Thứ Bảy, 8 tháng 3, 2014

Một Quốc Gia Tình Nghĩa

Một Quốc Gia Tình Nghĩa

Alan Phan

corruption1
1 March 2014
Trong quan sát của tôi về lịch sử cận đại, tôi không thấy các chánh trị gia xứ nào có thể sánh với các quan chức Việt Nam về chỉ số may mắn. Đất nước chúng ta có thể được Guinness  liệt kê vào bảng kỷ lục về …”tình nghĩa”.

Ông cựu Tổng Thống Ukraine vừa phải thoát thân qua Nga và lúng túng không biết giải thích sao về những tài sản mênh mông khắp xứ, kể cả một dinh thự trên 138 hectares đẹp hơn cung điện của những Nga Hoàng ngày xưa. Ông Khadafi thì không kịp giải thích, còn ông Mubarak thì ở trong tù lâu quá, trí nhớ hơi kém.
Trong khi đó, tôi nhớ khoảng mấy năm về trước, vài quan chức Việt nói những tài sản kếch xù các mạng truyền thông tìm ra là do công sức “buôn thúng bán bưng” của các bà vợ hiền. Không những đầy ắp “tình” mà các vị này còn may mắn là có cả kho núi tiền do “tài” của những bậc phu nhân. Vì nghe chuyện này mà một thằng bạn Việt Kiều của tôi bỏ xứ Thuỵ Sĩ lạnh lẽo về Việt Nam đi khắp nước, cặp kè hơn 30 triệu bà cô không chồng. Sau 10 năm vất vả, vẫn không thấy một bà nào đủ “tài” tháo vát như các bà vợ quan chức.
Tôi nhớ có khuyên là nó đã bỏ sót một bộ phận không nhỏ là…đạo quân bán vé số…khắp thành thị làng quê. Nếu nhắm vào số lượng biết vui hưởng hạnh phúc XHCN cực nhọc này, thì chẳng mấy chốc bạn tôi sẽ thành đại gia…tỷ phú đô la, ăn xài cả chục đời không hết.

Ngoài “tình”, vài quan chức gần đây còn tuỳ thuộc vào “nghĩa”. Chỉ cần 1 người em kết nghĩa là một ông có thể xây xong một dinh thự hơn 16 ngàn mét vuông, trị gia vài chục tỷ đồng. Theo đánh giá của xã hội tình nghĩa này, càng làm lớn thì càng may mắn và càng có nhiều người em “kết nghĩa”. Tôi nghe nói một quan Trung Ương phải có ít nhất là chục ngàn người em kết nghĩa; còn ở các quận xã nghèo nơi “đất cày lên sỏi đá” thì tệ lắm cũng kiếm được vài trăm em kết nghĩa. Một người em dư xây một biệt thự, vài trăm em thì lên thiên đàng mấy hồi.

Do đó, ở đâu không biết, nhưng tại Việt Nam, mỗi ngày trên TV đều có những giải đặc biệt để xem quan chức hay đại gia nào có nhiều “tình” nhất hoặc nhiều “nghĩa” nhất. Đúng là thời Nghiêu Thuấn cũng không sánh bằng.

Vì sự tôn trọng “tình nghĩa” bàng bạc khắp lịch sử, một giáo sư tuyên giáo trung ương phải phẫn nộ mà kết tội bọn đế quốc Mỹ là tội ác của họ “trời không dung, đất không tha”. Chứ tình nghĩa như người anh kết nghĩa Trung Quốc thì em Việt Nam phải nghìn đời nhớ ơn, năm nào cũng sẵn sàng đem khoáng sản, mỏ dầu ngoài khơi, đi kiếm tiền bọn tư bản, nhập siêu đem về tặng anh kết nghĩa. Còn chuyện chiến tranh biên giới năm 1978 chỉ là một hiểu lầm nhỏ nhặt trong gia đình.

Cách đây vài tuần tôi ghé ngang Hồng Kông, tình cờ gặp một anh bạn cũ làm cho Bộ Ngoại Giao Mỹ. Sau vài trao đổi về thời tiết và gia đình, tôi hỏi anh về tiến bộ trong đám phán TPP, nhất là với Việt Nam. Anh ta cười, "Sao mày nghiêm túc quá. Hết giờ làm việc rồi, hãy để tao enjoy ly whisky này cho trọn vẹn nghe.” Rồi anh kể chuyện tiếu lâm mà anh nói là có thực, đang được hành lang Bộ Ngoại Giao phổ biến.

Một chính trị gia Mỹ đi công cán ở một quốc gia mới nổi. Cô đơn, ông bắt chuyện và gạ được một phụ nữ địa phương ở quán bar lên phòng mình, sau khi thoả thuận giá cả. Ông hăm hở vào cuộc ngay khi cà hai vừa leo lên giường. Bỗng người phụ nữ la làng,” Bớ làng xóm, coi thằng đế quốc tư bản này đang hiếp tôi nè.” Ông sợ quá, cả thân hình như khô cứng, người chết lặng. Bà ta lại chu chéo,” Tôi la gì kệ tôi, sao ông lại ngừng?”

TPP đành phải đợi vậy.

Alan Phan

 http://www.gocnhinalan.com/blog-cua-alan-va-bca/mt-quc-gia-tnh-ngha.html

Thứ Sáu, 7 tháng 3, 2014

Tội bẻ cong luật pháp

Tháng 3 6, 2014
Phạm Thị Hoài

Ngày 18/11/1976, học giả Robert Havemann, nhà bất đồng chính kiến nổi tiếng nhất ở CHDC Đức, người được coi là cha đẻ tinh thần của cuộc cách mạng hòa bình năm 1989, viết một bức thư ngỏ gửi Tổng Bí thư Erich Honecker về việc bạn ông, cũng một nhà bất đồng chính kiến lừng danh, nghệ sĩ Wolf Biermann, bị cấm về nước sau chuyến lưu diễn tại Tây Đức. Havemann từng là bạn tù của Honecker thời Quốc xã, từng viết thư thỉnh cầu Honecker thả một người bất đồng chính kiến khác và được chấp thuận, từng được Honecker che chắn ở một số vụ, và dù đã bị khai trừ khỏi Đảng, cấm giảng dạy, sa thải khỏi trường đại học và Viện Hàn lâm Khoa học, tước mọi chức vụ trong đó có chức đại biểu Quốc hội, ông vẫn coi mình là một người cộng sản.

Bốn ngày sau, 22/11/1976/, tuần tin Spiegel (Tây Đức) đăng bức thư đó. Trong thư, Havemann kêu gọi Honecker cho phép Wolf Biermann được về nước, “trước hết để tránh nhục nhã và thiệt hại cho tất cả chúng ta và uy tín của đất nước ta“, bởi lẽ – nguyên văn: “tất cả những cáo buộc và nghi ngờ rằng Wolf Biermann thù địch với CHDC Đức đều hoàn toàn vô lối. Wolf Biermann đã phê phán, phê phán mạnh mẽ và sắc nhọn. Nhưng những đồng chí ưu tú nhất của chúng ta cũng đã sử dụng vũ khí phê phán mạnh mẽ không khoan nhượng, nhất là khi cần vạch ra những khuyết điểm và nhầm lẫn của chính chúng ta, chẳng phải luôn luôn là như vậy hay sao? Wolf Biermann đã phê phán theo cách đó, phê phán trong tinh thần của người cộng sản. Ai không chịu nổi những lời phê phán ấy là thừa nhận rằng mình không có gì để đáp lại ngoài bạo lực.” Ông phân tích tiếp, với chiến dịch khai trừ Wolf Biermann “các đồng chí đã biến anh ấy thành hình ảnh lí tưởng trong mắt hàng triệu thanh niên Đông Đức. Giờ đây anh ấy là hiện thân của một thứ hi vọng lớn cuối cùng về một chủ nghĩa xã hội mà những thanh niên ấy đã thôi không còn mơ ước.”

Bốn ngày sau, 26/11/1976, Tòa án huyện Fürstenwalde ra lệnh quản thúc Havemann tại gia, vì tội “hoạt động đe dọa đến an ninh và trật tự công cộng“. Nơi ở và toàn bộ gia đình ông bị 200 nhân viên An ninh Quốc gia (Stasi) thay nhau canh gác suốt ngày đêm. Ông bị cấm liên lạc với phóng viên, nhân viên ngoại giao nước ngoài và 70 công dân Đông Đức “có vấn đề” khác. Năm 1979, tòa ra tiếp lệnh khám nhà, tịch thu nhiều tài liệu và đồ đạc, phạt ông một khoản tiền lớn, 10.000 Mark Đông Đức, với tội danh vi phạm Luật Ngoại tệ, vì ông đã cho xuất bản nhiều tác phẩm ở nước ngoài. Đơn kháng án của ông bị bác. Luật sư của ông bị tước quyền hành nghề. Ba năm sau, 1982, Havemann qua đời.

So với ước chừng tổng cộng 250.000 tù nhân chính trị trong vòng 40 năm ở CHDC Đức, những người thậm chí bị tống giam chỉ vì buông một lời nói kháy chính quyền hay Anh Cả Liên Xô, ông Havemann, “kẻ thù số 1 của nhà nước”, với ba năm quản thúc và một khoản tiền phạt có thể coi là còn được luật pháp của đất nước chuyên chính vô sản này nương nhẹ. Song gần hai mươi năm sau khi ông qua đời, 7 thẩm phán và công tố viên của nhà nước Đông Đức đã tham gia vào hai vụ án kết tội ông, đến lượt họ, lại phải ra tòa vì tội Rechtsbeugung: lợi dụng luật pháp, cưỡng đoạt luật pháp, lũng đoạn luật pháp, tha hóa luật pháp, nắn bóp và co giãn luật pháp… để cản trở công lí, nói nôm na là bẻ cong luật pháp.

Một trong những điểm then chốt trong hiệp thương thống nhất giữa hai nhà nước Đức sau Chiến tranh Lạnh là nguyên tắc hòa giải. Không được dùng luật pháp của Tây Đức để phán xử thực tiễn xã hội Đông Đức. Chỉ có thể dùng chính luật pháp của Đông Đức để khôi phục công lí cho những gì đã diễn ra tại đó. Thực tế áp dụng nguyên tắc hòa giải này, sau một phần tư thế kỉ, là một quá trình vô cùng gian nan, đầy tranh cãi, với những câu hỏi còn lại không thể trả lời, những nguyện vọng không thể đáp ứng, những vấn đề khó lòng giải quyết thỏa đáng. Song nó tránh cho nước Đức thống nhất, sau gần nửa thế kỉ chia cắt dân tộc, cảnh hận thù và chia rẽ của “bên thắng cuộc” và kẻ bại trận.

Vụ án xử 7 cán bộ của ngành tư pháp Đông Đức nói trên cho thấy sự phức tạp ấy và là một bài học đáng nghiền ngẫm về tư pháp chính trị. Nó kéo dài gần ba năm, từ 1997 đến 2000. Đầu tiên, Tòa án Tiểu bang Frankfurt/Oder xử cho cả 7 bị cáo trắng án, Viện Công tố kháng nghị. Tiếp theo, Tòa án Tối cao Liên bang ra quyết định hủy bản án, chuyển vụ án về một tòa án tiểu bang khác để xét xử lại. Cuối cùng, Tòa án Tiểu bang Neuruppin, sau 26 phiên tòa, đã kết án 2 trong số 7 người nói trên về tội bẻ cong luật pháp, kết hợp với tội tước đoạt tự do của người khác, liên quan tới lệnh quản thúc Havemann.
Theo kết luận của tòa, hai cán bộ tư pháp của nhà nước Đông Đức này đã biết rõ rằng việc truy tố nhà bất đồng chính kiến Havemann không phải là để thực thi một công lí trên cơ sở xác định sự thật bằng những công cụ của luật pháp, mà trước hết và chủ yếu là để vô hiệu hóa hay triệt tiêu một đối thủ chính trị. Họ đã tham dự với đầy đủ ý thức vào một kịch bản soạn sẵn, được thỏa thuận trước với những cơ quan và cá nhân đứng ngoài ngoài hệ thống tư pháp, với bản án đã định trước ngay từ đầu. Với những bản án bỏ túi và phiên tòa trình diễn đó, họ đã vi phạm chính luật pháp của Đông Đức, nơi nguyên tắc “xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” cũng được long trọng ghi trên mặt giấy.
*
Khi nhận lệnh quản thúc, ông Havemann tuyên bố: “Tôi đâu có ý định rời khỏi CHDC Đức, vì mỗi bước đi ở đây là một bước ta có thể chứng kiến chế độ đã và đang đánh mất toàn bộ uy tín, chỉ cần vài sự kiện và cú huých từ bên ngoài là đủ để vứt Bộ Chính trị vào sọt rác.” Mười ba năm sau, Bộ Chính trị Đảng SED quả nhiên biến mất. Cựu Tổng Bí thư Honecker cùng vợ tháo chạy khỏi đất nước, trốn vào Đại sứ quán Chile tại Moskva xin tị nạn chính trị.

Nước Đức mất gần 2 thập niên để giải quyết di sản của nền tư pháp xã hội chủ nghĩa Đông Đức. 374 vụ bẻ cong luật pháp với 618 bị cáo được đưa ra xét xử, trong đó 5 người bị phạt tiền, 176 người bị kết án tù, trong đó có 63 thẩm phán, 56 công tố viên, 5 thẩm phán và công tố viên thuộc tòa án quân sự và 41 nhân viên tư pháp khác. 8 trong số này chịu án tù từ 5 đến 10 năm.

Thật khó hình dung, mười, hai mươi năm, ba mươi năm hay năm mươi năm nữa chúng ta sẽ làm gì với di sản của nền tư pháp Việt Nam hiện tại. Những thẩm phán, đại diện Viện Kiểm sát và các nhân viên tư pháp tham gia các vụ xét xử những người bất đồng chính kiến, mới hôm kia là blogger Trương Duy Nhất, bằng những bản án bỏ túi rồi sẽ phải chịu trách nhiệm gì? Chúng ta hay tự an ủi rằng họ sẽ phải đứng trước tòa án của lương tâm và tòa án của lịch sử. Song lương tâm thường phán quyết có lợi cho chủ của nó. Còn đợi lịch sử xếp xong lịch xét xử thì thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đã hết từ lâu.
© 2014 pro&contra

 http://www.procontra.asia/?p=4032

Thứ Năm, 6 tháng 3, 2014

Tra tấn bằng điện và ớt

Theo Pháp Luật online, bà Trên, mẹ của Huỳnh Thế Anh, cho rằng con trai mình bị công an đánh đập dã man.Theo Pháp Luật online, bà Trên, mẹ của Huỳnh Thế Anh, cho rằng con trai mình bị công an đánh đập dã man.

Theo báo Pháp Luật online giữa tháng 2/2014, ngày 7/2 tại quận Bến Lức, tỉnh Long An, đã xảy ra một vụ vi phạm luật pháp rất kỳ quái: một số nhân viên công an thuộc đơn vị Cảnh sát 113 dùng gậy cứng, xích sắt, roi, đánh đập một thanh niên 24 tuổi đang cùng bạn ngồi uống nước trong một quán nhỏ. Sau khi dùng điện tra tấn, nhóm 4 nhân viên cảnh sát này đã dùng ớt cay sát vào mắt và vào hạ bộ của anh thanh niên, làm anh này gần như phát điên, la hét rồi ngất lịm đi.

Phóng viên Mai Long của báo Pháp luật về tận nơi để tìm hiểu, chụp ảnh và viết bài về vụ việc này, đã gặp anh thanh niên Huỳnh Thế Anh vừa ở bệnh viện được đưa về nhà, mình mẩy thâm tím, mất ăn mất ngủ liền 2 ngày. Nhà báo này cũng gặp bà mẹ anh Huỳnh Thế Anh là bà Trần Thị Trên, 56 tuổi, trong tình trạng ốm yếu, hoang mang trước cảnh con trai đang thất nghiệp, lại bị 4 nhân viên cảnh sát hành hung tàn bạo một cách vô cớ.

Chuyện xảy ra có thể tóm tắt như sau. Một cuộc va chạm xảy ra giữa một xe tải và một xe gắn máy, trở thành một cuộc chửi bới nhau ồn ào một hồi tại một phố nhỏ giữa thanh niên địa phương và người lái xe. Tan cuộc cãi vã một tốp Cảnh sát 113 mới đến. Nhóm thanh niên tản đi, chỉ còn anh Huỳnh Thế Anh ngồi lại trong quán, tự nghĩ rằng mình không có liên quan gì đến vụ ồn ào vừa qua. Thế rồi anh bị trói tay, giải đến trụ sở công an xã Hữu Thạnh gần đó và tại đây 4 nhân viên cảnh sát mặc sắc phục đóng kín cửa, hỏi cung anh một cách tàn bạo, thay phiên nhau đấm đá, đánh anh bằng gậy, xích sắt, và gí điện gí vào các đầu ngón tay, ngón chân anh, mặc cho anh la hét, ngất lịm đi nhiều lần. Họ không cho anh ăn uống, còn lấy ớt bột loại cực cay xát vào mắt anh cho sưng vù lên rồi đè anh xát ớt cay vào hạ bộ của anh cho đến khi anh bất tỉnh.

Đêm đó, họ giải anh lên công an huyện Bến Lức tiếp tục hành hạ tra tấn anh. Hôm sau, bố mẹ anh phải lên nhận anh, đưa vào bệnh viện để khám và được chữa trị khẩn cấp rồi họ cho về nhà vì không còn chỗ.

Khi gia đình hỏi, cơ quan công an huyện kết luận rằng anh Anh ‘’được trở về gia đình, không có tội lỗi gì ‘’, nhưng không hề giải thích vì sao anh lại ở trong tình trạng thê thảm như vậy. Họ cố tình bênh che, xí xóa vụ phạm pháp ‘’tra tấn một cách tàn bạo độc ác một công dân lương thiện ‘’, gây ra bởi 4 nhân viên cảnh sát thuộc đơn vị Cảnh sát 113 , là đơn vị cảnh sát đặc biệt, có nhiệm vụ thường trực can thiệp khẩn cấp, 24/24 giờ, qua số điện thoại 113, giữ gìn trật tự an ninh xã hội, bảo vệ an toàn cho mọi công dân có nguy cơ bị bức hại.

Gia đình anh Anh đã gửi đơn khiếu nại gần một tháng nay nhưng không thấy một hồi âm nào. Bài báo của báo Pháp luật cũng rơi vào câm lặng.

Vụ khủng bố, tra tấn công dân một cách độc ác bởi những nhân viên cảnh sát mặc sắc phục này không thể coi là việc nhỏ, lặt vặt, không đáng kể do không có ai chết, để bị chìm vào im lặng, vào sự vô cảm của nhân dân ta và của toàn thế giới văn minh.

Không thể lờ đi, cho qua được!

Bởi vì Việt Nam vừa được vào Hội Đồng Nhân quyền của Liên Hiệp Quốc. Bởi vì chính phủ VN vừa cam kết sẽ thực thi và thúc đẩy nhân quyền với công dân nước mình với toàn thế giới. Hơn nữa, bởi vì Việt Nam cũng đã tuyên bố tham gia Công ước chống tra tấn dưới mọi hình thức.

Vậy mà một đơn vị của Cảnh sát 113 trực thuộc Tổng cục Cảnh sát Phòng chống Tội phạm trong Bộ Công An đã bất chấp luật pháp, bất chấp nghĩa vụ bảo vệ công dân trong cơn khẩn cấp, đã ngang nhiên tùy hứng đánh đập tra tấn một công dân như dưới thời trung cổ.

Vậy mà cả Bộ Công an, cả Tổng cục Cảnh sát phòng chống tội phạm với hơn 30 viên tướng vẫn bất động, vô cảm, coi là chuyện không đáng kể. Cả gần 500 đại biểu Quốc hội, kể cả đoàn đại biểu của tỉnh Long An, cũng im hơi lặng tiếng.

Cám ơn báo mạng Dân Làm BáoDiễn Đàn Chân trời mới đã đưa bài báo và ảnh của nhà báo Mai Long viết về hoạn nạn của anh Huỳnh Thế Anh phổ biến rộng. Bố và mẹ anh đang bị các bệnh hiểm nghèo, bản thân anh đang thất nghiệp không có chỗ dựa, nay bị ê ẩm toàn thân, lưng bị nhức, hạ bộ bị sưng tấy, rất cần được hỗ trợ . Anh vẫn ghi nhớ lời hăm dọa của một nhân viên cảnh sát: «Tao đánh cho mày mang tật cả đời '’.

Rất mong Xã hội Dân sự đang lớn lên trong xã hội Việt Nam cũng như các nhà báo, blogger tự do sẽ không bỏ qua vụ ‘tra tấn độc ác bằng điện và bằng ớt cực cay» rất kỳ quái này, phổ biến rộng rãi ra thế giới, cho các tổ chức bảo vệ Nhân quyền quốc tế bài viết kèm theo ảnh của nhà báo Mai Long, hỗ trợ mạnh mẽ cho anh Huỳnh Thế Anh và bà Trần Thị Trên ở Long An, cảnh tỉnh một nhà nước bệnh hoạn, bảo vệ cuộc sống của những công dân lương thiện nhưng thấp cổ bé miệng trước một bộ máy công an đã hoàn toàn hư đốn này.
 
http://www.voatiengviet.com/content/tra-tan-bang-dien-va-ot/1865969.html

Chiến tranh lạnh, bộ mới, tác giả Putin



Ngô Nhân Dụng

Trước khi ông Yanukovych, cựu tổng thống Ukraine tuyên bố ngưng thảo luận hiệp ước thương mại với Cộng Ðồng Châu Âu (EU), đại diện của EU là cựu ngoại trưởng Cộng Hòa Tiệp, Stefan Füle, đã tới thuyết phục ông ta thêm một lần nữa. Trong cuộc thảo luận diễn ra ở dinh tổng thống Ukraine, ông Füle sốt ruột vì các thông dịch viên tiếng Tiệp và tiếng Ukraine chậm chạp quá. Ông đề nghị nói chuyện với nhau bằng tiếng Nga mà cả hai người đều thông thạo.

Cuộc gặp gỡ không đưa tới đâu, nhưng đối với ông Vladimir Putin, tổng thống Nga, thì điều có ý nghĩa tiếng trong cuộc thương thuyết bất thành là tiếng Nga được dùng làm ngôn ngữ chính. Cả hai nước Ukraine và Cộng Hòa Tiệp trước đây đều nằm trong một khối, cả hai đều theo lệnh một người Nga, các lãnh tụ thay phiên nhau ngồi ở điện Kremlin! Ông Putin đang ngồi ở chỗ các Sa hoàng và các ông Stalin, Brehznev trước đây đã ngồi. Từ khi lên nắm quyền tới nay, Putin tìm cách nhắc nhở cho dân Nga, và thế giới chung quanh, phải nhớ Nga từng đóng vai bá chủ cả một đế quốc, các nước chư hầu kéo dài suốt từ Âu sang Á Châu.

Ðối với thế giới bên ngoài, nhất là đối với dân chúng Mỹ, cuộc Chiến Tranh Lạnh đã chấm dứt khi Liên Bang Xô Viết sụp đổ năm 1991. Ông Vladimir Putin không nghĩ như vậy. Ðối với thế giới, chiến tranh lạnh là một cuộc cạnh tranh giữa hai khối tư bản và cộng sản. Nhưng đối với ông Putin và đa số dân Nga bây giờ, đó chính là một cuộc chạy đua giữa hai cường quốc, Nga và Mỹ, Mỹ được các nước Tây Âu hỗ trợ. Ông Putin từng nói rằng vụ sập đổ của Liên Bang Xô Viết là tai họa lớn nhất trong thế kỷ 20. Ðối với dân Nga, biến cố đó giúp họ xóa bỏ chế độ cộng sản kìm hãm không cho đất nước phát triển và tiến bộ. Nhưng đối với người lãnh đạo trong điện Kremlin, đó là một tai họa. Vì khi một đế quốc tan rã mất luôn quyền chi phối các nước chung quanh để làm giầu cho những nhà quý tộc của mẫu quốc hưởng. Cho nên ông Putin và giới quý tộc mới ở Nga muốn quay ngược chiều lịch sử, cố vớt vát, làm sống lại những ngày huy hoàng cũ, dù không cần biết được lợi bao nhiêu so với phí tổn phải chịu.

Ông Putin đã “tổ chức” một cuộc chiến tranh lạnh mới, từng bước một. Trong thời gian đó, các chính phủ Mỹ và Tây Âu vẫn hành động với giả thiết là chiến tranh lạnh đã chấm dứt rồi. Nghĩ rằng chiến tranh lạnh đã chấm dứt, cả thế giới đã chấp nhận hệ thống kinh tế tư bản, và nhiều quốc gia cùng chạy đua trên đường dân chủ hóa, cho nên dân chúng các nước Mỹ và Âu Châu nhìn các cuộc tranh chấp trên thế giới hoàn toàn theo tiêu chuẩn lợi hại về kinh tế. Mỗi hành động đều phải xét xem sau cùng ai sẽ được lợi gì trong thị trường cạnh tranh. Nếu đầu tư vào Iraq mà không có lợi, thì rút vốn về. Nếu mình không có lợi ích hơn dù ai thắng, ai bại trong cuộc nội chiến ở Syria, thì không nên bỏ quá nhiều vốn liếng chính trị cũng như tiền bạc, vũ khí vào đó. Với niềm tin tưởng kinh tế thế giới đang toàn cầu hóa, không thể tránh được, mà cuối cùng loài người ở đâu cũng biết chế độ dân chủ tự do sẽ mang lại kinh tế phồn thịnh hơn cả, các chính phủ Mỹ và Âu Châu vẫn coi nước Nga của ông Putin là một “đối tác” cần có mặt trong những hội nghị G-8 hay G-20, những diễn đàn lo chuyện trao đổi kinh tế. Ngoài ra, lâu lâu nhờ ông ta làm môi giới trong các cuộc mặc cả với Iran, với Syria, vân vân.

Nhưng ông Putin đã soạn sẵn một kịch bản riêng. Bất cứ hành động nào của chính phủ Nga cũng nhắm vào mục đích giành lại ảnh hưởng của thời đế quốc Nga hoàng cũng như thời Liên Xô; nay đã mất. Putin dính đến chuyện Bắc Hàn, cũng vì muốn bảo đảm chính phủ Nga có một ghế ngồi bên cạnh Trung Quốc, Nhật và Mỹ khi bàn chuyện an ninh vùng Ðông Bắc Châu Á. Viện trợ vũ khí cho Syria và bênh vực bạo chúa Assad cũng vì muốn chứng tỏ đế quốc Nga chưa bị đẩy hoàn toàn ra khỏi vùng Trung Ðông. Nhưng màn chính trong kịch bản của Putin diễn ra ở các nước “Cộng Hòa” cũ thuộc Liên Bang Xô Viết, và một số nước Ðông Âu. Hậu quả là Putin tái lập một tình trạng chiến tranh lạnh, theo lối mới.

Ðế quốc Nga tan đã gây mất mát rất nhiều, chỉ vì chế độ cộng sản tham nhũng và bất lực hơn cả thời Nga hoàng. Về mặt tâm lý, Putin và giới quý tộc Nga, gồm các cựu sĩ quan công an KGB và các đại gia mới, thấy họ muốn “rửa nhục.” Thử tưởng tượng, trong hầu hết thế kỷ 20, Âu Châu vẫn chia làm hai phe. Một bên là khối NATO, với Mỹ, Anh, Pháp, cho tới Thổ Nhĩ Kỳ. Bên kia là khối Warzava, liên minh quân sự giữa Liên Xô và các nước Ðông Âu. Bây giờ, khối Warzava đã tan biến không còn một vết tích. Trong khi đó khối NATO không những vẫn sống mà còn tìm cách bành trướng. Các nước cộng sản cũ ở Ðông Âu chạy đua nhau xin gia nhập NATO, ai cũng biết mục đích là để được bảo vệ, không còn sợ Nga xâm lăng nữa. Ngay cả những nước vùng biển Baltic như Lithuania, Estonia và Latvia, trước nằm trong Liên Xô, với số kiều dân và người gốc Nga đông đúc, cũng xin vào NATO. Khối NATO đã can thiệp vào các cuộc nội chiến trong Liên Bang Nam Tư cũ, làm cho Serbia, một nước anh em của Nga phải chịu thua nhục nhã. NATO còn can thiệp cả đến những xứ Châu Phi như tại Libya, và đang toan tính ở Syria. Ðối với ông Putin, bất cứ khi nào NATO thắng một ván cờ là ông ta thấy nước Nga bị mất mặt. Ông phải thực hiện những kịch bản mà ông soạn cho các nước thuộc Liên Xô cũ, kéo họ trở lại trong vùng ảnh hưởng. Nếu ba nước Lithuania, Estonia và Latvia mà không được Nato bảo vệ, thì chắc ông Putin cũng đã nhòm ngó rồi.

Sáu năm trước, Putin đã cắt được hai vùng Abkhazia và South Ossetia ra khỏi nước Georgia, quê hương của ông Stalin. Ðầu mối của cuộc xâm lăng này cũng là việc Georgia thảo luận việc tham gia NATO. Năm nay, Putin vừa dụ dỗ, vừa dọa nạt, khiến Cựu Tổng Thống Ukraine Viktor Yanukovych cắt đứt liên lạc với Âu Châu. Ðể bù lại, Nga hứa viện trợ 15 tỷ đô la cứu vãn cảnh ngân sách khiếm hụt vì nền kinh tế mà chính ông ta, gia đình và các đại gia của ông ta làm cho suy sụp. Sau khi ông Yanukovych nắm quyền mấy năm, người con trai của ông đã trở thành tỷ phú Mỹ kim! Yanukovych đã thấy một tấm gương trước đó. Trong Tháng Chín, chính phủ Armenia, một nước cũng thuộc Liên Xô cũ, đã bãi bỏ một cuộc thương nghị thương mại với Châu Âu, rồi ký một hiệp ước quan thuế với Nga, cũng có giá trị như một hiệp ước tự do mậu dịch. Ông Putin rõ ràng có kế hoạch lôi các nước đàn em cũ bỏ EU để “trở về” với Nga. Còn các nước Mỹ và Âu Châu vẫn giả thiết rằng cuộc chiến tranh lạnh đã chấm dứt. Họ chỉ nhìn vào các cuộc cạnh tranh kinh tế thay vì tranh giành ảnh hưởng địa lý chính trị giữa các cường quốc. Vì vậy, cả thế giới vô tình để ra một khoảng trống cho ông Putin thực hiện kịch bản của mình.

Nhưng hành động sau cùng của ông Putin có thể sẽ thay đổi thái độ của không riêng gì các chính phủ Mỹ và Tây Âu mà cả thế giới bên ngoài, cũng như các lân bang của Nga. Ðưa sáu ngàn quân Nga vào bán đảo Crimea, mặc quân phục nhưng không có phù hiệu quốc gia, ông Putin đã xâm lăng, chiếm cứ một vùng thuộc nước láng giềng, với mục đích rõ ràng là xúi vùng đó ly khai khỏi Ukraine. Ðây là một hành động thách thức đối với các nước Châu Âu và Mỹ. Một hình thức tuyên chiến với Ukraine, và đe dọa các quốc gia khác trong vùng.
Lý do mà ông Putin đưa ra để lấy cớ chiếm Crimea, là bảo vệ những người gốc Nga (chiếm 55% trong dân số hơn hai triệu người). Dân Âu Châu còn nhớ, năm 1938 Hitler cũng nêu ra đúng luận điệu như vậy khi đánh chiếm vùng Sudetenland thuộc nước Tiệp Khắc: Tấn công để bảo vệ người dân gốc Ðức tại đó. Các nước Châu Âu sau cùng đã phản đối Hitler, và cuộc Chiến Tranh Thế Giới Thứ Hai bắt đầu.

Liệu biến cố ở Crimea năm nay có gây nên một cuộc chiến tranh lớn khác hay không? Chắc không, nhưng tất cả tùy thuộc những hành động trong các ngày sắp tới của ông Putin. Ông có thúc đẩy cho vùng Crimea tuyên bố độc lập, rồi xin nhập trở lại vào nước Nga hay không? Hay ông chịu dừng lại để cho chính quyền Crimea chỉ đòi thêm quyền tự trị đối với Ukraine? Vùng Crimea vẫn thuộc ảnh hưởng Nga từ ba thế kỷ trước, và mới được “tặng” cho Ukraine năm 1954; nhưng trong hiệp ước năm 1994 chính phủ Nga đã xác nhận tôn trọng lãnh thổ Ukraine toàn vẹn. Nếu Crimea ly khai, sau cuộc trưng cầu dân ý vào cuối tháng này, thì chính phủ Ukraine ở Kiev sẽ làm gì? Tinh thần ái quốc của dân Ukraine không thua kém ai. Họ còn nhớ chính họ là nạn nhân của Liên Xô, đặc biệt khi ông Stalin dùng nước họ làm thí nghiệm chương trình tập thể hóa nông nghiệp vào những năm 1930-34, khiến hàng chục triệu người chết đói. Dân Ukraine có chịu nhục để cho nước láng giềng cướp đất hay không? Nếu ông Putin cho Crimea ly khai, liệu chính phủ mới ở Ukraine có kêu gọi khối NATO giúp đỡ hay không?

Cho tới này các chính phủ Châu Âu đều tỏ ra họ vẫn tin rằng ông Putin không thúc đẩy tới một cuộc chiến tranh với cả nước Ukraine. Chính phủ Mỹ nói cứng rắn hơn các chính phủ Châu Âu, nhưng khả năng hành động vẫn bị hạn chế, ngoài các món viện trợ kinh tế cấp thời. Trước hết, dân chúng Mỹ không thấy nước họ có quyền lợi nào bị ảnh hưởng vì biến cố ở Crimea và Ukraine (Chỉ có cổ phần của công ty Pepsi Cola bị xuống giá nặng, vì nhãn nước ngọt này bán sang Nga rất nhiều). Hải Quân Mỹ vốn không có mặt trong vùng Hắc Hải, mà cũng không có lợi gì nếu đi vào vùng đó. Cho nên, vũ khí duy nhất mà chính phủ Mỹ có thể dùng để “trừng phạt” ông Putin là kinh tế. Thị trường chứng khoán ở Nga đã xuống 10% vì cơn khủng hoảng. Giá trị đồng Rúp của Nga cũng xuống như vậy.

Nhưng việc phong tỏa kinh tế Nga sẽ không thành công, như đã có ảnh hưởng đối với Iran chẳng hạn. Vì nước Nga tự túc được nhiều thứ, từ thực phẩm đến nhiên liệu và nguyên liệu. Cuộc khủng hoảng ở Crimea, đang làm Nga được lợi, vì giá dầu, khí tăng lên, là những thứ xuất cảng nhiều nhất của Nga. Ðồng Rúp xuống giá có thể giúp hàng hóa của Nga dễ xuất cảng hơn. Cho nên, nếu ông Putin nhất quyết cắt vùng Crimea ra khỏi nước Ukraine, chính phủ Mỹ chỉ có thể “trừng phạt” ông ta bằng cách phong tỏa tài sản của nhóm lãnh đạo và các đại gia Nga. Nếu các ngân hàng Mỹ được lệnh không được làm ăn với bất cứ công ty hay ngân hàng nào của Nga, thì việc xuất cảng của Nga sẽ bị ngưng trệ. Trước đây, biện pháp này đã chứng tỏ có hiệu lực đối với giới lãnh đạo Nga một vài lần; trong những vụ nho nhỏ. Lần này, muốn có hiệu quả cần kêu gọi Châu Âu cùng hành động.
Mỹ rất khó thuyết phục các nước Châu Âu phong tỏa kinh tế Nga. Nước Pháp sắp giao hai mẫu hạm Mistral cho Nga, một thương vụ gần hai tỷ Mỹ kim, khiến chính phủ Pháp khó chống lại Nga. Nước Ðức đang xuất cảng những món rất đắt tiền sang Nga, họ cũng dè dặt. Các nước Châu Âu và Nga tùy thuộc lẫn nhau về kinh tế. Gần 10% thương mại quốc tế của các nước châu Âu là mua bán với Nga; hơn 90% với các nước khác. Nhưng 41% nền ngoại thương của Nga tùy thuộc vào quan hệ với Châu Âu. Nga cần đến những khách hàng này, nếu ông Putin không quan tâm thì các nhà tư bản mới ở Nga cũng quan tâm. Giá cổ phần của công ty dầu khí Gazprom đã tụt giảm 14% trong ngày Thứ Hai, vì viễn tượng xung đột Nga, Châu Âu.

Một phần ba số khí đốt dùng ở Châu Âu nhập cảng từ Nga, với các ống dẫn khí đi qua lãnh thổ Ukraine. Nga không thể quyết định ngưng cung cấp khí đốt, vì đó là một nguồn ngoại tệ không thể thiếu được. Trái lại, họ cần phải bảo vệ lòng tín nhiệm của khách hàng, nếu không dân Châu Âu sẽ đi tìm các nguồn cung cấp đáng tin cậy lâu dài hơn. Liên hệ kinh tế có thể là một đòn ẩy để các nước Châu Âu can thiệp với Nga trong vụ Ukraine.
Vì sau cùng, cả Mỹ lẫn các nước Anh, Pháp, Ðức phải công nhận một cuộc chiến tranh lạnh đang bắt đầu, do ông Putin khởi động. Giao thiệp giữa Tây phương và Nga không còn như trước đây năm, mười năm nữa. Mỹ đã tuyên bố “chuyển trục” từ Châu Âu và Ðại Tây Dương sang Á Châu và Thái Bình Dương. Nhưng biến cố ở Ukraine nhắc nhở chính quyền Mỹ và dân Mỹ biết rằng ở nước Nga vẫn có nhiều người muốn bành trướng ảnh hưởng của một đế quốc cũ, bất chấp các quy tắc ngoại giao của thế giới văn minh. Người Mỹ cũng như dân Châu Âu phải chấp nhận cuộc chạy đua trong cuộc chiến tranh lạnh mới. Chúng ta sẽ chứng kiến một cuộc chiến tranh lạnh kéo dài ở Châu Âu trong mươi năm tới, đó là tính lúc đó ông Putin đã mãn hai nhiệm kỳ tổng thống.

Khi cuộc chiến tranh lạnh trước mở màn, một người có ảnh hưởng lớn đến chiến lược của chính phủ Mỹ trong cuộc đương đầu với khối Nga Xô là Ðại Sứ George Kennan. Năm 1947, nước Mỹ đang lo nhiều nước Tây Âu biến thành cộng sản, quân Nga có thể xâm lăng sang Châu Âu, Trung Cộng đang lên chân ở nước Tàu, vân vân, thì ông George Kennan đã đề nghị một chiến lược gọi là “ngăn chặn” (containment), thay vì tấn công. Ông tin rằng nước Mỹ không cần đánh, chỉ cần ngăn chặn không cho Nga bành trướng, thì về lâu về dài chính đế quốc Nga sẽ sụp đổ. Chiến lược này đã được các chính phủ Mỹ áp dụng suốt thời Chiến Tranh Lạnh, và cuối cùng ông Kennan đã tiên đoán đúng. Trong cuộc chiến tranh lạnh mới, nước Mỹ đang cần có một ông George Kennan khác, mặc dù so với Stalin thì Putin chỉ là một cán bộ KGB trung cấp mà thôi!

 http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/viewarticlesNVO.aspx?articleid=183864&zoneid=7#.Uxk4S8oUpZw

Thứ Ba, 11 tháng 2, 2014

Màn tuồng vụng ở Genève

Thứ trưởng Ngoại giao Việt Nam Hà Kim Ngọc đọc diễn văn.Thứ trưởng Ngoại giao Việt Nam Hà Kim Ngọc đọc diễn văn.

 
Cuộc sát hạch định kỳ (UPR) về nhân quyền ở Việt Nam vừa diễn ra ở Genève. Chưa bao giờ người Việt Nam ta từ các phía hội tụ ở Genève đông đến thế. Và trước thanh thiên bạch nhật, ngay giữa một trung tâm chính trị-kinh tế-tài chính-du lịch và văn hóa hàng đầu của thế giới, nhà nước CS Việt Nam vừa trình diễn một vở tuồng khá là đông khách xem tối 5/2/2014.

Đội tuồng đến từ Hà Nội gồm có gần 30 nam nữ diễn viên chưa kể cả một ê-kíp phó nhòm quay phim và chụp ảnh khá đồ sộ. Thành viên của đội có đủ mặt đại biểu các ngành liên quan đến nhân quyền: các bộ Ngoại giao, Công an, Tư pháp, Thông tin truyền thông, Lao động…cùng một số các nhà tu hành được lựa chọn kỹ để hết lời ca ngợi chính sách nhân quyền tệ hại rõ ràng của nhà nước CS. Họ mang đến một tập báo cáo dài hơn 20 trang để tuyên đọc một cách long trọng khác thường, và những câu trả lời được viết sẵn cho những câu hỏi được dự đoán trước. Mỗi diễn viên đều học thuộc lòng kịch bản đó của vở tuồng. Được coi là vở tuồng, vì các “diễn viên” có thể có ý kiến riêng không phù hợp với kịch bản vẫn cứ phải nói theo đúng kịch bản, không được đi trệch ra ngoài một ly, do đã được cấp trên, có thể là Bộ Chính trị xét duyệt kỹ.

Gây ấn tượng sớm nhất cho bản báo cáo nói trên của chính phủ VN về nhân quyền là báo Viet Nam Net ở trong nước, đã công bố toàn văn bản báo cáo đó trên mạng với yêu cầu bạn đọc ghi bình luận tức thời ngay bên dưới theo dạng “Comment Like/or Dislike“. Đúng ngày 5/2/2014 VN Net công bố kết quả là chỉ trong ngày đầu, sau 24 giờ phổ biến, đã có 66 ý kiến “thích” và 3329 ý kiến “ không thích”. Sau 48 giờ kết quả là 82 “thích” và 3892 “ không thích”, nghĩa là kịch bản vở tuồng đã bị chê ngay trước khi được trình diễn. Tỷ lệ thật đáng buồn: 1/50, cứ 100 người chỉ có 2 lời khen!

Dư luận thế giới, các đại biểu của Liên Hiệp Quốc chỉ mong Nhà nước VN tỏ ra biết điều, đối xử tử tế hơn đối với nhân dân nước mình về mặt tôn trọng nhân quyền, có đôi chút tiến bộ theo hướng tích cực, nhưng sự thật hiển nhiên là tình hình xấu đi một cách nghiêm trọng, bộ máy công an tỏ ra hung hãn có hệ thống hơn trước, bộ máy tư pháp vẫn xét xử không công khai không theo luật, chỉ theo chỉ thị của đảng CS, công đoàn tự do vẫn bị cấm tuyệt đối, tù nhân chính trị vẫn bị đối xử tàn tệ, báo chí tư nhân vẫn bị cấm ngặt, hàng loạt nhà báo và luật gia bị tù đầy, tra tấn đánh đập, ốm đau hiểm nghèo không được chữa bệnh. Dẫn chứng về mọi mặt không hề thiếu, còn đầy rẫy trên tin tức, phim ảnh và nhân chứng sống. Cã xã hội VN và người nước ngoài đều biết rõ ràng.

Có thể nói màn diễn tuồng ở Genève đã thất bại nặng nề. Nó không đánh lừa được công chúng ở thời đại thông tin cực kỳ nhanh nhạy chuẩn xác. Càng che dấu càng lòi ra sự run sợ trước sự thật đanh thép. Bức ảnh linh mục Lý bị bịt miệng giữa tòa án, bức ảnh anh đảng viên CS Nguyễn Anh Đức bị tên công an đạp dày vào giữa mặt khi quẳng anh lên xe sờ sờ ra đó. Ngay trong dịp Tết Giáp Ngọ này, ai đã cho cấp dưới báo tin chính thức với con trai và cháu nội ông Nguyễn Hữu Cầu – người Tù xuyên thế kỷ - rằng ông sẽ được trả tự do trước Tết sau 38 năm tù đày (chỉ vì những vần thơ chống chế độ độc đảng quan liêu tham nhũng), rồi lại nuốt ngay lời hứa cuội ấy? Còn ai không cho gia đinh anh Đinh Nguyên Kha mang áo ấm vào trong nhà tù cho anh để anh không sao ngủ được vì lạnh giá nằm trên sàn xi măng với chiếc chiếu mỏng, lại không cho đóng cửa số để gió lạnh làm người tù ho suốt đêm, một kiểu tra tấn độc ác? Vậy mà tại Genève họ dám mở mồm ba hoa là họ có thái độ nhân đạo với tù nhân, lại còn dám long trọng khẳng định rằng không có một người tù chính trị nào ở Việt Nam.

Thử hỏi ông bộ trưởng Bộ Ngoại giao và bộ trưởng Bộ Công an: luật sư Cù Huy Hà Vũ có phải là tù chính trị hay tù hình sự? Ông Lê Quốc Quân là tù chính trị hay tù kinh tế ? Các ông lý giải ra sao khi trưng ra tòa chứng cớ những bao cao su rách cũ để gán tội hình sự cho ông Hà Vũ, làm trò cười cho thế giới.

Có những điều nói dối rất lộ liễu trâng tráo không chút e dè. Đại diện bộ thông tin truyền thông ba hoa là cấp thẻ nhà báo cho 17.000 người, nhưng không có một tờ báo nào của tư nhân thì lại dấu kín.

Việc diễn tuồng Nhân quyền ở Genève không những vụng về mà còn dại dột nữa - có thể nói là cực kỳ dại dột. Hơn 20 trang của bản báo cáo thành tích nhân quyền trên giấy trắng mực đen từ nay sẽ là chứng cớ hiển nhiên để buộc tội nhà cầm quyền CS, buộc tội ngành ngoại giao lừa dối, buộc tội ngành công an tàn bạo độc ác vào hàng đầu của thế giới, ngành tư pháp chuyên chà đạp luật pháp theo lệnh các đảng ủy nhưng vẫn leo lẻo là “xử án công khai và chỉ theo luật pháp ngiêm minh”. Bản báo cáo trong tay các chiến sỹ dân chủ và nhân quyền Việt Nam và trong tay các tổ chức Nhân quyền quốc tế từ nay đã là vũ khí đấu tranh sắc bén về mặt pháp lý và công luận, là sợi giây ràng buộc chính quyền VN phải làm đúng theo những điều họ tự khen, hứa hẹn và cam kết .

Cái thế đấu tranh của các chiến sỹ dân chủ và nhân quyền mùa Xuân này đã tạo nên một lực mới, một thế mới. Một thế trận ngoại giao dân chủ và nhân quyền được mở ra, trẻ trung, năng động, phối hợp khá nhịp nhàng trong với ngoài nước. Không có bộ trưởng, thứ trưởng, không có cục này, vụ nọ, không có trụ sở cố định, nhân viên và nhà báo truyền thông dân chủ và nhân quyền thực thi nền ngoại giao nhân dân chiếm thế chủ động trên mặt trận đối ngọai quan trọng này. Anh chị em ta được thế giới dân chủ nể trọng, tin yêu và tiếp sức. Sự thật, chính nghĩa là thế mạnh áp đảo lừa dối và phi nghĩa, khinh dân, hại dân.

Có gì quý hơn là chúng ta có người bạn đồng hành mới, ông Đặng Xương Hùng, một cán bộ cấp Vụ phó của bộ ngoại giao, được đào tạo bài bản, được giao chức vụ quan trọng Lãnh sự VN ở Genève. Trong sự kiện UPR, ông Hùng có vai trò đặc biệt là nhận được sớm bản Báo cáo Nhân quyền từ trước tháng 10/2013 để tuyên truyền, quảng bá, tranh thủ các cán bộ ngoại giao quốc tế luôn có mặt đông đảo ở Genève. Rất có thể chính bản báo cáo đại lừa dối này là giọt nước làm tràn ly, để ông có quyết định hệ trọng nhất trong đời là chào vĩnh biệt đảng CS, từ bỏ chức vụ cao cấp trong ngành ngoại giao vừa có thế vừa béo bở, được không ít người mơ ước.

Đã vậy ông còn lên tiếng chân thành khuyên nhủ các đồng chí cũ của ông hãy trở về với nhân dân mình, đồng bào mình, đừng nhận vai trong vở tuồng nhân quyền rất trâng tráo khó coi, làm thầy cãi cho ma quỷ. Ông Xương còn có thiện chí làm“cố vấn” tự nguyện cho đoàn ngoại giao nhân dân ở ngay Genève. Hành xử chính trị dung cảm của ông lãnh sự chắc chắn làm rung động dữ dội hàng ngũ cao cấp của Bộ Ngoại giao, kể từ bộ trưởng Phạm Bình Minh trở xuống. (Xin nhắc lại thái độ dũng cảm chính trị cuối năm 1990 của ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch - thân sinh ông bộ trưởng hiện tại, khi ông can ngăn Bộ Chính trị chớ chui vào chiếc bẫy chết người của Trung Quốc ở Thành Đô, cũng như trước đó ông dám nhận ông Trần Xuân Bách về Bộ Ngoại giao làm việc, ngay sau khi ông Bách bị khai trừ khỏi Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị, bị mọi người xa lánh).

Mạng Dân Làm Báo ngày 6/2 cho rằng chính quyền CS đã bị 2 cái tát giữa Genève. Một cái tát của đoàn đại biểu xã hội dân sự VN lật mặt giả dối có hệ thống của họ ngay khi họ ngăn cấm không cho nhà báo Phạm Chí Dũng xuất cảnh theo lời mời của Human Rights Watch. Một cái tát nữa từ ngay một quan chức cấp cao trong ngành ngoại giao của họ là ông Đặng Xương Hùng.

Và phải kể thêm một cái tát thứ ba. Ngay tối 5/2, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, các sứ quán Hoa Kỳ ở Genève và Hà Nội ra tuyên bố của Hoa Kỳ nhận xét chính thức về cuộc Kiểm điểm của VN về thực thi Nhân quyền, rất ngắn gọn và súc tích, ghi nhận vài tiến bộ thứ yếu, nhưng tô đậm sự quan ngại và thất vọng. Quan ngại cụ thể về VN vẫn cấm nghiệp đoàn độc lập, vẫn duy trì lao động trẻ em và lao động cưỡng bức. Hoa Kỳ thất vọng (từ này rất nặng về ngoại giao ) trước việc VN ngăn cản xã hội dân sự suốt trong quá trình UPR. Thêm nữa Hoa Kỳ đề xuất, yêu cầu VN nhanh chóng phê chuẩn để thực thi Công ước chống tra tấn, sửa đổi luật an ninh mơ hồ nhằm đàn áp các quyền phổ quát như quyền tự do ngôn luận và quyền tự do lập hội.

Cái tát này đang ngấm. Vì với tuyên bố chính thức này, khó lòng Tổng thống Barack Obama sẽ ghé thăm Việt Nam trong chuyến du hành châu Á được dự định, cũng khó lòng Hoa Kỳ thỏa thuận nhận VN vào khối kinh tế Xuyên Thái Bình Dương TPP, vì ai cũng biết tổng thống Hoa Kỳ gần như nhận đỡ đầu cho nhà báo Điếu Cày, và bản tuyên bố chính thức của Hoa Kỳ lại yêu cầu trả tự do ngay không điều kiện cho tất cả các tù nhân chính trị, và nhắc đến 4 tên người mà Hoa Kỳ đặc biệt quan tâm.

Không nên bi quan nản chí khi thấy không có quyết định gì hệ trọng ở Genève. Cũng không nên cho rằng tại đây không có người thắng kẻ thua. Ai nấy ra về, mọi sự vẫn như cũ. Hòa cả làng. Mỗi bên tự cho là bên ta thắng cuộc.

Hãy khách quan xem xét những sự thật. Đã bao giờ đại biểu xã hội dân sự đến được Genève đông đảo đến thế, tiếp xúc với thế giới rộng rãi đến thế, với những con người, nhân chứng, vật chứng, tài liệu chân thực phong phú đến vậy.

Bản báo cáo ngụy biện bị ngay dư luận trong nước phủ định với tỷ lệ 2/100 tán thành và 98/100 bác bỏ. Bản báo cáo ấy trở thành vũ khí tố cáo rất sắc bén từ nay về sau cho các chiến sỹ dân chủ, cho các tổ chức nhân quyền quốc tế hài tội một chính quyền chuyên dối trá, nói một đằng làm một nẻo. Bản tố cáo chỉ được chính quyền Trung Quốc và Cuba xoa đầu khen, bị Hoa Kỳ lắc đầu, thất vọng sâu sắc để ra Tuyên bố chính thức ngay sau đó vài giờ, ngay tối 5/2.

Sau cuộc ra quân ở Genève, các chiến sỹ dân chủ và nhân quyền có thêm tự tin và kinh nghiệm, mở đầu năm Giáp Ngọ với khí thế tấn công, được thế giới dân chủ phối hợp nhịp nhàng, chưa có năm nào vui mừng như năm nay.

Đội tuồng nhân quyền của một chính quyền có hạnh kiểm cực xấu về thực thi dân chủ và nhân quyền đã bị dư luận phủ định từ trong nước càng bị bịt mũi khi diễn xuất ở nước ngoài. Họ đã diễn một vở tuồng nhạt nhẽo, cũng là một cuộc phiêu lưu dại dột, từ nay họ “ há miệng mắc quai ‘’, không sao biện bạch nổi khi mở các phiên tòa kiểu “phát xít” không theo luật, không cho dân tham dự, khi vẫn đối xử độc ác với ông Nguyễn Hữu Cầu, ông Đinh Đăng Định, ông Nguyễn Văn Hải (Điếu Cày), em Nguyễn Phương Uyên…

Món nợ Nhân quyền ở Genève sẽ còn ám ảnh, đè nặng lên một chính quyền đã mất uy tín ở trong nước do đã phá tan cả nền kinh tế tài chính và làm tha hóa đến tận cùng nền văn hóa dân tộc. Sự trỗi dậy của nhân dân để tự cứu mình, cứu nước là không thể dập tắt. Lý sự cùn, nói lấy được, diễn tuồng chỉ là hạ sách, tự thú nhận “lạy ông tôi ở bụi này “, kích thích thêm sự phẫn nộ của nhân dân.

* Blog của Nhà báo Bùi Tín là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ
 
 http://www.voatiengviet.com/content/man-tuong-vung-o-geneva/1848438.html

Thứ Năm, 6 tháng 2, 2014

Blog / Nguyễn Hưng Quốc

Có thể lấy lại Hoàng Sa?

Nguyễn Hưng Quốc
Nhân dịp kỷ niệm 40 năm trận hải chiến Hoàng Sa vào giữa tháng 1 vừa rồi, chúng ta thấy hai hình ảnh trái ngược nhau: Trong khi ở hải ngoại, cộng đồng người Việt tổ chức các buổi lễ tưởng niệm một cách long trọng ở nhiều địa phương khác nhau, ở trong nước, ngược lại, ngoài vài buổi họp mặt và một số cuộc biểu tình nho nhỏ, chủ yếu ở Sài Gòn và Hà Nội, do dân chúng tổ chức, về phía chính quyền, chỉ có im lặng. Không những im lặng, họ còn phá rối và trấn áp các cuộc xuống đường biểu dương lòng yêu nước của một số trí thức và thanh niên. Trước đó, chính quyền thành phố Đà Nẵng hứa sẽ tổ chức một buổi thắp nến truy điệu những người đã hy sinh trong trận chiến chống lại Trung Quốc xâm lược Hoàng Sa năm 1974 nhưng cuối cùng, cũng huỷ bỏ.

Nhìn rộng hơn, trong nhiều năm qua, liên quan đến vấn đề Hoàng Sa, có hai thái độ khác nhau: Một, về phía chính quyền, người ta hoàn toàn né tránh; nếu phải phát biểu, chỉ phát biểu một cách dè dặt, ấp úng, chung chung, không gắn liền với một mục tiêu và một chiến lược nào cả. Hai, về phía đối lập, từ trong nước ra đến hải ngoại, không ít người đặt vấn đề: cần phải chiếm lại Hoàng Sa hoặc bằng giải pháp quân sự hoặc qua con đường pháp lý, với sự can thiệp của Liên Hiệp Quốc.

Theo tôi, cả hai thái độ ấy đều sai.

Trước hết, thành thực mà nói, ở vị thế của một nước nhỏ; không những nhỏ mà còn yếu, không có cách gì chúng ta có thể lấy lại được Hoàng Sa từ trong tay Trung Quốc.

Về phương diện pháp lý, dù chúng ta có cả hàng ngàn trang tài liệu lịch sử chứng minh Hoàng Sa là của Việt Nam từ cả mấy trăm năm trước, chúng ta cũng không thể thuyết phục được Trung Quốc và thế giới. Tất cả các cuộc tranh chấp lãnh thổ trên thế giới lâu nay chỉ có thể được giải quyết bằng tương quan lực lượng, chủ yếu là lực lượng quân sự. Không có cơ quan nào, kể cả Liên Hiệp Quốc, có thể ra lệnh cho quốc gia này trả lại vùng đất đã chiếm đóng cho một quốc gia khác, nhất là khi quốc gia chiếm đóng lại là một quốc gia lớn và, đặc biệt, mạnh. Trong lịch sử, Liên Hiệp Quốc chỉ có khả năng can thiệp vào các cuộc tranh chấp của các quốc gia nhỏ và yếu, chịu nhiều lệ thuộc từ bên ngoài.

Về phương diện quân sự, ai cũng thấy rõ một điều: Việt Nam không phải là đối thủ của Trung Quốc. Tương quan lực lượng giữa hai nước không giống thời 1979, lúc Trung Quốc còn nghèo và yếu và lúc Việt Nam còn nhận được sự trợ giúp khá nhiệt tình của Liên Xô vốn, thời ấy, còn là một trong hai siêu cường quốc lớn nhất thế giới.

Hơn nữa, nên lưu ý: chiến tranh trên biển khác hẳn chiến tranh trên đất liền. Đánh nhau trên đất liền, ngoài vũ khí, còn nhiều yếu tố khác chi phối kết quả, ví dụ, chiến thuật, lòng dũng cảm, và quan trọng nhất, thời gian cũng như sự đoàn kết của mọi người, với nó, người ta có thể phát động chiến tranh nhân dân. Hình thức chiến tranh nhân dân ấy không thể áp dụng trên biển. Không thể đánh du kích trên biển. Trên biển, yếu tố chủ đạo để dẫn đến thắng lợi chỉ có một: vũ khí. Mà vũ khí thì, dù Việt Nam có đổ ra bao nhiêu tiền để mua, cũng không thể địch lại Trung Quốc. Trong hoàn cảnh hiện nay, nếu xung đột quân sự xảy ra giữa Việt Nam và Trung Quốc, để có thể chiến thắng, Việt Nam chỉ có một cách duy nhất: kéo cuộc chiến ấy vào đất liền. Chứ không phải trên các hòn đảo xa xôi ngoài Biển Đông.

Không thể chiếm lại được Hoàng Sa, nhưng chọn thái độ im lặng và né tránh như cái điều chính quyền Việt Nam hiện nay đang làm cũng là sai.

Sai, thứ nhất, đối với Trung Quốc, sự im lặng hay né tránh của Việt Nam là một món quà tuyệt hảo dành cho Trung Quốc, vốn chỉ muốn lần khân kéo dài để đặt thế giới vào cái thế đã rồi, kiểu cứt trâu lâu hóa bùn, theo cách nói dân gian của Việt Nam. Với thời gian, sự chiếm đóng của Trung Quốc trên Hoàng Sa trở thành một sự kiện lịch sử, một điều có vẻ như hiển nhiên, đương nhiên, không thể đảo ngược được.

Sai, thứ hai, đối với quốc tế, việc im lặng hay né tránh của chính quyền Việt Nam đối với Hoàng Sa đồng nghĩa với việc thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc trên quần đảo ấy, và cùng với nó, trên một phần của Biển Đông. Sự thừa nhận, dù một cách mặc nhiên ấy, sẽ khiến Việt Nam gặp nhiều khó khăn hơn trên hai mặt trận khác: Một, chống lại con đường lưỡi bò do Trung Quốc áp đặt; và hai, hình thành những liên minh quốc tế có khả năng chống trả lại sự bành trướng của Trung Quốc.

Sai, thứ ba, đối với dân chúng Việt Nam, việc im lặng hay né tránh ấy dễ tạo ấn tượng xấu là chính quyền hoặc bán nước hoặc nhu nhược và bất lực trong việc bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ. Cả ba trường hợp ấy đều làm hoen ố hình ảnh của nhà cầm quyền; với sự hoen ố ấy, họ mất dần vai trò lãnh đạo, và từ đó, tính chính đáng của chế độ. Trong lịch sử, không có chế độ nào tồn tại được lâu dài khi tính chính đáng ấy bị mất cả. Vấn đề chỉ là thời gian.

Bởi vậy, đối diện với vấn đề Hoàng Sa, người Việt nói chung, đối diện với một nghịch lý: Một mặt, không thể chiếm lại, ít nhất trong điều kiện hiện nay hoặc vài thập niên trước mắt; mặt khác, lại không thể im lặng hay né tránh vấn đề ấy.

Cuối cùng, lựa chọn khả thi duy nhất là: trong lúc vẫn duy trì hòa bình, người Việt vẫn phải tiếp tục lên tiếng trên mọi phương tiện và ở mọi phạm vi, từ quốc nội đến quốc tế. Việc lên tiếng ấy có nhiều cái lợi:

Một, nó nuôi dưỡng lòng yêu nước và ý thức về chủ quyền của dân chúng. Trong ý nghĩa này, Hoàng Sa không còn là một quần đảo nhỏ xíu và xa lắc nữa mà là một biểu tượng của lãnh thổ và của lịch sử: Ngay cả khi không hoặc chưa thể lấy lại được, nó vẫn tiếp tục là một ám ảnh trong lương tâm mọi người, một món nợ không ai được quên.

Hai, nó là cơ hội để đoàn kết dân chúng trong cả nước. Lâu nay, nói đến đoàn kết, người ta thường chỉ chú ý đến việc tuyên truyền mà quên đi một số điều kiện căn bản: một cộng đồng hay một dân tộc chỉ có thể đoàn kết trên nền tảng một ký ức (memory) chung, một tưởng tượng (imagination) chung và và một tự sự (narrative) chung. Trận hải chiến Hoàng Sa năm 1974 là ký ức. Việc bảo vệ và tái chiếm Hoàng Sa là một tưởng tượng. Toàn bộ các câu chuyện liên quan đến những ký ức và những tưởng tượng ấy là một tự sự. Tự sự ấy, một mặt, tạo nên tính chính đáng của chế độ; mặt khác, làm cho mọi người, vốn thuộc những thành phần, giới tính, giai cấp và địa phương khác nhau, gần lại với nhau hơn. Sự gần gũi và đoàn kết ấy chính là sức mạnh của một dân tộc.

Ba, với, chỉ với, những tự sự ấy, Việt Nam mới có thể tạo được một bản sắc trên trường quốc tế, để, mọi người, khi nhìn về Việt Nam, biết rõ Việt Nam đang muốn gì và đang làm gì. Bản sắc ấy chính là điều kiện thiết yếu để tạo nên tình hữu nghị và mọi liên minh cần thiết. Không có tình bạn nào được xây dựng trên sự dao động hay nhạt nhòa về bản sắc cả. Từ mấy năm nay, Việt Nam đang nỗ lực hình thành các đối tác chiến lược với nhiều quốc gia trên thế giới. Tham vọng ấy chỉ có thể trở thành một hiện thực, từ đó, sức mạnh cho Việt Nam nếu, và chỉ nếu, khi Việt Nam có một thái độ và cùng với nó, một tự sự bảo vệ và xây dựng đất nước rõ ràng.

Chủ quyền trên Hoàng Sa và trận hải chiến năm 1974 đã thuộc về quá khứ. Nhưng nó vẫn là một vấn đề thời sự, mãi mãi là một vấn đề thời sự, đồng thời là một thách thức lớn đối với nhà cầm quyền Việt Nam hiện nay.

 http://www.voatiengviet.com/content/co-the-lay-lai-hoang-sa/1844340.html

Thứ Sáu, 17 tháng 1, 2014

'Bài học 40 năm và hành động hôm nay'


Tàu Trung Quốc
Một tàu của Trung Quốc hoạt động và tham gia tuần tiễu ngoài khơi Hoàng Sa


Đánh dấu 40 năm ngày quần đảo Hoàng Sa bị Trung Quốc đánh chiếm trước sự chiến đấu hào hùng của Hải quân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa từ ngày 17 đến 19/01/1974, người Việt Nam ở trong và ngoài nước cũng không quên cảnh giác trước những hành động xâm lấn vô lối mang tính leo thang mới đây của lãnh đạo Bắc Kinh để có những đối sách phù hợp.

Đầu năm 2014, chính quyền đảo Hải Nam của Trung Quốc loan báo hai quyết định phi lý tăng cường quyền hạn cảnh sát của họ trên Biển Đông, bắt buộc tàu đánh cá "nước ngoài" phải xin phép khi vào hoạt động trong vùng biển mà Bắc Kinh tự cho là của họ qua đường lưỡi bò chín khúc. Quyết định này có hiệu lực từ ngày 01/01/2014.
Bắc Kinh còn ngang ngược cho phép lực lượng tuần tra của họ tịch thu không những tất cả hải sản mà ngư dân đánh bắt được mà còn vơ vét hết những thiết bị trên tàu và phạt mỗi ngư dân là 500 ngàn nhân dân tệ, tương đương với hơn 80 ngàn Mỹ Kim.

Những hành động ngang ngược và phi lý của Bắc Kinh nói trên cho thấy là 40 năm qua, kể từ sau khi xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa, Trung Quốc đã không thỏa mãn những gì họ đã và đang cưỡng chiếm mà tiếp tục muốn làm bá chủ biển Đông.
Nói cách khác, sau 40 năm nhìn lại, Trung Quốc đã cố tình xâm chiếm Hoàng Sa để làm bàn đạp, gây tranh chấp khắp khu vực, và cuối cùng buộc các nước phải “xin phép” họ qua lại trên biển Đông. Việt Nam do đó, cần học hỏi gì từ quá khứ và có hành động thiết thân, phù hợp hiện nay.

'Nhận thức 40 năm trước'

Trước hết, với sự kiện Trung Quốc cưỡng chiếm quần đảo Hoàng Sa bốn mươi năm về trước từ tay của Việt Nam Cộng Hòa, qua các tài liệu về quân sử Việt Nam, cũng như các tài liệu của Hải quân Quân lực Việt Nam Cộng hòa, có thể thấy ngay lúc cuộc xâm lược nổ ra, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đã nhận thấy rõ dụng tâm lâu dài của Trung Quốc.

Theo đó, chính phủ Việt Nam nhận thấy vụ xâm chiếm Hoàng Sa chỉ là bước đầu trong ý đồ thu tóm biển Đông theo kế hoạch được nhà cầm quyền Bắc Kinh tính toán từ trước. Nhưng do bối cảnh chính trị phức tạp vào lúc đó, chính quyền Sài Gòn đã phải cân nhắc giữa hai giải pháp: thương thảo bằng con đường ngoại giao hay quyết chiếnSau những liên lạc yêu cầu lực lượng Trung Quốc rút lui không thành công, Việt Nam Cộng Hòa đã chọn con đường quyết chiến dù lực lượng của Trung Quốc đông gấp bội.

Mặc dù Hoàng Sa bị mất, nhưng ngày 19/01/1974, Việt Nam Cộng Hòa đã để lại một văn kiện lịch sử qua Tuyên Bố của Bộ ngoại giao Việt Nam Cộng Hòa vào lúc đó.
Xung đột hải chiến Hoàng Sa
Tàu Trung Quốc tham gia tấn công các đảo ở Hoàng Sa tháng 01/1974

"Việc Trung Cộng ngày nay xâm phạm lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa không những chỉ đe dọa chủ quyền an ninh của Việt Nam Cộng Hòa mà còn là một hiểm họa đối với nền hòa bình và ổn cố của Đông Nam Á và toàn thế giới..." tuyên bố nói.

Và cũng qua nội dung của Tuyên bố, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa khẳng định hai điều: một là Việt Nam có chủ quyền rõ rệt trên quần đảo Hoàng Sa và Trung Quốc là 'tập đoàn xâm lược'.
Hai là việc Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa đã mở đầu một hiểm họa đe dọa nền hòa bình và sự ổn định của khu vực Đông Nam Á và thế giới.

Rất tiếc là những cảnh báo của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa lúc đó đã không được thế giới quan tâm.
Cuộc hải chiến hào hùng cũng đã bị chôn vùi kể từ sau ngày 30/4/1975 và trong thời gian dài không hề được nhắc đến chính thức dưới chế độ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, ngay cả trong nhiều sách giáo khoa của học trò phổ thông.

Nhiều người từng tham dự vào cuộc chiến bảo vệ Hoàng Sa còn bị tù cải tạo, nhiều thân nhân của những sĩ quan và binh sĩ hải quân Việt Nam Cộng Hòa hy sinh trong trận chiến này đã phải sống dưới chính sách kỳ thị như mọi nạn nhân khác có thân nhân là "ngụy quân ngụy quyền".

Rất may là Cộng đồng người Việt tại hải ngoại vẫn còn tưởng nhớ đến công ơn của những anh hùng hải quân đã vị quốc vong thân để bảo vệ Hoàng Sa.
 
Những buổi lễ tưởng niệm đã được tổ chức rất trang nghiêm vào mỗi dịp đầu năm suốt từ 1975 đến nay.
Chính những buổi lễ này đã góp phần hun đúc ý chí và tinh thần bảo vệ bờ cõi, làm bừng lên ngọn lửa yêu nước của người Việt Nam trước làn sóng xâm chiếm của Trung Quốc trên biển Đông ngày nay.

'Chính sách thiếu nhất quán'

Đánh dấu 40 năm tưởng niệm trận hải chiến Hoàng Sa năm nay, chính quyền Hà Nội đã có một số động thái đáng chú ý.

Thứ nhất là cho phép một số báo, đài truyền hình đề cập khá chi tiết và liên tục nhiều kỳ về trận hải chiến Hoàng Sa năm 1974. Họ đã phỏng vấn và giới thiệu nhiều hồ sơ cũ của Việt Nam Cộng Hòa ghi lại các chuẩn bị và diễn tiến của trận hải chiến.

Đây là một quyết định tuy quá trễ, nhưng ít ra bây giờ nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam thấy rằng việc trình bày cho hậu thế hiểu rõ diễn tiến của một cuộc chiến bảo vệ hải đảo trước ý đồ xâm lấn và bành trướng của Trung Quốc đã là điều cần thiết.

Không dám nói lên sự thật và không dựa vào trận hải chiến hào hùng này, sẽ không có cơ sở vững chắc để thuyết phục thế giới đứng về phía Việt Nam chống lại các ý đồ của Trung Quốc hiện nay.

Hải quân Trung Quốc
Trung Quốc đang tăng cường tiềm lực của hải quân trên nhiều vùng biển

Thứ hai là ông Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng chính phủ cộng sản Việt Nam, đã tuyên bố rằng sẽ đưa vấn đề Hoàng sa và Trường sa vào sách giáo khoa, cũng như tổ chức lớn tưởng niệm 40 năm Hoàng sa và 35 năm cuộc chiến biên giới phía Bắc.

Đây cũng là một quyết định quá trễ và dường như mang âm hưởng của một sự “thăm dò” vì phát biểu này sau đó đã bị kéo xuống khỏi các trang mạng do những e ngại “ngoại giao”.

Rõ ràng là có sự thiếu nhất quán trong nội bộ lãnh đạo Cộng sản Việt Nam về các phản ứng liên quan đến những vấn đề lịch sử đối với Trung Quốc. Khi lãnh đạo còn e ngại và muốn tránh né đề cập một sự thật của lịch sử, thì rất khó thuyết phục người dân về thực tâm bảo vệ đất nước của giới lãnh đạo hiện thời trong quan hệ với Trung Quốc.

Vấn đề còn lại là nhà cầm quyền CSVN không nên và không còn có thể tiếp tục hành xử kiểu nửa nạc, nửa mỡ hay tiếp tục đóng kịch chỉ khoác áo dân tộc như hiện nay nữa về toàn cảnh vấn đề biển Đông.
Lý do là lối hành xử nửa vời này không những có hại mà còn gây cản trở cho nỗ lực bảo vệ sự toàn vẹn biển đảo, lãnh thổ của dân tộc.

'Ba việc cần làm '

Nhân tưởng niệm 40 năm Hoàng Sa, thiết nghĩ lãnh đạo Cộng sản Việt Nam cần mạnh dạn làm ba việc.
Thứ nhất, Chính thức tuyên bố hủy bỏ công hàm do cựu Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký năm 1958.
Việc hủy bỏ Công hàm cùng với việc quảng bá Tuyên Cáo của Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa ngày 14 tháng 2 năm 1974, xác định “quần đảo Hoàng sa và Trường sa là những phần bất khả phân lìa của lãnh thổ Việt Nam”, sẽ giúp Việt Nam có đủ cơ sở pháp lý để kiện Bắc Kinh ra toà án Liên Hiệp Quốc như Phi Luật Tân đang làm.
 
Nếu vụ kiện xảy ra, chắc chắn là ngư dân Việt Nam không cần phải “xin phép” đánh cá trên vùng biển truyền thống lâu đời của mình như Trung Quốc đang ra lệnh.

Thứ nhì, chính thức vinh danh những người chiến sĩ Hải quân Việt Nam Cộng Hòa đã hy sinh trong trận hải chiến Hoàng sa, và thiết lập một ngân quỹ để giúp đỡ cho thân nhân, con cháu của những người đã vị quốc vong thân.

Nỗ lực này còn mang một ý nghĩa quan trọng khác là người dân Việt Nam bất kể thế hệ nào đều phải ghi nhớ trận hải chiến hào hùng của dân tộc, đặc biệt là chiến tích này đang gắn liền với công cuộc bảo vệ bờ cõi hiện nay trước tai họa xâm lăng từ Trung Quốc.

Thứ ba, để cho người dân tự do lập ra những nhóm, hội đoàn dưới nhiều hình thức như nghiên cứu pháp lý, thu thập tài liệu lịch sử, gây quỹ, vận động quốc tế.... để đóng góp vào công cuộc bảo vệ biển đảo.
Đây là công việc lâu dài, trải qua nhiều thế hệ nên việc xã hội hóa các nỗ lực bảo vệ biển đảo phải để cho người dân tham gia. Hơn thế nữa, đây là thời đại của mạng xã hội, việc liên kết các cá nhân có cùng quan tâm và dùng nó như một sức mạnh áp đảo để buộc đối phương phải ngưng những ý đồ xâm phạm, trở thành phương tiện tranh thủ rất hòa bình và hiệu quả.

'Đáp lời sông núi'

Một thuyền của ngư dân Việt Nam tại Biển Đông
Một thuyền của ngư dân Việt Nam ở Biển Đông

Bốn mươi năm là khoảnh thời gian rất ngắn trong chiều dài lịch sử. Nhưng 40 năm ý nghĩa của trận hải chiến bảo vệ biển đảo – dù Việt Nam Cộng Hòa không còn nữa – đã ghi khắc vào lòng người Việt Nam một quyết định lịch sử: quyết chiến bảo vệ tổ quốc dù đối phương mạnh hơn mình gấp bội.

Dù phải mất bao nhiêu năm nữa cho đến lúc thu hồi lại chủ quyền biển đảo đã mất, trận hải chiến Hoàng Sa luôn luôn nhắc nhở mọi thế hệ Việt Nam rằng không thể ủy nhiệm cho bất cứ ai lo bảo vệ bờ cõi, mà mọi người đều phải có bổn phận và nghĩa vụ như nhau để đáp lời sông núi.

Sự kiện một số nhà dân chủ, một số nhà hoạt động mạng tổ chức các buổi hội thảo về Hoàng Sa, thăm viếng và ủy lạo cho những thân nhân các chiến sĩ hải quân đã hy sinh là một nỗ lực đáng ca ngợi.
Chính tinh thần này đã đánh thức mọi người cùng nhau nhìn về biển Đông, trước hết là làm sao bảo vệ ngư dân Việt có thể tự do và an toàn đánh bắt hải sản trước lệnh phải “xin phép” ngược đời của Trung Quốc tung ra hiện nay.

Song song, cần tranh thủ hậu thuẫn của thế giới và các quốc gia láng giềng chống lại ý đồ bá quyền của Trung Quốc trên biển Đông.

Nếu chúng ta cùng tưởng niệm 40 Năm Hoàng Sa trong tinh thần đó, anh linh của 74 người con yêu nước Việt khoác áo Hải quân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa sẽ có thể mỉm cười yên giấc.
Bài viết thể hiện văn phong và quan điểm riêng của ông Lý Thái Hùng, Tổng bí thư Đảng Việt Tân có trụ sở tại Hoa Kỳ.

Nguồn: BBC Tiếng Việt