Phần II: Hàng hóa
nước và chiến lược phát triển thủy lợi bền vững
Khi đã xác định
được nguyên nhân cốt lõi và các nguyên nhân khác dẫn tới những hạn chế, khó
khăn trong ngành thủy lợi, cần phải có giải pháp khắc phục triệt để, toàn diện.
Giải pháp triệt để chính là tìm ra cơ chế khắc phục nguyên nhân cốt lõi, xóa bỏ
cơ chế bao cấp (cấp phát và xin - cho) trong ngành thủy lợi. Tiến sĩ Trần Nhơn
đã đưa ra ý tưởng cần xây dựng thị trường hàng hóa nước để chuyển đổi toàn bộ
cơ chế bao cấp trong đầu tư của ngành thủy lợi thành cơ chế tái sản xuất vốn, để
ngành thủy lợi có thể tự đứng vững trên đôi chân của mình. Phương châm “lấy thủy
lợi nuôi thủy lợi” là giải pháp đột phá giải quyết tận gốc rễ các vấn nạn của
ngành thủy lợi, đưa thủy lợi thành ngành kinh tế đầu tàu cho nền sản xuất nông
nghiệp Việt Nam.
Để hình thành và
xây dựng được thị trường hàng hóa nước và khắc phục các mặt tồn tại và hạn chế
trong ngành thủy lợi, cần quán triệt nhận thức và thực hiện các vấn đề quan trọng
sau đây.
I/ Hàng hóa nước
trong ngành thủy lợi và xây dựng thị trường hàng hóa nước
1- Hàng hóa nước
của ngành thủy lợi
Mọi người đều biết
một ngành nào đó được gọi là ngành kinh tế hay kinh tế dịch vụ nếu nó có đầy đủ
các yếu tố: vốn cố định, vốn lưu động, công nhân, sản phẩm và lợi nhuận. Ngành
thủy lợi - các công trình thủy lợi do các xí nghiệp kinh doanh dịch vụ thủy lợi
đảm nhiệm - cũng có đầy đủ các yếu tố nói trên, nên nó cũng phải được coi là
ngành kinh tế có chức năng dịch vụ cho sản xuất nông nghiệp và các ngành kinh tế
quốc dân. Nước tự nhiên chưa phải là hàng hóa, nhưng nước có sự tác động của
con người, có sức lao động con người trong đó, như lọc nước, dẫn nước qua kênh
mương, đường ống tới tay người sử dụng, thì nước đó là hàng hóa. Sản phẩm nước
đó cũng có hai thuộc tính: giá trị sử dụng (thỏa mãn nhu cầu nào đó của sản xuất
đời sống) và có giá trị (có lao động vật hóa và lao động sống kết tinh) nên có
giá cả, và để bán - nó cũng là hàng hóa. Với tư cách là hàng hóa nó phải có giá
được tính đúng tính đủ, công trình phải được hoàn vốn để tái tạo vốn mới, không
chỉ giản đơn mà còn mở rộng.
2- Nét đặc thù của
ngành kinh doanh dịch vụ thủy lợi
Xuất phát từ việc
xác định ngành thủy lợi không phải là ngành sản xuất vật chất thuần túy mà là
ngành kinh tế dịch vụ, nhưng ngoài cái chung vẫn có những nét đặc thù sau:
- Công trình thủy
lợi là sản phẩm đơn chiếc, có thời gian xây dựng dài.
- Vốn đầu tư lớn
và được xây dựng đồng bộ từ đầu mối đến kênh mương.
- Công trình thủy
lợi chỉ có thể bắt đầu phát sinh tác dụng sau một thời gian xây dựng.
- Tính hiệu quả
đa ngành đối với công trình. Các hộ sử dụng sản phẩm (dịch vụ) của công trình
thủy lợi sẽ tạo ra sự tăng trưởng vượt bậc về năng suất, chất lượng sản phẩm và
do đó thu được một khoản lợi nhuận siêu ngạch to lớn.
- Sản phẩm của xí
nghiệp quản lý khai thác công trình thủy lợi là sản phẩm duy nhất không có cạnh
tranh, không thể nhập ngoại để thay thế.
- Không mua bán
theo kiểu trao tay trực tiếp mà thanh toán trước hoặc sau một chu trình theo hợp
đồng ký kết.
- Khách hàng của
ngành thủy lợi nói chung là ổn định.
3- Xây dựng thị trường hàng hóa nước
Để xây dựng được
thị trường hàng hóa nước, cần có các giải pháp đồng bộ, từ nhận thức tới việc
xác định chủ thể, đơn vị kinh doanh và các vấn đề liên quan.
- Đổi mới nhận thức:
xóa bỏ nhận thức cũ lỗi thời, xây dựng nhận thức mới trong xã hội phù hợp với
cơ chế thị trường có điều tiết vĩ mô của Nhà nước, trước hết là đối với cán bộ
lãnh đạo chủ chốt của các ngành, các cấp có liên quan.
- Xác định các xí
nghiếp quản lý và khai thác thủy nông là đơn vị kinh doanh dịch vụ thủy lợi,
kinh doanh hàng hóa nước. Các xí nghiệp thủy nông cần quán triệt phương châm tự
thân vận động, biến khả năng thành hiện thực.
- Tạo ra môi trường
thuận lợi và hành lang cần thiết cho hoạt động của các xí nghiệp quản lý khai
thác thủy nông. Trên cơ sở xác lập mối quan hệ và sự khác nhau giữa chức năng
quản lý nhà nước về mặt kinh tế và chức năng quản lý sản xuất kinh doanh. Xí
nghiệp thủy nông ngoài cố gắng chủ quan, đòi hỏi có môi trường cần và đủ - môi
trường thuận lợi để thực hiện chức năng của mình. Nói cách khác, xí nghiệp cần
có sự ổn định về mặt chính trị, xã hội và kinh tế. Xí nghiệp còn đòi hỏi phải
có hành lang cần thiết để xí nghiệp hoạt động đúng hướng, đúng luật pháp. Môi
trường và hành lang nói trên gắn với hai nhóm loại công cụ kinh tế (cơ chế
chính sách kinh tế) và công cụ luật pháp.
- Tổ chức sắp xếp
lại bộ máy của ngành thủy lợi theo hướng cơ chế hoạch toán kinh doanh toàn
ngành.
II/ Đổi mới nhận
thức và pháp luật về ngành thủy lợi
Cần phải trang bị
nhận thức đầy đủ về vai trò ngành thủy lợi, về xu hướng đổi mới của ngành theo
các quy luật của thị trường đối với người dân, nhưng trước hết là các cán bộ
ngành thủy lợi, nông nghiệp và nông dân. Hoạt động thủy lợi gắn liền với đời sống
sinh hoạt và sản xuất của xã hội. Nước trong thiên nhiên (nước mặt, nước ngầm,
nước trong khí quyển) là tài nguyên đặc biệt, dễ bị tổn thương, không thể thay
thế. Hoạt động thủy lợi (sản xuất kinh doanh hàng hóa nước, cung ứng dịch vụ nước
- cấp nước, hạn chế tác hại của nước) phải được quản lý, tổ chức bảo đảm phát
triển bền vững (tiết kiệm tài nguyên, bảo vệ môi trường, đạt hiệu quả kinh tế
cao) thông qua xã hội hóa hoạt động thủy lợi:
1. Xã hội hóa hoạt
động thủy lợi trước hết phải tách quản lý nhà nước về nước (thủy lợi) ra khỏi
quản trị sản xuất thủy lợi. Nhà nước thực hiện quản lý thủy lợi bằng hệ thống
pháp luật, bằng quy hoạch và chiến lược phát triển, bằng cơ chế chính sách điều
chỉnh hoạt động bảo vệ tài nguyên nước, khai thác và tiêu dùng nước bền vững,
có hiệu quả.
2. Phải cơ cấu lại
các tổ chức quốc doanh sản xuất thủy lợi theo hướng tước bỏ các hoạt động mang
tính quản lý nhà nước, phát triển hạch toán như các doanh nghiệp khác. Gắn với
việc cơ cấu lại, phải tiến hành cổ phần hóa các công ty thủy lợi quốc doanh.
Tùy tình hình, yêu cầu cụ thể mà xác định tỉ lệ phần vốn nhà nước thích hợp.
3. Khuyến khích bằng
cơ chế, chính sách để các tổ chức xã hội, tư nhân (trong và ngoài nước) bỏ vốn
đầu tư vào thủy lợi, từ khai thác nguồn nước đến cung ứng dịch vụ nước, hoạt động
sản xuất kinh doanh theo pháp luật và chính sách (tạo động lực, phát huy nội lực)
của nhà nước.
Để xã hội hóa
ngành thủy lợi thu hút các nguồn lực của xã hội đầu tư phát triển thủy lợi bền
vững, trong tình thế hiện tại, cần đổi mới tư duy trên các điểm then chốt sau
đây:
a. Đối với xã hội,
không được coi nước là vô hạn, là của trời cho, phải nhận thức các nguồn nước là
tài nguyên quý và có hạn, nhất là trong tình trạng biến đổi khí hậu đang diễn
ra như hiện nay. Phải nhận thức dịch vụ cấp nước và hoạt động giảm thiểu tác hại
của nước là thành phần trong các yếu tố vật chất thiết yếu tạo nên giá trị của
dịch vụ. Vì vậy, phải sử dụng nước có hiệu quả và tiết kiệm thông qua định giá
sản phẩm hàng hóa nước hợp lý, khoa học; giá cả tương thích với giá trị và giá
trị sử dụng.
b. Về phía Nhà nước,
phải xem xét thủy lợi là đối tượng điều chỉnh chứ không phải là công cụ của
pháp luật, chính sách. Ngành thủy lợi được đối xử công bằng như các ngành nghề
khác trong nền kinh tế thị trường. Hoạt động của ngành này (về địa giới phân
chia, về cơ cấu tổ chức, về chính sách đặc thù…) phải phù hợp với tính kết cấu
hệ thống của các lưu vực sông ngòi, nguồn nước chứ không phụ thuộc vào địa giới
hành chính.
Để phát triển thủy
lợi bền vững, tất yếu phải xây dựng ngành thủy lợi theo hướng kinh tế thị trường.
Xã hội hóa chính là quá trình phát triển mang tính quy luật của ngành này.
III/ Đổi mới tổ
chức và quản lý nhà nước về thủy lợi
Đổi mới tổ chức
và hoạt động quản lý nhà nước đối với tài nguyên nước (trong đó nội dung cơ bản
là thủy lợi) phải quán triệt quan điểm quản lý tập trung thống nhất và nhằm tới
mục tiêu xóa bỏ cơ chế “xin - cho”, bao cấp tràn lan, thực hiện xã hội hóa hoạt
động bảo vệ, khai thác tài nguyên nước và cung ứng dịch vụ nước. Dưới đây là những
điểm then chốt của vấn đề này.
1. Xác định rõ
ràng chức năng, nhiệm vụ của quản lý nhà nước
Cần sớm khắc phục,
xóa bỏ nhận thức Nhà nước đảm đương tất cả mọi việc, từ tổ chức bảo vệ, khai
thác tài nguyên nước đến cung ứng dịch vụ nước cho các nhu cầu thay vì đây
chính là trách nhiệm, nghĩa vụ của cả xã hội: doanh nghiệp thuộc các thành phần
kinh tế phục vụ cộng đồng các hộ dùng nước theo những điều kiện ràng buộc công
khai minh bạch được quy định bởi pháp luật. Nhà nước chỉ là người hướng dẫn,
giám sát thực hiện. Để thực hiện được yêu cầu này, phải sửa đổi, bổ sung luật
pháp nhằm xác định rõ nhiệm vụ, chức năng của quản lý nhà nước đối với tài
nguyên nước theo hướng:
+ Nhà nước là người
duy nhất và trực tiếp ban hành pháp luật, chính sách, chiến lược, quy hoạch để
điều chỉnh hoạt động bảo vệ, khai thác tài nguyên nước và cung ứng dịch vụ nước
của xã hội.
+ Nhà nước chịu
trách nhiệm hướng dẫn và giám sát thực hiện việc bảo vệ nguồn nước, môi trường
nước, phòng chống tai họa do nước gây ra.
+ Nhà nước chủ yếu
tạo điều kiện, môi trường để hình thành ngành kinh tế nước nhiều thành phần, hoạt
động theo cơ chế thị trường, đồng thời trực tiếp tham gia ở mức độ thật cần thiết
nhằm nắm giữ khả năng điều tiết thị trường này. Nhà nước chỉ trực tiếp tổ chức
thực hiện các khâu mà các thành phần kinh tế khác không thể hoặc chưa có khả
năng đảm nhiệm.
Xác định nhiệm vụ
chức năng của quản lý nhà nước đối với tài nguyên nước còn cần các quy định, chế
tài để các cơ quan quản lý nhà nước không sa đà vào các hoạt động sự vụ quản lý
sản xuất kinh doanh dịch vụ nước.
2. Thực hiện quản
lý nhà nước tập trung thống nhất kết hợp phân công phân cấp hợp lý
Để xóa bỏ tình trạng
phân tán, chia cắt hiện nay, phải thực hiện quản lý nhà nước tập trung thống nhất
kết hợp phân công, phân cấp hợp lý.
a. Trước hết, Bộ
Tài nguyên và Môi trường phải đảm đương vai trò của cơ quan quản lý nhà nước tổng
hợp đối với tài nguyên nước trên phạm vi cả nước, trong mọi lĩnh vực.
+ Thay mặt Chính
phủ trình ban hành các đạo luật về tài nguyên nước.
+ Giúp Chính phủ
xây dựng và ban hành các chính sách vĩ mô về bảo vệ, khai thác tài nguyên nước
và cung ứng, sử dụng dịch vụ nước.
+ Xây dựng kế hoạch
thực hiện Chiến lược Quốc gia về tài nguyên nước, quy hoạch tổng thể về tài
nguyên nước. Trình Chính phủ hoặc theo thẩm quyền ban hành các tiêu chuẩn, định
mức quốc gia về tài nguyên nước, môi trường nước, dịch vụ nước...
+ Thực hiện quyền
quản lý nhà nước về phòng chống tai nạn do nước gây ra, bảo vệ môi trường nước.
b. Các Bộ khác
(Nông nghiệp & PTNT, Xây dựng, Công thương, Giao thông Vận tải...) thực hiện
nhiệm vụ chức năng quản lý nước chuyên ngành; đại diện sở hữu nhà nước đối với
vốn đầu tư của Nhà nước tại các doanh nghiệp nước chuyên ngành.
Từng bước xóa bỏ
chế độ Bộ chủ quản đối với các doanh nghiệp nhà nước, đặc biệt còn rất nặng nề ở
lĩnh vực thủy nông. Trong lĩnh vực thủy nông đã xuất hiện nhiều mô hình sáng tạo
tự đầu tư, tự quản lý, khuyến khích cạnh tranh để hạ giá thành dịch vụ nước từ
nhiều thập niên qua (ví dụ, cơ chế đấu thầu đường nước ở An Giang theo QĐ
244/QĐ.UB, ngày 12/2/1991), nhưng chưa được quan tâm tổng kết để nhân rộng mà
chỉ “mải mê” bám vào cơ chế “xin - cho” làm triệt tiêu nội lực và động lực phát
triển trong khi nguồn vốn ngân sách rất hạn hẹp.
3/ Đề xuất thành
lập bộ Thủy lợi và quản lý thiên tai
Với những bất cập
trong việc phân cấp và quản lý nhà nước đối với ngành thủy lợi nêu ở phần trên,
để thực hiện có hiệu quả chiến lược phát triển hàng hóa nước và phát triển bền
vững ngành thủy lợi, tiến sĩ Trần Nhơn và các cán bộ ngành thủy lợi đã mạnh dạn
đề xuất việc thành lập Bộ Thủy lợi và Quản lý thiên tai, là cơ quan giúp
Chính phủ thực hiện các chức năng nhiệm vụ quản lý nhà nước về tài nguyên nước
đầy đủ như Điều 57 Luật Tài Nguyên Nước;
thống nhất quản lý tài nguyên nước về điều tra, đo đạc, thống kê tài nguyên nước,
cả nước mặt và nước ngầm; về dự báo phát triển, xây dựng và chỉ đạo thực hiện
quy hoạch, chiến lược, kế hoạch bảo vệ, khai thác sử dụng, phát triển tài
nguyên nước và phòng, chống, khắc phục hậu quả tác hại của nước, bền vững, hiệu
quả cao, đồng thời nắm chắc và có kế hoạch đối phó với các hậu quả của biến đổi
khí hậu toàn cầu đối với nước ta (chủ yếu cũng là bảo vệ, khai thác sử dụng nước
và phòng chống thiên tai); về chỉ đạo quản lý các công trình thủy lợi và phòng
chống lụt, bão an toàn; về quản lý tốt vốn đầu tư thủy lợi, thực hiện quan hệ
quốc tế về nước được thuận lợi. Trên cơ sở giao cho Bộ này chức năng và
trách nhiệm quản lý nhà nước về an toàn các loại hồ chứa nước bất
kỳ thuộc sở hữu của ai; về bảo đảm an toàn của hệ thống chống
lụt, chống úng giảm nhẹ thủy tai; về bảo đảm nguồn nước cho các
ngành dùng nước như công nghiệp, du lịch, dịch vụ, cấp nước cho sinh hoạt và
nông nghiệp… mà phân rõ chức năng quản
lý nhà nước với các Bộ khác về thuỷ điện,
về giải quyết cấp và tiêu thoát nước cho đô thị, về phát triển giao thông thuỷ
nội địa, về bảo vệ chất lượng nước./.
Hà Nội, ngày 25/01/2017
N.V.B
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét