Thứ Tư, 29 tháng 4, 2015

Chồng Mỹ cãi lệnh trên, về Việt Nam đưa gia đình vợ di tản 30/4

 

Hà Giang/Người Việt
Trong hàng ngàn câu chuyện tháng Tư, 1975, có lẽ hi hữu nhất là chuyện một nhân viên ngoại giao Mỹ cãi lệnh cấp trên, liều lĩnh bay về Việt Nam trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến để giúp gia đình bên vợ di tản.
Đó là câu chuyện của ông David Brown, lúc đó đang làm việc tại Tòa Đại Sứ Mỹ ở Tokyo. Ông bay về Sài Gòn trong những ngày cuối cùng của 30 tháng Tư, để tìm đường đưa gia đình vợ rời khỏi Việt Nam, dù ông bị cả hai Tòa Đại Sứ Mỹ ở Tokyo lẫn Tòa Đại Sứ Mỹ ở Sài Gòn, cấm chỉ không cho về.

Bà Tuyết Lê (trái) cùng cha (phải) và 5 người em sau khi được di tản đến Nhật, nơi chồng bà, ông David Brown phục vụ. Hình chụp bên ngoài Japanese Imperial Palace tại Tokyo. (Hình: gia đình David Brown cung cấp)
  
Câu chuyện này, bốn mươi năm sau, hai vợ chồng ông không ngờ lại có dịp ôn lại.
Và ký ức thật huyền diệu, cả những điều những tưởng đã ngủ yên, chỉ cần một gợi nhớ, thì cuồn cuộn trở về.
***
Đêm 27 tháng Tư, 1975, khi đã cùng cả gia đình vợ ngồi trên chuyến bay, ông David Brown, mới dám tin là mình đã thực sự an toàn rời khỏi Việt Nam. Nghĩ đến Tuyết, vợ ông đang mòn mỏi chờ Yokohama, ông lấy giấy bút, cắm cúi viết một mạch, cố ghi lại tất cả những gì xẩy ra từ khi hai người chia tay nhau ở Haneda Airport.
“Bây giờ, nếu tìm lại được cái bản thảo dài 16 trang đó, có thể tôi sẽ thấy những điều mình kể có chỗ sai. Nhưng cũng có những điều suốt đời không quên được.” Ông mở đầu câu chuyện.
Chẳng bao lâu sau khi David và nguời yêu là cô Bạch Tuyết tổ chức đám cưới ở Sài Gòn vào tháng Sáu năm 1969, Bộ ngoại giao Hoa Kỳ chuyển ông từ Việt Nam về Hoa Thịnh Đốn. Từ Hoa Thịnh Đốn, ông lại được cử đi Nhật Bản, tiếp tục sự nghiệp luôn thay đổi nhiệm sở của một nhân viên ngành ngoại giao.
Đầu năm 1975, lúc David và Tuyết đang cùng học tiếng Nhật tại trường dạy ngôn ngữ ở Yokohama, và đứa con đầu tiên của họ chưa đầy một tuổi, tình hình Việt Nam ngày càng căng thẳng. Mỗi buổi tối, qua chương trình tin tức của các đài truyền hình Nhật, họ chứng kiến những thất thủ liên tục của quân đội VNCH.
Trong khi thư của gia đình Tuyết ở Sài Gòn gửi đến vẫn cho rằng cơn khủng hoảng sẽ qua đi, tình hình Việt Nam sẽ ổn định, Tuyết và David biết chắc rằng tin họ có chính xác hơn nhiều. Một buổi tối, vừa ăn cơm vừa xem tin tức, họ chợt nhìn nhau rồi cùng nhận ra một sự thật não lòng và kinh hoàng là Sài Gòn đang rơi vào tay Cộng sản.
“Đến giữa tháng Tư, vợ chồng tôi như phát sốt vì lo lắng cho gia đình Tuyết. Qua bạn bè cùng làm việc tại Đại sứ quán Mỹ ở Tokyo, chúng tôi được biết sau một thời gian do dự, chính phủ Mỹ đang tìm cách đưa gia đình của các nhân viên Việt Nam và những ai mà tính mạng bị xem là nguy hiểm nếu Sài Gòn thất thủ, ra khỏi Việt Nam càng nhanh càng tốt.” David hồi tưởng.
* Từ Tokyo về Sài Gòn
Hai vợ chồng ông lo rằng, cha mẹ của bà Tuyết, vợ ông, vì có con gái kết hôn với một nhân viên làm ở phòng chính trị của ngoại giao Hoa Kỳ, chắc chắn sẽ bị nguy hiểm. Càng lo thêm khi cha mẹ Tuyết không đủ sức xoay sở đưa gia đình di tản.
“Tuyết nóng lòng muốn về Sài Gòn đưa cha mẹ và anh chị em rời Việt Nam,” mặc dù trước đó hai ông bà đã viết thư bảo là không đi, chỉ khẩn khoản nhờ Tuyết và chồng tìm cách giúp cho các anh chị em Tuyết di tản.” Ông kể tiếp.
Hai người thảo luận, rồi cùng quyết định rằng David mới là ngừơi nên trở về, vì Tuyết vừa phải trông con nhỏ, vừa chắc chắn không quen biết nhiều như chồng.
Nhưng việc ông David Brown về Sài Gòn lúc ấy không đơn giản.
Tiếp lời chồng, bà Tuyết kể rằng, trước đó không lâu, David đã nhiều lần gửi thư đến Bộ Ngoại giao và Đại sứ quán Hoa Kỳ ở Sài Gòn, tình nguyện về đó, giúp một tay cho việc di tản, nhưng hồi đáp là một mệnh lệnh “nhất định không được vào Việt Nam,” dù tiếng Việt lưu loát của ông là điều cần thiết. Để ông không tìm cách về Sài Gòn, cơ quan này đảm bảo là “gia đình bà Tuyết, vợ ông có nằm trong danh sách di tản.”
Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ tại Nhật Bản cũng chính thức ra lệnh cho David “không được liều lĩnh” về Việt Nam  giữa lúc mọi nỗ lực của chính phủ Hoa Kỳ đang dồn vào việc đưa người ra khỏi đất nước này.
Hai vợ chồng bàn luận, và cuối cùng, vào ngày 23 tháng Tư, 1975, cãi lệnh của cả hai tòa đại sứ, David mua vé một chiều của hãng máy bay Cathay Pacific từ Nhật về Sài Gòn. Họ bịn rịn và can đảm chia tay sau khi bà Tuyết đưa chồng đến phi trường Haneda.
David nói ông nhớ đổi máy bay ở Hồng Kông.
“Các chuyến bay Air Việt Nam bay về Sài Gòn gần như trống rỗng. Máy bay đáp xuống sân bay Tân Sơn Nhất vào lúc chập choạng tối. Tôi tìm được một taxi nhờ chở vào trung tâm thành phố, hy vọng tìm được người quen cho ngủ nhờ.” Ông tiếp tục câu chuyện.
Tuy nhiên, tại hai địa điểm đầu tiên, David đều được bảo bạn ông đã di tản. Cuối cùng, ngay trước giờ giới nghiêm, ông gặp được ông Charlie Coulter ở nhà. Cuộc gặp mặt đó thật may mắn, bởi vì Charlie Coulter hoạt động trong đường giây lén giúp người Việt di tản. Gọi là “lén” vì những đường dây này hoạt động trái lệnh của Đại Sứ Graham Martin.
“Thật ra, Đại sứ Martin lúc ấy cũng thừa biết là các đường dây di tản đang tích cực họat động, nhưng ông phải giả vờ cấm, để khỏi làm nản lòng giới chức chính quyền miền Nam Việt Nam.” David nhận định.
* Những đêm cuối ở Sài Gòn
Tối đầu tiên ở Sài Gòn, ông David nhỡ rõ mình hầu như không chợp mắt. Ông thức sớm cùng Charlie đi đến trung tâm chỉ huy di tản của tòa Đại Sứ, ở một tư gia, không xa quận Ba là mấy. Khi họ đến nơi thì một số nhân viên tòa đại sứ, làm việc dưới quyền một người bạn khác của David, tên là Lacy Wright, đang bận rộn cấp giấy thông hành chiếu theo một danh sách rất dài. Những nhân viên tòa đại sứ khác, đa số là ngừơi Việt Nam, sẽ mang giấy thông hành này giao cho ngừơi có tên danh sách và dặn họ phải đến một điểm hẹn bí mật đúng ngày đúng giờ để được bốc đi.

Toàn thể gia đình bà Tuyết Lê năm 1978, sau khi định cư ở San Francisco, California. Lúc này, mọi người đã có việc làm và đời sống tương đối ổn định.  (Hình: gia đình David Brown cung cấp)
Nắm rõ các thủ tục, David định tìm một người bạn để nhờ chở đi liên lạc, thì một người bảo ông “cứ việc lấy một chiếc xe gắn máy đang dựng trên sân cỏ mà đi, vì người chủ đã di tản rồi, ông muốn dùng bao lâu cũng được.” Nghe lời, David lấy đại một cái xe, lái xe đến Phú Nhuận, và sau khi loay hoay một hồi, ông móc nối được với Sự, người bạn trước kia cùng làm việc với ông ở quân đoàn III, và cũng từng là phù rể trong đám cưới của ông với Tuyết.
“Ngay cả với tình thân như vậy, nhờ vả Sự trong lúc chính bản thân ông ta đang tất bật tìm cách đưa gia đình ra khỏi Việt Nam cũng là hơi quá. Ông David Brown tâm sự, “nhưng Sự đồng ý ngay, nhận giúp tôi trao thư tay cho cha mẹ Tuyết tại một căn nhà ở chung cư Ấn Quang.”
Trong lúc ông David uống ngụm nước, bà Tuyết tiếp lời chồng:
“Trước khi David rời Tokyo, tôi đã dặn đi dặn lại là ông không đích thân đi tìm cha mẹ tôi. Vì chẳng may lúc đến đó, hai ông bà vẫn nhất định không chịu rời Việt Nam, thì việc để cho người xung quanh biết họ có liên hệ chặt chẽ với một người Mỹ, chắc chắn sẽ gây nhiều hiểm họa về sau.”
Trước ngày David rời Tokyo đáp chuyến bay đi Sài Gòn, Tuyết kể, bà đưa cho chồng một thư tay, dặn ông dấu kỹ vào người. Thư viết rằng David sẽ trở về Việt Nam để giúp bất cứ ai trong gia đình muốn di tản, và mọi ngừơi phải chuẩn bị đi ngay, không còn thì giờ để lưỡng lự nữa. Thư viết rằng sau khi Sài Gòn thất thủ, đời sống tại Việt Nam sẽ rất khó khăn cho bất cứ có liên quan mật thiết với người Mỹ, như thân nhân của Tuyết. Thư cũng nài nỉ cha Tuyết để cho các con đi, dù ông bà nhất định ở lại.”
Một vài giờ sau khi bạn ông đi trao thư, David kể, ông nhớ đó là buổi chiều ngày 24 tháng Tư, Liên, chị ruột của Tuyết hớt hải đến tìm ông tại trung tâm chỉ huy di tản tại tòa Đại sứ, báo tin cha mẹ Tuyết đã đồng ý ra đi. Cả gia đình sẽ đi, ngoại trừ bà ngọai của Tuyết quyết định ở lại. Báo tin xong, chị Liên ngập ngừng hỏi David là có thể sắp xếp cho gia đình chồng của cô di tản cùng với mọi người không?
Dĩ nhiên, David chỉ có một câu trả lời đúng trong hoàn cảnh ấy. Chị Liên cập nhật tình hình: Căn cứ của chồng chị ở Phù Cát (Bình Định) đã bị mất vào cuối tháng Ba. Anh Thảo, chồng chị đã mất tích. Chị với hai đứa con mới lẫm chẫm biết đi, cùng với gia đình chồng vất vả lắm mới tìm được đường từ Đà Nẵng vào Sài Gòn.
“Liên cho biết đến gặp tôi vì chị và gia đình chồng không tìm được cách nào để rời khỏi Việt Nam. Thế là, lúc ấy, thay vì chỉ cần xin mười hai giấy thông hành, tôi cần phải có những hai mươi cái.”
David kể ông đi gặp các viên chức lo việc di tản tại Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ, cho họ biết nhu cầu mới của mình. Họ nói “Không sao, chúng tôi có thể lo được.”  Họ dặn ông là hai xe tải sẽ đón tất cả họ hàng bên vợ của ông tại ngày giờ và địa điểm nhất định.
“Tôi nhấn mạnh với Liên là mỗi người chỉ được mang theo một chiếc túi nhỏ sách tay, vì thế nên dành chỗ cho những thứ không thể thay thế được khi đến Hoa Kỳ, chẳng hạn như giấy tờ, hình ảnh.” Ông David nói.
“Sau khi thu xếp xong mọi việc, tôi bỏ ra vài giờ tản bộ trên khắp nẻo Sài Gòn quen thuộc, bàng hòang trước những đổi thay sắp đến. Xe cộ Sài Gòn vẫn đông như mắc cửi, đường phố Sài Gòn vẫn nườm nượp những ngừơi. Không có dấu hiệu của sự hoảng loạn. Có lẽ tôi hiểu rõ là tình hình vô vọng hơn đại đa số người dân Sài Gòn. Nhưng cũng có lẽ họ đã thôi không buồn quan tâm đến những gì đang xẩy ra, miễn là cuộc chiến bất tận này kết thúc.”
Việc đón người tại đỉểm hẹn diễn ra như dự tính vào khoảng giữa trưa vào ngày 25, tháng Tư.
“Dồn  nhau vào hai xe vận tải với những cửa sổ đóng kín, tim chúng tôi đập thình thịch trong lồng ngực khi xe dừng lại ở cổng phi trường Tân Sơn Nhất. Sau cuộc kiềm soát qua loa, xe được phép đi vào một khu vực lớn có rào xung quanh.”
“Chúng tôi được đưa đến chỗ chơi bowling có tám lằn, khu vực này lúc đó đã chứa đầy hai phần ba những người tị nạn mặt mày đầy lo lắng. Tôi được báo tin có một trục trặc nhỏ. Ông Marcos, tổng thống Phi Luật Tân vừa ra lệnh cấm Mỹ không được di tản người đến Clark Field và Subic Bay. Mọi chuyến bay phải đình chỉ cho đến khi sắp xếp được địa điểm mới. Đêm đó, tất cả chúng tôi ngủ ngay trên những lằn chơi bowling.
“Sáng hôm 26 tháng Tư, vẫn chưa có lệnh nhúc nhích. Để giết thì giờ, một số ngừơi tìm cách làm thông những nhà vệ sinh bị quá tải. Nhưng đa số đứng ngồi không yên, và thời gian như ngừng lại. Cuối cùng, vào buổi chiều, các hàng dài bắt đầu di chuyển. Nhóm của chúng tôi được gọi tên vào khoảng 9 giờ tối. Giấy thông hành tạm vừa được cấp của mọi người được thu lại, còn passport Mỹ của tôi được xem xét kỹ luỡng, rồi chúng tôi được đẩy lên xe buýt đưa ra sân bay.”
Giờ chia tay Việt Nam đã điểm.
* Giã từ Việt Nam
Toàn bộ phi trường tối mịt, ngọai trừ ở xa một đoàn xe vans chuyển hành khách và hành lý qua một chiếc Boeing 747 sáng choang, với nhãn hiệu của Air France. Người ta rầm rì với nhau rằng đó là chuyến may bay đưa gia đình ông Thiệu và số vàng dự trữ của miền Nam Việt Nam di tản. Tin đồn về những tấn vàng ông Thiệu mang đi là tin mà nhiều năm sau người ta mới biết là thất thiệt.
Xa hơn nữa, một máy bay vận chuyển bốn động cơ C-130 của Không quân Mỹ C-130 chờ chúng tôi với cánh cửa rộng mở. Máy bay trống rỗng, tất cả mọi ghế được gỡ ra. Gia đình ông David  kéo nhau vào lòng máy bay, cùng với khoảng 200 người tị nạn khác.
“Chúng tôi được xếp ngồi hàng ngang mỗi dãy khoảng 20 người, và được dặn nắm chặt lấy hàng dây kéo ngang qua sàn máy bay. Một số nhân viên đi từng hàng kiềm soát xem mọi người có ngồi ngay ngắn chưa, rồi đến ngồi ở vị trí của họ cạnh cửa máy bay còn mở. Chỉ vài phút sau, mọi bóng đèn tắt ngúm, máy bay bắt đầu chuyển bánh chạy ra phi đạo. Hai đứa em của Tuyết, Tùng, 14 tuổi, và Phương, 9 tuổi, mỗi em nắm chặt lấy một cánh tay tôi. Rồi máy bay cất cánh, bay ở độ nghiêng tối đa, để tránh là một tiêu điểm ngon lành cho đơn vị phòng không của quân đội Bắc Việt có thể đã được thiết lập ngoài sân bay.”
Một giờ đồng hồ sau, khi hai đôi chân đã mỏi không thể chịu đựng nổi nữa, David kể, ông đứng lên, tự cho đó là đặc ân của hành khách mắt xanh mũi lõ duy nhất trên chuyến bay. Người nhân viên cho ông biết máy bay đang trực chỉ Guam.
“Họ cho tôi một chỗ ngồi tử tế, và tôi lấy giấy bút ra viết thư cho Tuyết, kể lại chi tiết những gì xẩy ra sau khi chúng tôi tạm biệt nhau ở phi trường Haneda năm ngày trước đó.”
Sáng ngày 27 tháng Tư, chuyến máy bay đưa David và gia đình vợ của ông di tản khỏi Việt Nam đáp xuống Guam, tại Air Force Base Anderson, cái nôi của những trận bom B-52 không ngừng dội trên những cánh rừng Việt Nam trong cuộc chiến. Sau nhiều giờ chờ đợi, David đựơc phép dùng điện thọai, và khi nối được đường dây với điện thoại tại ngôi nhà nhỏ của họ ở Yokohama, ông nghẹn ngào nghe tiếng khóc òa vỡ của vợ ở đầu dây.
Chiều hôm đó, ông David và gia đình vợ được chuyển qua trại Orote Point, nơi một rừng lều đang được dựng lên. Vài ngày sau người Việt tị nạn được tin Sài Gòn đã thất thủ.
Một vài ngày sau, chính phủ Hoa Kỳ ra lệnh cho David bay về Tokyo, mang theo cha mẹ vợ và các em vợ dưới 21 tuổi, tất cả, kể cả David là tám người. Những thân nhân còn lại được đưa đến trại tị nạn Pendleton. Ngôi nhà nhỏ của vợ chồng ông ở Yokohama bỗng ấm cúng hẳn lên.
Trên chuyến bay về Tokyo, David mới có thì giờ lo lắng vì việc ông cãi lệnh trên bay về Việt Nam chắc chắn sẽ phải nhận một trừng phạt nặng nề. Nhưng, thay vào đó, cả với tư cách chính thức lẫn cá nhân, các nhân viên Đại sứ quán Mỹ, từ Đại sứ Hodgson trở xuống, đã đón tiếp ông với vòng tay ân cần và ủng hộ.
“Cho đến giờ, tôi không bao giờ quên những cử chỉ thân ái, biểu lộ lòng tử tế và tình người của đồng nghiệp trong những ngày đầy biến động đó.” Ông David tâm sự.
“Sau khi mãn khóa đào tạo về ngôn ngữ và văn hóa Nhật, mà phải thú nhận là tôi phải vất vả lắm mới hòan tất, hai vợ chồng tôi đưa thân nhân Tuyết qua Mỹ để đòan tụ với gia đình ở San Francisco, nơi tất cả mọi người bắt đầu cuộc sống của người tị nạn ở Mỹ.”
Và cũng đến lúc đó, câu chuyện di tản của gia đình vợ ông David Brown mới chấm dứt.
***
Liên lạc tác giả: hagiang@nguoi-viet.com

VÒNG QUANH THẾ GIỚI NGÀY 29/4/2015



1. Tin Nepal: Số tử vong vượt quá 4.300 người

Người dân trong vùng ảnh hưởng động đất của Nepal đang cấp thiết cần nước uống và các nhu yếu phẩm, trong lúc các nhân viên cứu hộ và cứu trợ nhân đạo đang tìm cách đến Nepal và đến với các nạn nhân đang kẹt trong các đống đổ nát.
Liên Hiệp Quốc nói thiên tai này ảnh hưởng đến 8 triệu người, trong đó 1,4 triệu người đang cần được cứu trợ thực phẩm. Các giới chức hôm thứ Ba nói tổng số tử vong đã tăng cao hơn 4.300 người, và 8.000 người khác bị thương.  

http://www.voatiengviet.com/content/so-tu-vong-dong-dat-o-nepal-vuot-qua-bon-ngan-nguoi/2737731.html

2. Tin Hoa Kỳ: Thủ tướng Nhật phát biểu trước Quốc hội lưỡng viện Mỹ

Hôm nay 29/04/2015, nhân chuyến công du Hoa Kỳ, Thủ tướng Nhật Shinzo Abe sẽ ngỏ lời trước các nghị sĩ của cả hai viện Quốc hội Mỹ. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử, một lãnh đạo chính phủ Nhật phát biểu trước Quốc hội lưỡng viện Hoa Kỳ, 70 năm sau khi chấm dứt Thế chiến thứ hai.
Trong cuộc họp báo chung, Tổng thống Obama đã ca ngợi đoạn đường mà Hoa Kỳ và Nhật Bản đã đi qua, gần 70 năm sau khi chấm dứt Thế chiến thứ hai. Theo ông Obama, trong 7 thập niên qua, hai nước Mỹ, Nhật đã trở thành không chỉ là đồng minh, mà còn là những đối tác và người bạn thật sự.

http://vi.rfi.fr/chau-a/20150429-lan-dau-tien-mot-thu-tuong-nhat-phat-bieu-truoc-quoc-hoi-luong-vien-my/

Thứ Ba, 28 tháng 4, 2015

Không còn chào mừng nữa, mà là giáo dục cải tạo

      Theo Phan Ba


    Börries Gallasch từ Sài Gòn
    Phan Ba dịch từ Der Spiegel 23/1975 (02/06/1975)


    Những giây phút kinh hoàng ở Sài Gòn: một người tự thiêu trên cái bục của tượng đài chiến sĩ ở cạnh Quảng trường Lam Sơn, giống như trên một bàn thờ.

    Không ai biết người này đã hy sinh vì điều gì – những người lính giật lấy giấy tờ nằm cạnh thân thể đang cháy, những cái có thể đưa ra một lời giải thích, ra khỏi tay của nhà báo. Phim bị tịch thu, đám đông bị giải tán.

    Mặc dù vậy, vụ tự sát của con người vô danh đó vẫn có tác động trực tiếp: sự thay đổi bầu không khí ở Sài Gòn đã có thể cảm nhận được. Nỗi lo sợ lại xuất hiện ở trên bề mặt.


    "Sài Gòn, tháng Năm 1975

    Niềm hân hoan của những ngày đầu tiên đã qua rồi, tiếp theo tiếng reo hò mừng chiến tranh kết thúc, tiếp theo sự nhẹ nhỏm vì đã không xảy ra những vụ xử án kinh hoàng mà người ta từng lo ngại trước đó, là một sự bất an không rõ ràng. Vì tinh thần hòa giải, cái mà các ông chủ mới nói về nó không biết mệt, đã bắt đầu mất hình dạng. Không có hành động phù hợp đi theo lời nói – thay vào đó, điều ngược lại thường hay xảy ra nhiều hơn.

    Năm ngày sau vụ tự thiêu, một phiên tòa của tín ngưỡng: không chỉ “Playboy” và “Penthouse”, cả sách của Graham Greene và Kenneth Galbraith cũng bị đưa lên giàn hỏa thiêu … Trong một cửa hiệu cạnh đường Tự Do, một gia đình nằm trong vũng máu của họ. Người Ấn Độ đó đã từ chối không chịu hy sinh “văn hóa đồi trụy” đó cho những ngọn lửa của cách mạng. Các dân quân trẻ tuổi trả lời cho sự bướng bỉnh tư sản bằng một khẩu súng tiểu liên, kể cả vợ con.

    “Chính miệng của mình là một vũ khí để tự sát”, Tướng “Big” Minh nói, con người im lặng đó, người đã là tổng thống cuối cùng trong hai ngày và là người thanh lý Nam Việt Nam cũ, và bây giờ đang tưới hoa lan trong ngôi vườn của ông như là một người về hưu không có lương hưu.

Công An Khởi Tố Hình Sự, Khám Xét Nhà Anh Nguyễn Viết Dũng


 Sáng ngày 27/4/2015, nhà cầm quyền CSVN đã kéo đến đọc lệnh và tiến hành khám xét nhà riêng của anh Nguyễn Viết Dũng tại Nghệ An. Được biết, lực lượng CA đã thu giữ một bộ quân phục người lính Việt Nam Cộng Hoà và một ổ cứng máy tính của anh Nguyễn Viết Dũng.



Chiều cùng ngày, ông Nguyễn Viết Hùng – bố ruột anh Nguyễn Viết Dũng đã trực tiếp đến trụ sở CA quận Hoàn Kiếm, Hà Nội để yêu cầu được thăm gặp con. Tại đây, phía CA đã từ chối đề nghị thăm gặp và thông báo miệng với gia đình rằng anh Nguyễn Viết Dũng đã có lệnh khởi tố hình sự tội danh ‘gây rối trật tự công cộng’ theo điều 245 bộ luật hình sự.

Trước đó, trưa ngày 12/4/2015, người thanh niên 29 tuổi này đã bị CA Hà Nội bắt ‘khẩn cấp’ khi đang… ngồi uống trà đá cùng bạn bè. Rõ ràng, cáo buộc ‘gây rối trật tự’ đối với Nguyễn Viết Dũng hoàn toàn là một sự vu khống trắng trợn.

Là một thanh niên sinh sau chiến tranh và lớn lên ở Nghệ An, Nguyễn Viết Dũng có một tình yêu cháy bỏng đối với Việt Nam Cộng Hoà. Một tuần trước ngày bị bắt, Nguyễn Viết Dũng và những người bạn của anh đã công khai ra tuyên cáo thành lập đảng Cộng Hoà với biểu tượng là lá cờ vàng ba sọc đỏ.

Hành động vinh danh những giá trị tự do, nhân bản của chính thể Việt Nam Cộng Hoà là nguyên nhân chính khiến Nguyễn Viết Dũng bị chế độ độc tài cộng sản bỏ tù.


Nguồn:danlambao

VÒNG QUANH THẾ GIỚI NGÀY 28/4/2015


1. Tin Hàn Quốc : Thuyền trưởng phà Sewol lãnh án chung thân

Tư pháp Hàn Quốc tăng bản án 36 năm tù thành chung thân để trừng phạt thuyền trưởng phà Sewol. Tai nạn chìm phà hồi tháng 4/2014 đã làm 304 hành khách, đại đa số là học sinh, thiệt mạng. Ngoài sơ sót trách nhiệm của một thuyền trưởng, ông Lee Jun Seok, 69 tuổi còn bị quy tội « sát nhân ».
Ngày 28/04/2015 trong phiên xử phúc thẩm, Tòa án Gwangju đã bác bỏ bản án của tòa sơ thẩm hồi tháng 11/2014 và thẩm định rằng ông Lee Jun Seok, ngoài thiếu sót bổn phận của một vị thuyền trưởng, còn là thủ phạm gây ra cái chết cho 304 nạn nhân trong vụ chìm phà ngày 16/04/2014.


2. Tin Malaysia: Trung Quốc lo ngại về tuyên bố của ASEAN

Trung Quốc “vô cùng lo ngại” về Tuyên bố của ASEAN liên quan vấn đề Biển Đông, nhắc đến việc tôn tạo, bồi đắp đang diễn ra ở Biển Đông. Ngày 28/4, sau khi bế mạc hội nghị cấp cao tại Malaysia, ASEAN đã ra Tuyên bố Chủ tịch về các vấn đề khu vực và quốc tế, trong đó có vấn đề Biển Đông.
Tuyên bố viết: “Chúng tôi chia sẻ quan ngại sâu sắc của các Lãnh đạo về việc tôn tạo, bồi đắp đang diễn ra ở Biển Đông, làm xói mòn lòng tin, sự tin cậy và phương hại đến hòa bình, an ninh và ổn định ở Biển Đông.”

PHỎNG VẤN GIÁO SƯ VŨ QUỐC THÚC

  Từ trái Tổng thống Ngô Đình Diệm, Giáo sư Kinh tế Vũ Quốc Thúc và Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu

Từ trái Tổng thống Ngô Đình Diệm, Giáo sư Kinh tế Vũ Quốc Thúc và Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu
RFA files 
Trong 40 năm qua, người Việt lưu lạc khắp nơi trên thế giới với đủ thành phần xã hội trong đó không hiếm những tinh hoa của Miền Nam Việt Nam. Trong chuyên đề Ký ức 40 năm chúng tôi xin giới thiệu Giáo sư Kinh tế Vũ Quốc Thúc, từ năm 1954 cho đến 1975 ông từng là Thống đốc Ngân hàng Quốc gia, Cố vấn phủ Tổng thống Ngô Đình Diệm. Đến Đệ nhị Cộng hòa khi Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu chấp chính ông giữ chức Quốc vụ khanh đặc trách kinh tế hậu chiến và là Khoa trưởng của Đại học Luật khoa Sài Gòn trong thập niên 60. Mặc Lâm: Thưa Giáo sư, trong vài ngày tới là đúng 40 năm ngày cuộc chiến tranh Việt Nam kết thúc. Thời điểm này hàng triệu người từng vượt biên tìm cái sống trong cái chết thì hình ảnh cuối cùng của chiếc xe tank húc đổ dinh Độc lập không thể phai nhạt trong tâm trí của họ được. Giáo sư có ký ức gì cho riêng mình trong ngày này thưa ông?Giáo Sư Vũ Quốc Thúc: Không bao giờ mình quên được mốc thời gian 30 tháng Tư đó, đối với tôi có thể nói đó là ngả rẽ lịch sử. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 tôi đã toan tự vẫn nhưng có một người anh bà con lúc ấy đang lánh nạn ở Sài Gòn anh ta có khuyên tôi thôi thì nếu mà chú đã chấp nhận chết thì tội gì không đợi họ đến, đợi họ đã nếu có cách chống lại họ thì chống, nếu họ có giết mình thì đàng nào cũng chết mà! Tôi thấy lời khuyên đó hợp lý thành ra tôi tìm cách đi chui, đi vượt biên.Mặc Lâm: Qua cuộc chiến tranh Việt Nam, được tham gia vào chính trường cũng như giữ các vai trò quan trọng trong hai chính phủ Giáo sư nghĩ gì về sự chấm dứt có thể hiểu được vào ngày 30 tháng 4 thưa ông?Giáo Sư Vũ Quốc Thúc: Trong bất cứ cuộc chiến tranh nào xảy ra giữa mình và ngoại bang thì ta đánh cho đến cùng nhưng trong cuộc chiến tranh người Việt chống nhau với người Việt thì đương nhiên có một lúc nào đó người ta không thích đánh nhau nữa vì người ta thấy đều là đồng bào mình cả tại sao lại chém giết lẫn nhau? Bấy giờ nó là vấn đề tâm lý đương nhiên người Việt chống nhau với người Việt thì không thể nào kéo dài được. Con người vẫn là con người cái suy tư của tôi là như thế. Vì vậy cho nên hãy làm mọi cách tránh đừng cho thảm họa chiến tranh tái diễn. Nếu chiến tranh mà ngoại quốc nó đánh mình thì tất nhiên không thể nào mình chịu rồi. Nếu mà mình với mình đánh nhau chỉ vì ý thức hệ hay quyền lợi thì hoàn toàn vô lý.Mặc Lâm: Thưa Giáo sư ông đã từng có thời gian làm cố vấn cho Tổng thống Ngô Đình Diệm, theo ông thì Tổng thống Diệm có khuynh hướng dân tộc tự chủ như nhiều người nhận xét và từ lập trường này mà ông bị giết bởi quân đội vào năm 1963 hay vì chế độ gia đình trị bởi sự lộng hành của các người trong gia tộc Ngô Đì

Trong cuộc chiến nào thì người dân vẫn là những người chịu đau thương nhiều nhất
Trong cuộc chiến nào thì người dân vẫn là những người chịu đau thương nhiều nhất

Thứ Hai, 27 tháng 4, 2015

CHIẾN TRANH VIỆT NAM CÓ THỰC SỰ CẦN THIẾT?

Chiến tranh Việt Nam có thực sự cần thiết?



Nguyễn Hưng Quốc



Liên quan đến biến cố 30 tháng Tư 1975, có một câu nói của một quan sát viên quốc tế mà tôi rất tâm đắc: “Không có ai chiến thắng cả. Tất cả đều là nạn nhân” (There were no winners, only victims).

Nhưng tại sao lại không có người chiến thắng?

Trước hết, không còn hoài nghi gì nữa, người miền Nam chắc chắn là những người thua cuộc và từ đó, là những nạn nhân không những của chiến tranh mà còn của hoà bình với hàng trăm ngàn người bị bắt đi cải tạo, hàng triệu người liều mạng vượt biển để tìm tự do và hầu như tất cả đều sống trong cảnh vừa lầm than vừa bị áp bức.  
                                                                         
Mỹ cũng không phải là những kẻ chiến thắng. Nói cho đúng, họ thắng trong cuộc chiến tranh lạnh với khối xã hội chủ nghĩa bằng việc phân hoá Trung Quốc và Liên Xô đồng thời bằng cách vô hiệu hoá hiệu ứng liên hoàn, gắn liền với thuyết domino vốn là nguyên nhân chính khiến họ tham dự vào cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Về phương diện quân sự, họ không thắng không bại: họ đã rút quân ra khỏi Việt Nam mấy năm trước khi cuộc chiến tranh chấm dứt. Tuy nhiên, về phương diện chính trị, họ đã thất bại trong nỗ lực bảo vệ một đồng minh là chế độ Việt Nam Cộng Hoà ở miền Nam. Sau đó, về phương diện tâm lý, họ là những nạn nhân với hội chứng Việt Nam, một ám ảnh đầy day dứt trong lương tâm của những người từng tham chiến. Đó là chưa kể hơn 58.000 người lính bỏ mình tại Việt Nam cũng như hàng mấy trăm ngàn người bị thương tật trở thành một gánh nặng trong xã hội Mỹ.

Thế còn miền Bắc?