
Một cá nhân, một công ty hay
một quốc gia, trong buổi “sơ khai”, mấy ai tránh được chuyện vay mượn và
nhờ vả. Nó như là mối liên hệ tương hỗ tất yếu để duy trì sự tồn tại và
phát triển từ thế hệ trước sang thế hệ sau vậy.
Tuy nhiên, “một ưu điểm mà phát huy quá
mức sẽ trở thành nhược điểm”(LN). Khi “khởi nghiệp” thì đành phải đi
vay, nhưng 10 – 20 năm sau cũng thấy đi vay, thậm chí năm, bảy mươi năm
sau mà cũng thấy anh cứ ngã tay ra đi vay-xin người khác thì thật mà khó
chấp nhận.
Nước Việt kể từ ngày “cướp chính quyền”
(1945) đến nay, dường như chưa khi nào lại không nằm trong tình thế của
một dân tộc vay mượn và nhờ vả? Có phải vì nước ta nhỏ bé, non trẻ hay
vì một thế lực “âm mưu” nào đó đang trói tay và che mặt dân tộc này?
Nhỏ bé là so với Trung Quốc, Ấn Độ, Hoa Kỳ… chứ so với hơn 50% thế giới còn lại thì ta còn nằm ở “cửa” trên.
Tương tự như vậy, so với Anh, Pháp, Nga,
Mĩ… thì là non trẻ nhưng có đến 2/3 thế giới còn lại còn dành độc lập
muộn hơn dân tộc mình.
Về địa lý, thiên nhiên thì quá ư là
thuận tiện. “Rừng vàng, biển bạc”. Tài nguyên thiên nhiên phong phú giàu
có. Lại nằm ở vị trí địa kinh tế – chính trị bậc nhất ở châu Á. Khi
nhìn vào bản đồ, ông Lý Quang Diệu có nói đại loại: Nếu có nước nào đó
giàu có nhất ở châu Á hiện nay thì nước đó phải là Việt Nam!
Thuận tiện là vậy, lý thuyết cũng là như vậy mà thực tiễn lại không phải vậy.
Sau khi “cướp” được chính quyền, trong
những ngày đầu tiên lãnh đạo đất nước, HCM đã sớm nhận ra con đường vận
động của thế giới tiến bộ. Trong khoảng một năm đầu dành độc lập, HCM đã
gửi đi 8 bức thư – điện cho ngoại trưởng và Tổng thống Mĩ để “nhờ cậy”.
Nhờ cậy Hoa Kỳ công nhận nền độc lập mà ông vừa mới dành được. Tiếc
rằng hứa hẹn của Franklin Delano Roosevelt chưa kịp thực hiện thì ông đã đột ngột qua đời. Lịch sử nước Việt đành ngã theo một lối rẽ ngoài mong muốn khác?
Không riêng gì Việt Nam, mà bất kỳ dân
tộc thuộc địa nào của giai đoạn ấy, sau khi lật đổ được chủ nghĩa đế
quốc thực dân thì người ta đều tìm mọi cách để các nước lớn công nhận
nền độc lập của họ. Ở phương diện này, chuyện cầu cạnh hay nhờ vả nước
lớn cũng là chuyện bình thường.
Không được Mỹ công nhận, Liên xô thì
không đếm xỉa, chính phủ của HCM phải “tự biên tự diễn” để chống lại
biết bao “thù trong giặc ngoài” đang tìm cách “ăn tươi nuốt sống”, đặc
biệt là thực dân Pháp suốt 4 năm trời.
Đến cuối năm 1949, sau khi Mao Trạch
Đông dành thắng lợi, biết là nó chẳng tốt đẹp gì nhưng ít ra thì cũng
còn có thể nhờ cậy và lợi dụng, vậy là đành “vịn” vào Trung Quốc để đánh
Pháp. Đó chính là sợi dích dắc dẫn đến những vướng víu vô cùng phức tạp
và đau thương cho dân tộc Việt Nam sau này.
Từ sau tháng 8/1945 đến trước tháng
10/1949, chính phủ của HCM rất muốn theo con đường dân chủ của thế giới
nhưng nghiệt thay là thế giới dân chủ không chọn ông mà Mao Trạch Đông
lại chọn ông?
Nhờ vả và vay mượn của người ta thì dựa
vào cái gì để có thể bằng ngang người ta? “Mạnh vì gạo, bạo vì tiền”;
“có tiền mua tiên cũng được…” Vay thì phải trả, nhờ cậy thì phải biết
mang ơn đó là lẽ thường ở đời.
Sau khi đánh thắng Pháp ở Điện Biên
Phủ, như lệ thường thì đuổi luôn Pháp mà dành toàn vẹn lãnh thổ. Nhưng
cái ân nghĩa của “bốn phương vô sản …” được “anh hai” và “anh ba” tráo
trở như là gạt nợ cho một cuộc đổi chác ích lợi của các ông lớn?
Vì vay mượn nhờ vả người ta nên đành
ngậm đắng nuốt cay nhìn đồng chí của mình “xẻ thịt” quê hương Tổ quốc.
Hậu quả là, sau 1954, chỉ một nửa đất nước là “giải phóng”.
Nhìn sang đất nước có chung hoàn cảnh
với ta như Ấn Độ, Malaysia, Myanma… Họ cũng là những nước thuộc địa, nổi
dậy đấu tranh dành độc lập nhưng là tự nỗ lực của dân tộc họ mà không
bị cuốn vào một thế lực “thứ ba”. Nên họ đã không phải trả giá cho cái
thân phận “vay mượn nhờ vả”. Từ đó mà tránh được nhiều mối liên lụy đau
thương khác cho dân tộc sau này.
Một dân tộc luôn sống trong
tình thế vay mượn và nhờ vả là một dân tộc “chiếu dưới”. Vay thì trả,
nhưng hẳn nhiên tâm thế người đi vay bao giờ cũng phải mang sẳn suy nghĩ
“mang ơn cầu cạnh”, vì thế rất khó để tránh sự lệ thuộc vào người
khác.
Mất độc lập về kinh tế tài chính, hẳn
nhiên lệ thuộc về văn hóa chính trị. Khi đã lệ thuộc thì làm sao anh có
thể đủ bình tĩnh, tự tin để quyết định công việc theo tư duy sáng tạo và
tự chủ của bản thân được.
Vì vậy, “tình thế của một dân tộc vay
mượn” còn dẫn đến sự ù lì, cù lần trong sáng tạo khoa học kỹ thuật. Qua
thế kỹ XXI gần hai thập niên mà chưa thể chế tạo được đinh vít đạt chuẩn
quốc tế, điều đó có đúng không Franklin Delano Roosevelt?
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét