Ngô Nhân Dụng
Dư luận ở Mỹ vẫn còn bàn về những lời tố cáo Tổng Thống Nga
Vladimir Putin tìm cách gây ảnh hưởng trên kết quả cuộc bầu cử tổng thống vừa
qua. Nhân dịp này, nhật báo The New York Times mới nhắc lại một chuyện quá khứ.
Trong cuộc vận động tranh cử tổng thống Mỹ năm 1968, Tổng Thống Việt Nam Cộng
Hòa Nguyễn Văn Thiệu cũng gây ảnh hưởng trên cuộc bỏ phiếu ở Mỹ, một phần nào
giúp ông Nixon đánh bại đối thủ là Phó Tổng Thống Hubert H. Humphrey, đảng Dân
Chủ.
Cuối tuần rồi, tờ báo Times mới đang bài “Nixon’s Vietnam
Treachery” (Vụ phản bội của Nixon về Việt Nam). Mới đọc, tưởng ký giả John A.
Farrell kể một biến cố nào mới lạ; nhưng đọc xong mấy đoạn thì chỉ thấy một sự
kiện đáng kể nhất: Ông Richard Nixon từng nói dối. Tiết lộ điều đó thì cũng mới
lạ không khác gì khi tuyên bố: Trái đất quay quanh mặt trời.
Nhưng đối với người Việt, thì câu chuyện ông Nixon nói dối
đáng chú ý. Vì điều ông muốn che đậy liên quan đến số phận nước Việt Nam Cộng
Hòa!
Có lẽ mục đích của ký giả Farrell chỉ cốt quảng cáo trước
cho cuốn sách ông sắp xuất bản về cuộc đời Tổng Thống Richard Nixon, với nhiều
tài liệu mới. Tài liệu mới được ông Farrell trình bày trong bài báo là mấy chữ
nguệch ngoạc trên một trang giấy viết tay của ông H. R. Haldeman, một phụ tá
thân cận nhất của ông Nixon, sau giữ chức chánh văn phòng Tòa Bạch Ốc. Trang giấy
được chụp hình đăng cùng với bài báo. Những tài liệu này được Thư Viện Nixon giải
mật, không còn bị giữ kín nữa, từ năm 2007.
Những hàng chữ trên trang giấy này là những ghi chú do ông
Haldeman viết, chép lại lời ông Nixon dặn dò: “Hãy bảo Anna Chennault làm việc
trên chính phủ Nam Việt Nam” (Keep Anna Chennault working on SVN), kèm với lời
ghi ông Nixon bảo, hãy “thọc gậy bánh xe” vào kế hoạch nghị hòa với Bắc Việt của
Tổng Thống Đương Nhiệm Lyndon B. Johnson, đảng Dân Chủ.
Những ghi chú trên viết vào ngày 22 Tháng Mười, 1968, hơn
hai tuần trước khi dân Mỹ đi bỏ phiếu. Lúc đó, ứng cử viên Dân Chủ Hubert H.
Humphrey bắt đầu lên, sau khi bị tụt phía sau suốt mùa Hè, đang bám sát ứng cử
viên Cộng Hòa Richard Nixon. Dư luận phản chiến trong dân chúng Mỹ đang lên
cao. Điều khiến ông Nixon lo ngại là ông Johnson có thể tạo một biến cố bất ngờ:
Ông Johnson định tuyên bố ngưng ném bom Bắc Việt, lôi kéo cộng sản Bắc Việt ngồi
vào bàn hội nghị ở Paris, báo hiệu chiến tranh sắp chấm dứt. Ông muốn Tổng Thống
Nguyễn Văn Thiệu cùng ký tên trong bản tuyên bố ngưng ném bom.
Vì vậy, “Vụ Anna Chennault” mới xẩy ra. Bà Chennault là vợ
góa của Claire Chennault, một vị tướng Không Quân Mỹ nổi tiếng, từng chỉ huy
phi đoàn Cọp Bay thời Thế Chiến 2 tại chiến trường Miến Điện và miền Nam Trung
Hoa, khi Tưởng Giới Thạch kháng cự quân đội Nhật. Bà trở thành một công dân Mỹ,
hoạt động với đảng Cộng Hòa và thường xuyên vận động cho chính phủ Đài Loan.
Theo bài báo của Farrell, Tổng Thống Johnson đã ra lệnh Cơ
Quan Điều Tra Liên Bang (FBI) theo dõi bà Chennault và họ báo cáo: “Bà ta tiếp
xúc với Đại Sứ Bùi Diễm,” đại sứ Việt Nam Cộng Hòa tại Washington.
Theo bài báo trên thì bà Chennault tự giới thiệu là chuyển lời
nhắn trực tiếp từ ứng cử viên Nixon, nói với ông đại sứ, bảo rằng: “Giữ vững!
Chúng ta sẽ thắng… Xin nói với ‘boss’ của ông hãy giữ vững!” Thông điệp này nhờ
ông đại sứ nhắn với “boss,” cấp trên, là Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, đừng cộng
tác với sáng kiến ngưng ném bom của Tổng Thống Johnson.
Bài báo của Farrell chỉ nhắc đến tên Đại Sứ Bùi Diễm đúng một
lần. Nhưng nếu ký giả này đọc kỹ hồi ký “Gọng Kìm Lịch sử” của Bùi Diễm thì chắc
sẽ không kể câu chuyện một cách đơn giản như vậy. Bản tiếng Anh “In the Jaws of
History” của Bùi Diễm đã được xuất bản từ năm 1987, bản tiếng Việt in năm 2000.
Bài báo của John A. Farrell khiến người đọc có thể hiểu lầm
rằng Đại Sứ Bùi Diễm đã đóng vai “trung gian” giữa ban vận động tranh cử của
ông Nixon và Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu ở Sài Gòn. Đó là một hành động không
đúng với vai trò của một đại sứ, vì ông đại sứ chỉ làm đại diện cho nước mình
mà lại nhúng tay vào một cuộc tranh cử ở một quốc gia khác.
Trong cuốn Gọng Kìm Lịch sử, tác giả Bùi Diễm đã thuật lại
tường tận cả câu chuyện trên. Đối với một độc giả ở Mỹ thì tất cả vụ Chennault
đã được kể công khai từ năm 1987, chứ không cần nhờ đến bài báo của Farrell!
Theo sách trên, Đại Sứ Bùi Diễm đã được bà Chennault nói cho biết ông Nixon muốn
gặp từ Tháng Sáu, trước khi ông chính thức được đảng Cộng Hòa đưa ra tranh cử.
Vì một ông đại sứ Việt Nam cần phải biết chủ trương của cả hai ứng cử viên tổng
thống Mỹ năm đó, cho nên ông Bùi Diễm đã từng gặp Phó Tổng Thống Hubert H.
Humphrey cũng như các nhân vật phụ trách ngoại giao của đảng Dân Chủ, ông thấy
cũng nên gặp ông Nixon. Theo đúng nguyên tắc, trước khi hẹn gặp ông Nixon, ông
Bùi Diễm đã gặp các vị thứ trưởng ngoại giao và cố vấn an ninh Tòa Bạch Ốc, báo
trước mình sẽ gặp ông Nixon. Cả hai người đều hoan hỉ, không phản đối. Trong cuộc
gặp gỡ một giờ đồng hồ giữa ông Bùi Diễm và ông Nixon, ngày 12 Tháng Bảy ở New
York, hai bên chỉ nói chuyện về tình hình chiến sự Việt Nam, ông Bùi Diễm nhấn
mạnh tới nhu cầu tăng cường trang bị cho quân đội Việt Nam Cộng Hòa để có thể
thay thế quân đội Mỹ. Ông Nixon và các phụ tá của ông không hề ngỏ ý một lần
nào về chiến dịch tranh cử của họ.
Trong mấy tháng sau đó, Đại Sứ Bùi Diễm đã bay qua bay lại rất
nhiều lần giữa Mỹ, Việt Nam và Paris, nơi cuộc hòa đàm đang bắt đầu nhưng chỉ
có hai phái đoàn Mỹ và Bắc Việt. Trong những báo cáo viết và điện thoại với Tổng
Thống Nguyễn Văn Thiệu trước ngày dân Mỹ bỏ phiếu, ông Bùi Diễm không bao giờ
nhắc đến bà Chennault hoặc một người thân cận nào của ông Nixon đề nghị điều gì
với chính quyền Việt Nam. Hơn nữa, tòa đại sứ Việt Nam lúc đó cũng biết mình bị
đặt máy nghe lén!
Ba ngày trước khi dân Mỹ bỏ phiếu, Đại Sứ Bùi Diễm đã phải
tiếp một ký giả chủ biên của tòa báo Christian Science Monitor, ông này yêu cầu
ông đại sứ xác định một tin mật do một ký giả của họ ở Sài Gòn gửi về, viết rằng
“Đại Sứ Bùi Diễm đã khuyến cáo Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu không nên gửi một
phái đoàn đi dự hòa đàm ở Paris.” Và ký giả đó còn thuật những tin đồn cho rằng
chính phủ miền Nam sẽ trì hoãn việc tham dự hòa đàm để ông Nixon đắc cử. Trước
yêu cầu của người bạn từ báo Christian Science Monitor Đại Sứ Bùi Diễm đã từ chối
không xác nhận và cũng không phủ nhận, vì “Tôi chỉ là đại diện của một quốc
gia, với nhiệm vụ tiếp xúc với mọi thành phần trong giới chính trị ở Mỹ…” Tờ
báo trên tỏ ra có tư cách đứng đắn, đã không đăng bản tin giật gân đó sau khi
không thể xác định sự kiện có thật hay không!
Trong cuốn hồi ký Gọng Kìm Lịch sử, tác giả Bùi Diễm còn nêu
lên một sự kiện mà có lẽ ký giả Farrell và nhật báo The New York Times đã quên
không chú ý. Theo ông Bùi Diễm, viết từ trước năm 1987, nếu bà Chennault muốn
nhắn một thông điệp nào của ứng cử viên Richard Nixon cho Tổng Thống Nguyễn Văn
Thiệu, vào năm 1968, thì đường dây bảo đảm an toàn và có hiệu quả nhất là qua
ngả Đài Bắc. Bà Chennault là một nhân vật rất thân với chính quyền Tưởng Giới
Thạch. Lúc đó, đại sứ Việt Nam Cộng Hòa tại Đài Bắc là ông Nguyễn Văn Kiểu, anh
ruột của ông Nguyễn Văn Thiệu. Ông Bùi Diễm viết: “Dĩ nhiên đối với ông Thiệu
thì chắc chắn ông Kiểu phải là người đáng tin cậy hơn tôi, và bà chennault có
nói gì với ông Kiểu thì cũng không ai rõ.”
Cuối cùng, bài báo của John A. Farrell trên tờ The New York
Times chỉ kể một câu chuyện cũ sau khi vẽ thêm “râu ria” mới bằng mấy hàng chữ
viết tay của ông H. R. Haldeman, viết sau khi những trao đổi giữa tòa đại sứ Việt
Nam ở Washington và chính phủ Sài Gòn đã đầy những sự kiện và ý kiến về cuộc
tranh cử ở Mỹ cũng như về cuộc hòa đàm ở Paris. Quyết định của Tổng Thống Nguyễn
Văn Thiệu không gửi phái đoàn dự hội đàm Paris trước ngày dân Mỹ bỏ phiếu là do
rất nhiều nguyên nhân, chứ không phải chỉ vì những lời ông Nixon nhắn qua bà
Chennault, nếu có.
Tuy nhiên, số phận miền Nam Việt Nam đã được quyết định từ
trước. Trong khi còn đang vận động tranh cử, ông Nixon đã sai Henry Kissinger tới
gặp riêng Anatoly Dobrynin, đại sứ Nga ở Washington, cho biết rằng nếu đắc cử
ông Nixon sẽ rút quân khỏi Việt Nam, dù sau đó chính quyền có thể lọt vào tay cộng
sản. Ông Nixon chỉ yêu cầu chính phủ Liên Xô đừng có hành động nào khiến dư luận
Mỹ nghiêng về phía đảng Dân Chủ.
Quả thật, vào lúc đó nếu Liên Xô bảo Bắc Việt nhượng bộ Mỹ một
điều gì đó trong cuộc hòa đàm ở Paris, cho dân Mỹ thấy chiến tranh hy vọng sắp
chấm dứt, thì ông Humphrey sẽ được lợi thế lớn! Nhưng Nga đã không can thiệp,
và sau đó ông Nixon đã giữ lời hứa, rút quân Mỹ khỏi Việt Nam. Nhưng ông không
giữ lời hứa với chính phủ Việt Nam Cộng Hòa!
Chỉ có một nhân vật ngoại quốc gây ảnh hưởng trên kết quả bầu
cử năm 1968, là ông Nguyễn Văn Thiệu. Ông chỉ cần giúp ông Nixon thêm một triệu
phiếu là đủ xoay chuyển kết quả cuộc tranh cử gay go.
Nhưng bốn ngày sau có kết quả bầu cử, Đại Sứ Bùi Diễm kể,
ông đang ngồi làm việc thì nghe chuông gọi cửa. Vì hôm đó là Thứ Bẩy, ông đại sứ
phải ra mở cửa, và thấy Thượng Nghị Sĩ Everett Dirksen, lãnh tụ khối Cộng Hòa ở
Thượng Viện, đến bấm chuông xin gặp. Ông Dirksen cho biết cả hai vị, tổng thống
đương nhiệm và tổng thống tân cử, nhờ ông tới nói với ông đại sứ rằng chính phủ
Việt Nam phải gửi ngay một phái đoàn đi Paris!
Số phận Việt Nam Cộng Hòa đã được dư luận dân Mỹ quyết định,
cả hai đảng chính trị ở Mỹ chỉ làm theo ý kiến đa số cử tri, dù đảng nào cầm
quyền cũng vậy!
Nguồn: http://www.nguoi-viet.com

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét