Biên dịch: Ngô Việt Nguyên | Hiệu đính: Nguyễn Huy Hoàng
Nguồn: Margalit Fox, “Zhou Youguang, Who Made Writing
Chinese as Simple as ABC, Dies at 111,” The New York Times, 14/01/2017.

Truyền thông nhà nước Trung Quốc đưa tin ông Chu Hữu Quang (Zhou Youguang), người được biết đến với tư cách là cha đẻ của bính âm Hán ngữ (pinyin) vì đã tạo nên một hệ thống viết chữ Hán bằng bảng chữ cái Latinh vốn trở thành tiêu chuẩn quốc tế kể từ khi được giới thiệu cách đây khoảng 60 năm, đã qua đời hôm thứ Bảy ở Bắc Kinh. Ông thọ 111 tuổi.
Trong những thập niên gần đây, với sự tự tin vì có tuổi thọ
trời ban, ông Chu cũng là một người phê bình thẳng thắn chính quyền Trung Quốc.
“Họ làm được gì,” ông hỏi thẳng trong một cuộc phỏng vấn với
BBC năm 2012. “Đến bắt tôi đi?”
Thực ra, họ đã làm như thế một lần, cách đây đã lâu.
Được áp dụng ở Trung Quốc từ năm 1958, bính âm được thiết kế
không phải để thay thế hàng chục ngàn ký tự truyền thống dùng để viết chữ Hán,
mà như một công cụ chính tả để mở cửa vào thế giới phức tạp của những ký tự đó.
Kể từ đó, bính âm đã nâng tỷ lệ người biết chữ ở khắp đất nước;
giảm nhẹ gánh nặng của người nước ngoài học tiếng Trung; cho người khiếm thị một
cách đọc chữ Hán bằng bảng chữ nổi Braille, và trong một diễn tiến mà ông Chu gần
như không thể đoán trước, nó đã tạo điều kiện cho sự du nhập nhanh chóng của tiếng
Trung vào các bàn phím máy tính và điện thoại di động.
Nhờ có bính âm mà nay chúng ta có những cái tên giờ đã quen
thuộc như Beijing (Bắc Kinh), thay cho Peking trước đây. Chongqing (Trùng
Khánh) thay cho Chungking, Mao Zedong (Mao Trạch Đông) thay cho Mao Tse-tung,
và hàng ngàn chữ khác. Hệ thống được phê chuẩn bởi Tổ chức Tiêu chuẩn hóa Quốc
tế (ISO) năm 1982 và bởi Liên Hiệp Quốc năm 1986.
Nhưng bất chấp ảnh hưởng của ông Chu trong lĩnh vực ngôn ngữ
học, sự đối lập chính trị vào cuối đời của ông – mà vào năm 2015, thông tấn xã
AFP gọi ông là “nhà bất đồng chính kiến có lẽ là cao niên nhất của Trung Quốc”
– đã khiến ông vẫn tương đối vô danh ở chính quê hương mình.
“Ở Trung Quốc, ông không được ca ngợi rộng rãi,” tờ New York
Times viết năm 2012. “Như tờ China Daily của nhà nước viết năm 2009, đáng lẽ
ông đã là một cái tên quen thuộc nhưng gần như không ai biết đến.”
Ông Chu và các đồng nghiệp của ông đã mất ba năm để phát triển
bính âm, nhưng điều đáng chú ý nhất về sự tham gia của ông là ông không phải là
một nhà ngôn ngữ học hay một nhà ngữ vựng học mà là một nhà kinh tế học, vừa trở
về Trung Quốc từ phố Wall.
Nhưng nhờ một cuộc gặp tình cờ giữa thế kỷ 20, và với một
tình yêu ngôn ngữ suốt đời, ông đã được chính phủ Trung Quốc giao nhiệm vụ phát
triển một hệ thống chữ viết dễ tiếp cận hơn. Nó là một bước ngoặt định mệnh, và
như ông Chu thừa nhận sau này, là một bước ngoặt có thể đã cứu mạng ông.
Con của một gia đình danh giá (cha ông là một vị quan trong
triều đại cuối cùng của Trung Quốc, nhà Thanh, vốn tồn tại liên tục từ thế kỷ
17 đến năm 1912), ông Chu sinh ra ở Thường Châu, miền Đông Trung Quốc, vào ngày
13 tháng 1 năm 1906. Tên khai sinh của ông là Chu Diệu Bình (Zhou Yaoping), ông
lấy bút danh Chu Hữu Quang khi trưởng thành.
Năm 1927, sau khi học ở Đại học St. John’s ở Thượng Hải, ông
tốt nghiệp Đại học Quang Hoa với bằng kinh tế.
Khi chiến tranh Trung-Nhật lần II bùng nổ, khơi mào bởi việc
Nhật xâm lược Trung Quốc năm 1937, ông Chu cùng vợ, bà Trương Duẫn Hòa (Zhang
Yunhe), và hai con chuyển đến Trùng Khánh, thủ đô thời chiến của Trung Quốc.
Con gái họ, Chu Tiểu Hòa (Zhou Xiaohe), mất ở đó vì viêm ruột thừa.
Ở Trùng Khánh, ông Chu làm việc cho Ngân hàng Tân Hoa. Ông
cũng làm quen với Chu Ân Lai, vốn đã là một ngôi sao trong Đảng Cộng sản, sau
này là Thủ tướng Trung Quốc từ năm 1949 đến năm 1976.
Mặc dù Chu Hữu Quang chưa bao giờ vào Đảng, mối quan hệ đó
đã dẫn trực tiếp đến việc phát triển bính âm.
Năm 1946, ông Chu đến New York làm đại diện cho Tân Hoa tại
trụ sở trên phố Wall của đại lý ngân hàng này ở Mỹ, Irving Trust. Ông ở đó ba
năm, cho đến khi việc Đảng Cộng sản lên nắm quyền năm 1949 đã khiến ông trở về
nhà.
“Chúng tôi đều nghĩ Trung Quốc có một cơ hội rất tốt để phát
triển; chúng tôi không nghĩ đến những xáo trộn sau này,” ông Chu nói với The
Guardian, tờ báo Anh, năm 2008. “Lịch sử đã làm chúng tôi lạc lối.”
Trong những năm sau đó, ông dạy kinh tế tại Đại học Phục Đán
ở Thượng Hải cho đến giữa thập niên 1950, khi Chu Ân Lai can thiệp.
Lúc đó chính phủ Cộng sản đang tìm cách biến Quan thoại
thành quốc ngữ và tăng tỷ lệ biết chữ trên toàn quốc. Năm 1955, chính phủ thành
lập một ủy ban với nhiệm vụ tạo ra một hệ thống chữ cái, dựa vào tiếng Quan thoại,
dễ sử dụng hơn các hệ thống Latinh hóa hiện có.
Biết ngôn ngữ học là một sở thích của ông Chu, Chu Ân Lai đã
vời ông đến Bắc Kinh để lãnh đạo ủy ban. Những phản đối của ông Chu rằng ông chỉ
là một người nghiệp dư đã không có kết quả.
“Ai cũng nghiệp dư cả,” người ta bảo ông.
Vì thế ông bắt đầu nghiên cứu các ngôn ngữ cùng với vô số hệ
chữ viết. Ít lâu sau, trong cuộc thanh trừng những người cánh hữu của Mao Trạch
Đông vào cuối những năm 1950, ông bắt đầu nhận ra sự nghiệp mới của ông đã cứu
mạng ông, theo đúng nghĩa đen.
“Mao rất ghét các nhà kinh tế – đặc biệt là các giáo sư kinh
tế từ Mỹ,” ông Chu nói với The Guardian. “Đến lúc đó tôi đã chuyển sang ngôn ngữ
và chữ viết. Tôi không bị coi là một người hữu khuynh. Rất may mắn. Nếu còn dạy
kinh tế ở Thượng Hải tôi nghĩ chắc chắn mình đã lĩnh án 20 năm. Một người bạn
thân của tôi đã bị cầm tù và tự sát.”
Trong nỗ lực tạo ra một hệ thống chữ cái để chuyển tự chữ
Hán, ông Chu đã tiếp tục một truyền thống chính tả bắt nguồn ít nhất kể từ thế
kỷ 16.
Chữ Hán truyền thống, được phát minh cách đây hơn hai ngàn
năm, là một hệ thống chữ tượng hình, trong đó mỗi chữ trong ngôn ngữ lại được
thể hiện bằng một ký tự riêng biệt. Với người đọc, mỗi ký tự truyền đạt chủ yếu
là thông tin về ngữ nghĩa thay vì ngữ âm.
Điều này giúp chữ Hán có một lợi thế cố hữu: Nó có thể được
dùng như một hệ thống chung để viết các thứ tiếng địa phương khó hiểu của Trung
Quốc. Nhờ vậy, người nói tiếng Quan thoại và tiếng Quảng Đông có thể liên lạc với
nhau bằng chữ viết, với mỗi ký tự mã hóa cùng một ý nghĩa – “nhà,” “màu lam,”
“suy nghĩ,” v.v. – bất kể cách phát âm trong tiếng địa phương là gì.
Nhưng cũng vì thế mà hệ thống này mang trên mình một bất lợi
lớn: Do các ký tự không thể hiện thông tin về ngữ âm, nếu người đọc không có kiến
thức từ trước thì họ không thể biết cách phát âm một chữ Hán khi đọc.
Với người đọc, họ còn phải mang thêm gánh nặng là phải học
được hàng ngàn ký tự riêng biệt để biết chữ ở mức độ cơ bản: Đó là so với khoảng
hai chục ký tự mà người dùng bảng chữ cái Latinh phải biết.
“Bính âm không phải để thay thế chữ Hán; nó là để hỗ trợ chữ
Hán,” ông Chu giải thích trong một cuộc phỏng vấn với tờ The Guardian. “Nếu
không có bảng chữ cái thì anh phải học từ miệng đến miệng, từ tai đến tai.”
Kết quả là nạn mù chữ đã tràn lan khắp Trung Quốc mãi đến thế
kỷ 20 – ảnh hưởng đến 85% dân số, theo một ước tính. Nó cũng khiến người nước
ngoài đọc tiếng Trung vô cùng khó khăn.
Các hệ thống Latinh hóa đã được sử dụng trước kia, bắt đầu bằng
một hệ thống được phát triển cuối thế kỷ 16 bởi các nhà truyền giáo dòng Tên từ
châu Âu. Trước khi bính âm ra đời, hệ thống thông dụng nhất là Wade-Giles, công
trình của hai nhà ngoại giao người Anh vào cuối thế kỷ 19.
Nhưng các nhà ngôn ngữ học từ lâu đã đồng ý rằng hệ thống
Wade-Giles khó dùng và không chuẩn xác. Nó sử dụng một bộ ký tự đánh số cồng kềnh
để mô tả các thanh điệu trong tiếng Trung – những biến đổi có ý nghĩa trong cao
độ của giọng nói nhằm phân biệt các từ khác nhau trong tiếng Trung. Nó cũng
không phản ánh cách phát âm Quan thoại một cách trung thực.
Ban đầu, ông Chu và đồng nghiệp phải đối mặt với một loạt
các vấn đề nền tảng: Bính âm nên sử dụng bảng chữ cái Latinh, bảng chữ cái
Kirin, hay một bảng chữ cái mới? Làm sao đánh dấu được thanh điệu?
Mặc dù mối quan hệ liên minh gần gũi của Trung Quốc với Liên
Xô khiến bảng chữ cái Kirin có ưu thế, ủy ban cuối cùng đã sử dụng bảng chữ cái
Latinh do sự phổ biến của nó trên khắp thế giới. Các dấu phụ đơn giản, bao gồm
dấu sắc và dấu huyền, được dùng để đánh dấu âm điệu.
Được chính phủ Trung Quốc áp dụng vào ngày 11 tháng 2 năm
1958, bính âm nhanh chóng được ca ngợi. Nhưng ngay cả điều đó cũng không thể cứu
ông Chu trong Cách mạng Văn hóa, cuộc thanh trừng trí thức và những người khác
từ năm 1966 đến năm 1976 của Mao, trong đó hàng chục triệu người đã chết.
Năm 1969, chính quyền chụp mũ ông là “lực lượng học thuật phản
động” và đày ông đến làm ruộng tại một trại lao động ở vùng Ninh Hạ miền Trung
Bắc Trung Quốc. Ông ở đó hơn hai năm.
Khi trở về nhà, ông tiếp tục viết về ngôn ngữ, văn hóa, và
các sự kiện đương thời. Trong những năm 1980, ông giúp giám sát việc dịch cuốn
bách khoa toàn thư Britannica sang tiếng Trung.
Ông Chu là tác giả của hơn 40 cuốn sách, một số bị cấm ở
Trung Quốc và đến 10 cuốn được xuất bản sau khi ông đã 100 tuổi.
Trong các cuộc phỏng vấn không thường xuyên với các phương
tiện truyền thông phương Tây từ căn hộ khiêm tốn của mình ở Bắc Kinh, ông Chu
công khai phê phán cả chủ nghĩa cộng sản thời kỳ cách mạng (“Thú thật là tôi
không có gì tốt để nói về Mao Trạch Đông,” ông nói với AFP năm 2015) lẫn những
cải cách kinh tế của người kế nhiệm Mao, Đặng Tiểu Bình.
“Chuyện người Trung Quốc trở nên giàu có không quan trọng,”
ông nói trong cùng bài phỏng vấn. “Tiến bộ con người cuối cùng sẽ tiến tới dân
chủ.”
Ông Chu qua đời tại Bệnh viện Hòa Hợp Bắc Kinh, theo Beijing
News và các kênh tin tức truyền thống nhà nước khác của Trung Quốc. Bà Chu đã
qua đời năm 2002. Con trai ông, Chu Hiểu Bình (Zhou Xiaoping), một nhà vật lý
thiên văn, qua đời năm 2015.
Ngày nay, bính âm được hàng trăm triệu người sử dụng chỉ
riêng ở Trung Quốc. Học sinh Trung Quốc bắt đầu học đọc bằng hệ thống này trước
khi học chữ Hán.
Kết quả là tỷ lệ mù chữ ở Trung Quốc ngày nay ở khoảng 5%,
theo Unicef. Bính âm cũng là một phần của chương trình sư phạm chuẩn dành cho
người nước ngoài học tiếng Trung trên khắp thế giới.
Trong cuộc phỏng vấn với AFP năm 2015, ông Chu bày tỏ triết
lý mà ông nói là đã giúp ông sống sót trong những năm ở trại lao động. Có vẻ đó
là một đặc tính phù hợp với cuộc đời lâu dài của ông.
“Khi gặp khó khăn, anh phải lạc quan,” ông nói. “Người bi
quan thường sẽ chết.”
*
Margalit Fox là cây bút người Mỹ của tờ The New York Times.
Javier C. Hernandez đã đóng góp cho bản tin này.
Nguồn: http://nghiencuuquocte.org/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét