi đất nước, rơi vào thế gọng
kìm của cuộc chiến tranh ý thức hệ toàn cầu giữa cộng sản và tư bản dẫn đến cuộc
nội chiến Quốc-Cộng “nồi da sáo thịt” đẫm máu sau này (1954-1975)
Chính vì hiểm họa cộng sản, mà Hoa
Kỳ dù trên nguyên tắc chống lại chính sách khai thác thuộc địa kiểu cũ của các
đế quốc nói chung, thực dân Pháp nói riêng; song thực tế vẫn đã phải làm ngơ cho
Pháp quay trở lại thuộc địa Việt Nam và sau đó còn viện trợ ít nhiều cho Pháp
chống trả Việt Minh. Trên thực tế, dù trong bối cảnh cuộc chiến tranh ý thức hệ
toàn cầu giữa cộng sản chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa, song chiều hướng mới đã
buộc các đế quốc có thuộc địa như Pháp, Anh, Tây Ban Nha,Bồ Ðào Nha. . . đã phải
lần lượt trao trả độc lập cho các dân tộc bị trị, dù họ đã không cần tiến hành
một cuộc kháng chiến hao tổn nhiều xương máu nhân dân và tài lực đất nước như
ông Hồ và đảng Cộng sản Việt Nam đã làm sau cuộc kháng chiến 9 năm chống
Pháp.Điển hình một số nước trong vùng Châu Á đã lần lượt được các đế quốc thực
dân trao trả độc lập sau Thế Chiến II:Philippine (1946),
Malaysia(1945),Indonesia (1945), Ấn Độ và Pakistan (1947), Triều Tiên (1945)…
Hệ quả tệ hại hơn nữa là, dù Pháp
đã phải rời bỏ thuộc địa Việt Nam sau hơn 80 năm khai thác, song Việt Nam đã
không có được độc lập, tự chủ thực sự. Bởi vì sau kháng chiến 9 năm do Việt
Minh phát động, chủ đạo tiến hành, Việt Nam đã rơi vào thế gọng kìm của cuộc
chiến tranh ý thức hệ toàn cầu. Hiêp định Genève ký kết giữa Pháp và Việt Minh
đã chia đôi đất nước: Miền Bắc Việt Nam (cộng sản) và Miền Nam Việt Nam (quốc
gia) đã trở thành công cụ chiến lược một thời của hai phe cộng sản (Nga- Tầu và
các nước CS chư hầu) và phe tư bản (Mỹ và các đồng minh cường quốc tư bản), đưa
Việt Nam vào một giai đoạn chiến tranh khốc liệt (1954-1975) của cuộc nội chiến
ý thức hệ Quốc-Cộng khởi sự từ khi chủ nghĩa cộng sản du nhập Việt Nam với sự
ra đời của đảng CSVN ngày 3-2-1930. giới (!?!).
III/- KẾT LUẬN
Tựu chung, nếu chủ nghĩa cộng sản
không du nhập Việt Nam và không có những môn đồ cộng sản cuồng tín như Hồ Chí
Minh và các thế hệ đảng viên đảng CSVN; đã tri tình làm công cụ bành trướng cho
cộng sản quốc tế, thì Việt Nam đã có độc lập từ lâu (từ khi Nhật trao trả độc lập
cho vua Bảo Đại với chính phủ Trần Trọng Kim vào năm 1945) và nhân dân Việt Nam
đã không phải hao tổn quá nhiều xương máu, đất nước không bị tàn phá nặng nề,
qua cuộc “tiêu thổ kháng chiến” 9 năm chống Pháp không cần thiết, do Việt Minh
phát động và chủ đạo tiến hành (1946 - 1954) và sau đó qua cuộc chiến tranh Quốc-Cộng
“cốt nhục tương tàn” hơn 20 năm (1954 – 1975) do cộng sản Bắc Việt gây ra. Cả
hai cuộc chiến tranh trước sau này Việt Minh hay Việt cộng đều không nhằm giành
độc lập cho dân tộc, mà chỉ “ngụy dân tộc” để khơi dậy lòng yêu nước và tinh thần
chống ngoại xâm của toàn dân góp máu xương và của cải cho mục tiêu tối hậu là cộng
sản hóa toàn cõi Việt Nam, nô dịch hóa dân tộc và chịu sự lãnh đạo tuyệt đối của
cộng sản quốc tế đứng đầu là cộng sản Liên Xô, với sự cạnh tranh ngôi vị bá chủ
của Tàu cộng.
Vậy thì ông Hồ Chí Minh và đảng Cộng
sản Việt Nam có công hay có tội với đất nước? – Chẳng cần đợi chính sử dân tộc
mai này phán xét, khách quan ai cũng có thể tìm được câu trả lời chính xác ngay
từ bây giờ. Bởi vì không ai có thể “làm tôi hai chủ”. Việt Minh cộng sản hay Việt
cộng không thể cùng lúc tôn thờ, phục vụ lợi ích cho hai “Tổ quốc xã hội chủ
nghĩa Liên Xô”(quốc tế cộng sản) và “Tổ Quốc Việt Nam”(độc lập dân tộc); cũng
không thể cưỡng ép nhân dân “yêu nước phải yêu chủ nghĩa xã hội” như sự áp đặt
của các báo cáo viên trong các lớp “học tập chính trị” ở Miền Nam Việt Nam sau
ngày 30-4-1975; ngày cộng sản Bắc Việt cưỡng chiếm Miền Nam bằng bạo lực quân sự,
cộng sản hóa cả nước,vi phạm trắng trợn cả hai Hiệp Định Genève 1954 và Hiệp Định
Paris 1973 mà họ đã ký kết.
(Houston, ngày 19-8-2018)
(*) Khi thành lập ngày 3-2-1930, đảng
CSVN đã đưa ra chính cương và sách lược đấu tranh gồm hai giai đoạn: (1) Làm
“Cách mạng Dân tộc dân chủ nhân dân” để giải quyết mâu thuẫn dân tộc (với thực
dân pháp) để giành chính quyền; bước vào giai đoạn (2) làm “cách mạng xã hội chủ
nghĩa” nhằm giải quyết mâu thuẫn giai cấp (giai cấp vô sản với các giai cấp tư
sản trong toàn xã hội như “trí, phú, địa, hào, đào tận gốc, trốc tận ngọn”…) để
xây dựng xã hội “xã hội chủ nghĩa” (còn giai cấp…) tiến tới “xã hội cộng sản”
(không còn giai cấp…)!?!

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét