Nguyễn Ngọc Tư
Hồi đầu cũng không ai nghĩ tới chuyện làm một ranh giới giữa
hai nhà.
Con mương được đào chỉ vì lúc lập vườn, người ta cần đất để
lên liếp, đắp bờ, trồng mấy thứ cây ăn trái lâu năm. Mùa gặt, lần xuồng theo đường
nước ấy chở lúa từ ngoài ruộng sau về sân phơi cũng tiện. Vậy là giữa hai khu
vườn hai nóc gia có một con mương rộng chừng hai, ba thước tây, chạy dài đến hết
đất.
Những thứ cây mọc hai bên bờ mương không quan tâm đó là biên
giới, tầng lá đan vào nhau. Gốc ổi sẻ vườn kia vẫn vô tư rụng trái chín vườn
này. Rau muống, cần nước mọc chen nhau, nhà nào muốn ăn nấy hái. Bầy gà cứ bay
qua bay lại, bạ đâu đẻ đó, gốc chuối đống rơm, không quan tâm chuyện trứng nằm
vườn nào mới phải. Giàn bầu, mướp vắt dây qua mương, trái phía đâu cũng thơm phức
nồi canh nấu với tép đất. Đoạn giữa mương bắc cây tre hay thân so đũa cho tiện
qua lại sẻ chia vài viên chè trôi nước, mượn ít tỏi tiêu những ngày chưa thể đi
chợ xa, mà khỏi phải vòng ra lộ cái. Vườn dày cỏ tới cỡ nào, cũng có con đường
mòn mà người hai nhà thường đi tắt để qua lại với nhau.
Và đám con nít cũng tự do như ong và chim, không coi con
mương là thứ ngăn trở, bất tiện. Mùa khô, mương cạn lòng, không cần cầu tre, tụi
nhỏ chỉ phóng vèo đã qua vườn khác. Lúc bà mẹ kêu ới đứa trẻ vẫn còn lăn lóc đất
láng giềng, nhưng nó lên tiếng dạ thì đặt chân bờ liếp nhà mình. Vậy là tránh
được tội “suốt ngày xách đít đi chơi bên xóm”. Thằng nhỏ nhà này cũng hay oằn
nhánh bình bát cho con bé nhà kia hái trái chín đem dầm đường.
Gần tết nước giựt lộ nửa vách mương, mùa đìa. Tụi nhỏ hai
nhà rủ rê nhau đắp chặn từng đoạn mương bắt cá. Lựa mấy con lóc, trê vàng lớn
nhất đốt lửa nướng trui cùng ăn bên bờ mương, mớ cá còn lại chia đều cho hai
căn bếp, bữa cơm cũng phải rủng rỉnh đến tận một tuần. Lá rụng vào mương cứ mỗi
năm mỗi dày, hai nhà thay phiên đào một vài lớp bùn nhão bồi lên gốc dừa. Thứ đất
tan chảy vào đâu, cây oằn nhánh sai trái ở đó.
Những con mương ranh cứ nằm thanh thản giữa bao nhiêu khu vườn
miền Hạ, với cá trong lòng và bèo trên mặt nước, với tiếng trái rụng sau cú
chao mình của lũ chim đêm, với những cuộc lại qua của con người bất chấp đôi bờ
xa hơn một tầm tay với. Mương luôn bị vượt qua một cách dễ dàng, bằng cách người
quăng kẻ bắt lấy những món bánh nhà quê thơm thảo, hay cú đu nhánh cây để búng
mình sang bờ gọn bân của trẻ con. Gặp buổi cùng làm cỏ vườn, cuộc trò chuyện của
người hai nhà không vì mương nước lạnh mà thôi giòn giã. Nhất là khoảng tháng
tư cuối hạn khi lòng mương cạn tới đáy, cây mọc hoang dại hai bờ đã được đốn
làm củi chụm, mương chỉ là một hõm đất trũng đến gà con cũng có thể băng qua.
Lúc ấy ai mà biết được đến một ngày, cũng những đứa trẻ ngày
xưa, ai có gậy cầm gậy ai có dao cầm dao, máu vằn tia lên mắt, đứng hai bên bờ
lăm le xông vào nhau chỉ vì cái ranh đất đổ bằng tê tông không thẳng. Xê dịch một
tấc, nghĩa là được/ mất một tấc vàng. Ông bà mình xưa giờ nói đâu trúng phóc
đó, đâu có giỡn chơi.
Tên người không đổi, vẫn là Tư Chèo Bẻo, Sáu Đực, Út Lớn,
nhưng thời gian và cuộc mưu sinh đã sắm cho đám trẻ xưa những gương mặt vằn vện,
gai góc. Con mương ranh lâu rồi không còn ai đào đất bồi liếp, giờ cạn chỉ săm
sắp nước vào mùa mưa. Mọi thứ phơi ra hết, nhưng khó mà tả được cái rộng, sâu của
làn nước lạnh lẽo trong tâm tính con người.
Con mương ranh mà người hai nhà từng cùng tắm táp sau buổi
làm đồng về, giờ họ cùng tắm hằn thù hung hiểm.
Nguyễn Ngọc Tư
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét