Tiếp theo phần mở đầu — phần I — phần II-1
2.
Nguyên nhân ĐCSTQ đàn áp Pháp Luân Công
Có một điều dễ nhận thấy là tại
sao chính phủ và người dân khắp thế giới ủng hộ Pháp Luân Công còn ĐCSTQ lại
bức hại, lẽ nào ĐCSTQ văn minh hơn thế giới, đó chẳng phải là Đảng này có vấn
đề, bởi lẽ Giang Trạch Dân và ĐCSTQ không phải vì dân mà là vì độc tài thống
trị của tổ chức, trục lợi của các cá nhân và vì bản chất của ĐCSTQ trái ngược
với Chân-Thiện-Nhẫn nên
mới thấy khó chịu.
Ở tòa án nếu muốn kết án ai thì cần đưa ra bằng chứng, xét xử đối thoại công khai. Ngày xưa Bao Công xử án trước khi khai đao cũng hỏi “bổn phủ xử như thế, ngươi đã tâm phục khẩu phục chưa?”, “ngươi còn gì để nói không?”. Nếu hỏi ĐCSTQ tại sao đàn áp học viên Pháp Luân Công, nó không bao giờ dám đối thoại, cũng không cho người ta chỗ để nói nữa, hỏi mà không trả lời được thì là bất chính, rõ ràng là vi phạm pháp luật, là hành vi của lưu manh, khủng bố.
Nhiều người thắc mắc Pháp Luân
Công tốt như vậy tại sao lại bị đàn áp. Có một thực tế là: “người
tốt không phải lúc nào cũng được đối xử tốt”. Trước đây ĐCSTQ đã
giết rất nhiều người và họ cũng không hề phản đối Đảng hay làm gì nên tội mà họ
còn là những tinh anh văn hóa. Trong thời gian Pháp Luân Công hồng truyền tại
Trung Quốc (1992-1999), xã hội ngày một tốt đẹp: học Pháp Luân Công, nhiều
người có quyền chức không còn nhận hối lộ, con cái hiếu thuận cha mẹ, học trò
kính trọng thầy cô, các giá trị đạo đức được đề cao, chi phí y tế giảm, xã hội
ổn định,… có thời điểm 30% Đảng viên học trong đó có nhiều cán bộ cấp cao của
Đảng, cả Trung Quốc có 100 triệu người học. Lẽ ra nhiều người tốt thì càng tốt
nhưng Giang Trạch Dân và ĐCSTQ lại sợ đông người tốt.
Một khi
ĐCSTQ muốn làm hại ai nó có thể nghĩ ra nghìn lý do, nhưng đều là lừa dối che
đậy lý do thật. Vì ĐCSTQ không đưa ra được lý do chính đáng tại sao tuyên
truyền lừa dối, đàn áp Pháp Luân Công? nên người ta đành thay ĐCSTQ đưa ra một
số nguyên nhân:
Nguyên
nhân 1: Sự đố kỵ của Giang Trạch Dân
Khi Sư phụ của Pháp Luân Công
giảng Pháp, ngồi dưới hội trường mấy nghìn người là đủ thành phần từ giáo sư,
tiến sĩ, quan chức cấp cao của Đảng…, cho đến nông dân. Còn Giang Trạch Dân lại
không được Đảng viên và dân chúng coi trọng. Giang Trạch Dân hết sức đố kỵ và
đã bày mưu, phát động, khống chế, lợi dụng chính quyền của ĐCSTQ để gây ra cuộc
đàn áp, thông qua đó củng cố vị thế, kéo bè kết cánh, thâu đoạt quyền lực về
mình.
Vậy còn
ĐCSTQ, tại sao lại sợ Pháp Luân Công?
Nguyên
nhân 2: Khác biệt về ý thức hệ
ĐCSTQ cũng đố kỵ và hết sức
hoang mang giống như Giang Trạch Dân. Khi ngày càng nhiều Đảng viên và dân
chúng tin vào nguyên lý của Pháp Luân Công thì họ sẽ biết các nguyên lý của ĐCSTQ
là độc ác, lừa gạt và không thể chấp nhận.
Để thực sự hiểu rõ được nguyên
nhân này cần bắt đầu từ văn hóa 5000 năm của dân tộc Trung Quốc, hiểu và xem
xét về tín ngưỡng, ý thức hệ của ĐCSTQ cũng như cách mà ĐCSTQ đối xử với văn
hóa truyền thống: Đó là hai đại diện của Văn hóa hữu Thần và Văn
hóa vô thần là Văn hóa truyền thống 5000
năm và Văn hóa ngoại lai Giả-Ác-Đấu
mà ĐCSTQ xây dựng trên cơ sở thuyết vô Thần – duy vật – triết học
đấu tranh – thuyết tiến hóa.
“Văn hóa là linh hồn của dân tộc,
đối với nhân loại thì nhân tố tinh thần này cũng quan trọng không kém các nhân
tố vật chất như giống nòi và đất đai” [3] …
“Những dân tộc cổ xưa sáng tạo ra các nền văn minh huy hoàng bị coi như đã biến
mất khi nền văn hóa của họ biến mất, mặc dù người của các dân tộc đó có thể vẫn
tồn tại” [3]. Trung
Quốc còn gọi là Thần Châu (mảnh đất của Thần), nền văn hóa nơi đây được tin là
do Thần truyền xuống và đã bắt đầu với những Thần thoại: Từ xưa, xưa rất xa
xưa, Bàn Cổ khai thiên tịch địa, Nữ Oa dùng Thần lực tạo ra chủng người da
vàng,… Trải qua thời gian lâu dài cho đến nền văn minh 5000 năm trở lại đây có
vua Thần Nông dạy con người Lễ Nhạc, cày cấy, quy luật thời tiết, làm đồ gốm,
tìm ra trăm loài thảo dược chữa bệnh, dưỡng sinh, trà, để lại cho sách “Thần
Nông bản thảo kinh”…, (với lòng biết ơn, tôn kính vô hạn các bậc Thiên tử xưa
đều xây chùa đắp tượng thờ tổ tiên, Thần linh, dựng Đàn tế Trời Đất và cầu mưa
thuận gió hòa,…) đến khoảng 2500 năm trở lại đây Đạo giáo, Phật giáo, Nho
giáo…, tiếp tục truyền dạy cho con người văn hóa tu luyện và dung bồi đạo đức,
đều đưa con người trở về với đức thiện.
Văn hóa truyền thống coi trọng
đạo đức, tinh thần, tôn kính Thần linh, tôn kính Vua, hiếu kính phụ mẫu, tôn Sư
trọng Đạo, sống hòa hợp với Trời Đất,… đem lại hạnh phúc thật sự cho con người.
Trong văn hóa truyền thống mọi người tin thiện ác hữu báo, giúp người cũng là
giúp mình, hại người cũng là hại mình, làm việc xấu có lợi trước mắt nhưng có
họa theo sau, làm việc thiện nếu có thiệt trước mắt nhưng sẽ có phúc theo sau.
Tin rằng giàu có là do phúc đức, giàu nghèo có số, có đức mặc sức mà ăn. Còn
khi gặp Thiên tai giáng họa, cảnh báo, người dân, quan lại trong vùng xem lại
mình ăn ở thế nào, hồi tâm chuyển ý, Vua chúa tự trách mình, ăn chay sám hối,
làm lễ tế Trời Đất, nhiều lần đều được như ý.
ĐCSTQ
không đơn giản là một tổ chức chính trị bình thường mà nó có tín ngưỡng của
mình là ý thức hệ của Mác-Lê và hoạt động như một tôn giáo. ĐCSTQ
mới xuất hiện gần 100 năm nay nhưng tín ngưỡng, hệ tư tưởng là hoàn toàn trái
ngược với Văn hóa truyền thống 5000 năm của dân tộc Trung Quốc, là một loại
“đạo lạ”. Gồm có: Vô thần luận – Duy vật luận – Triết
học đấu tranh với cơ sở khoa học là thuyết tiến hóa của
Darwin.
A/ Vô
Thần luận
Lý
thuyết: Vô thần luận cho rằng không có Thiên Đàng, Địa Ngục,
“chết là hết”, “thiện ác hữu báo” là mê tín, duy tâm thấy mới
tin không thấy không tin, cho rằng Thần Phật, Thần thoại là do bộ não tưởng
tượng ra, phỉ báng Trời Đất, Thần linh, chụp mũ là “mê tín”. Chụp mũ tôn giáo
là thuốc phiện tinh thần đầu độc nhân dân của giai cấp thống trị.
Sự thật: Đối
với niềm tin vào Thần, không phải hai mà là có ba trường hợp xảy ra gồm: hữu
Thần, vô Thần, và không biết có hay không. ĐCSTQ dùng ngụy sử-khoa học để gây
mâu thuẫn với tôn giáo, bài xích Thần. ĐCSTQ tuyên dương vô
Thần luận không phải vì nắm được tiến bộ khoa học gì cả, vì
hầu hết các nhà khoa học chân chính trên thế giới đều tín ngưỡng Thần. Dự ngôn
các dân tộc cũng là Thần tích thể hiện. Như đức Phật Thích Ca Mâu Ni là có
thật, không phải bộ não của ai duy tâm, mê muội, yếu đuối tưởng tượng ra. Ngài
xuất hiện cách đây khoảng 2500 năm, xá lợi Phật hiện vẫn giữ ở nhiều nơi trên
thế giới, phát ra ánh sáng, rất cứng nhưng không phải kim cương, khoa học chưa
biết là chất gì, là vật chất không có trong không gian nơi con người đang ở.
Còn Ở Việt Nam cũng có nhiều Thần tích.
Nói “nhìn không thấy nghĩa là không tồn
tại” là sự phong bế con người. Tây y phẫu thuật cơ thể người
chỉ thấy huyết quản không thấy kinh lạc, nhưng không có nghĩa là kinh lạc không
tồn tại, do bộ não ai đó tưởng tượng ra vì châm cứu không phải là “mê tín”,
kinh lạc là do một vị vua tu luyện Đạo gia là Hiên Viên Hoàng Đế mô tả và
truyền cấp cho con người.
(Ở Việt
Nam hàng ngàn năm qua cũng có rất nhiều Thần nhân, Thần tích như: Tản Viên sơn
Thần, Phù Đổng Thiên Vương, Tô Lịch giang Thần, Liễu Hạnh tiên chúa, Thanh Tiên
Đồng Tử Trần Hưng Đạo, Trạng Trình,… có thể tham khảo thêm trong sách “Đại Việt
s10ửký toàn thư”, “Nam Hài Dị Nhân liệt truyện”, “Lĩnh Nam
chính quái”).
Con người nhìn không thấy kinh
lạc là bởi vì mắt người do phân tử, tế bào tổ thành nên không nhìn thấy các
không gian và sinh mệnh tổ thành từ vi lạp nhỏ hơn như nguyên tử, proton,
quark,… ngay như sóng điện thoại còn không nhìn thấy, nên có câu “người
trần mắt thịt”. Còn trong dân gian có câu “người tính không bằng
Trời tính”. Vô Thần cũng không phải là không có tín ngưỡng mà là một trong 3
loại tín ngưỡng vào Thần. Chết có phải là hết không cũng có 3 loại tín ngưỡng
là “chết
chưa phải là hết”, “chết là hết” và “tôi
chưa chết nên chưa biết”. Một người mà nói “Thần
phật, thiện ác hữu báo là mê tín”, “chết là hết”, “tôi không tin điều gì chỉ
tin vào chính mình” thực ra chính là theo tín ngưỡng Mác-Lê mà
không tự biết, dù có thể người đó không có cảm tình gì với Karl Marx, trong các
loại tôn giáo có cả tôn giáo vô Thần, nhưng ĐCSTQ sẽ không bao giờ cho người
dân biết điều này. Tín ngưỡng truyền thống cũng không phải là công cụ của giai
cấp thống trị như ĐCSTQ tuyên truyền, gán ghép để phá hoại vì
lãnh đạo quốc gia trái với Đạo còn bị gọi là “hôn quân vô Đạo”, chính tín
ngưỡng của ĐCSTQ mới là phục vụ cho thống trị.
Khi nhắc đến Thần, trong vô thức nhiều người đã có tâm lý bài xích cho là mê tín, duy tâm, trái với khoa học, sự thực có phải là như vậy? Nước Mỹ khoa học phát triển là thế mà rất nhiều người tin Thần, trên tờ đô la còn ghi “In God We Trust” (chúng ta tin Thượng Đế). Khoa học và tôn giáo vốn không mâu thuẫn, khoa học là luôn tìm tòi, ngoài đôi mắt còn dùng cả tư duy, không nhìn thấy, chưa lý giải được lại cho là ngẫu nhiên, duy tâm, bài xích, tự xây tường vây mình lại thì không phải là khoa học mà là “cố thủ học”. Cũng như Tây y không thể nói Trung Y châm cứu là duy tâm chỉ vì phẫu thuật không thấy kinh lạc. Trong khi các nhà khoa học như Anhstank, Newton, Maxwell, Edison,… không hề phản đối tôn giáo thậm chí còn rất tin vào Thần thì ĐCSTQ vốn không phải là nhà khoa học gì lại dối trá, tung hô “sùng bái khoa học, phản đối mê tín” đây gọi là ngụy tạo mâu thuẫn, mượn gió bẻ măng. ĐCSTQ cố tình chia triết học thành duy vật và duy tâm, rồi tùy tiện tuyên bố duy vật là đúng, duy tâm là sai, điểm lừa dối ở chỗ cho những gì nhìn không thấy không phải là vật chất để chụp mũ “duy tâm” rồi quy cho bộ não tưởng tượng ra, còn những gì nhìn thấy thì về phe duy vật, khoa học và tuyên truyền: “lịch sử đấu tranh triết học là lịch sử đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm” từ đó lợi dụng khoa học để triệt tiêu “duy tâm”. Duy vật hay duy tâm thực ra cũng không quan trọng, quan trọng là duy dân, duy đạo đức. Là ĐCSTQ có dã tâm, vì con người tin vào đôi mắt, khoa học nên ĐCSTQ đẩy tôn giáo về phía đối lập với khoa học để phá hoại niềm tin thiện ác hữu báo, lấy căn cứ lý luận làm Cách mạng Văn hóa, phá hoại đạo đức để hủy đi dân tộc. Dưới sự yểm trợ của triết học đấu tranh người ta thường trở lên bảo thủ, đấu tranh để bảo vệ quan niệm vô Thần của cái tôi, nói chỉ tin vào bản thân, tìm cách nghĩ ra mọi lý do để bài xích, chứ không mở rộng tấm lòng hay đi tìm hiểu thực hư ra sao. Thậm chí thấy rồi cũng không tin mà tự lừa mình cho là do bộ não tưởng tượng ra.
Sau cùng, dù Thần Phật có tồn
tại không và chết có phải là hết không thì một người có niềm tin vào Thần từ đó
sống một đời thanh thản thì cũng không mất gì, còn người không tin mà làm nhiều
điều xấu, trăm năm qua đi mới phát hiện ra ĐCSTQ nói sai còn kinh Phật nói đúng
thì quả là đáng sợ, hối hận thì đã muộn. Tín Thần cũng không nhất định phải gia
nhập tôn giáo nào hay dâng sao giải hạn gì mà là giữ tiêu chuẩn đạo đức, tin
thiện ác hữu báo, ở hiền gặp lành, tin có Thần Phật, ông Trời, và niềm tin đó
cũng không hại ai mà ít nhất chỉ với niềm tin đó đã khiến người ta không cho
hóa chất độc vào thức ăn, đồ uống của người khác.
Tác
hại: Vô Thần luận cắt đứt liên hệ giữa người và Thần, quét sạch
đạo đức, không còn câu thúc của lương tri làm việc xấu không hề có cảm giác tội
lỗi. Vì không tin có Thần từ đó không tin thiện ác hữu báo, cho đấu tranh sinh
tồn là lẽ sống, tạo nghiệp, để trả nghiệp tương lai khó tránh gặp thiên tai
nhân họa. Tiền bạc, uy quyền có lúc cũng không có ý nghĩa.
B/ Duy
vật luận
Lý
thuyết: “vật chất quyết định ý thức”, “ý thức không có tính vật
chất”, “ý thức là sản phẩm của bộ não”. Duy
vật luận hỗ trợ cơ sở lý luận cho Vô Thần luận, triết học đấu tranh, coi nặng
vật chất xem nhẹ tinh thần. Lương tâm, đạo đức, tín ngưỡng chỉ còn là sản phẩm
của bộ não, phát triển lên thành chủ nghĩa sùng bái kim tiền – chủ
nghĩa túng dục – giải phóng tình dục – chủ nghĩa duy lợi,… Biểu
hiện qua các câu nói như: “có thực mới vực được đạo”, “đạo đức
bao nhiêu tiền một cân”, “đạo đức có ăn được không”, “thật thà là dại”, “im
lặng phát tài”, “phải có tiền mới có hạnh phúc”,…
Của
cải, vật chất có quyết định được ý thức?
Hạnh phúc là điều mà các nhà
nước hướng đến, theo quan niệm tuyệt đối hóa “vật chất quyết định ý thức” người
ta tin rằng làm ra nhiều của cải vật chất con người sẽ hạnh phúc hơn, văn minh
hơn và theo đuổi chỉ số GDP. Nhưng bây giờ sự thật lại không phải vậy. Như
Trung Quốc giờ đây rất phát triển mà lại không hề văn minh, ý thức con người
kém xa ngày xưa, nhiều người Trung Quốc đi ra thế giới du lịch đều bị người ta
chê cười. Ở phương Tây người ta cũng nói bây giờ tuy có nhiều vật chất nhưng
không hạnh phúc hơn thập niên 50 mà lại luôn cảm thấy stress. Một ví dụ đơn
giản như mâm cơm đầy sơn hào hải vị nhưng gia đình cãi nhau không nuốt nổi cơm
thì không hạnh phúc. Nỗi khổ trong tâm cũng không phải uống thuốc đắt tiền mà
hết được,… cũng không cứ phải có tiền, có thức ăn rồi mới có đạo đức, có nhiều
người là an bần lạc đạo.
Điều gì
ảnh hưởng tới ý thức?
Người ta vẫn nói vật chất bên
ngoài là cần thiết nhưng chỉ là một phần của cuộc sống, con người không phải
chỉ sống để ăn. Tiền bạc, của cải không thể “quyết định” con người hạnh phúc
hay không vì hạnh phúc thật sự nằm ở trong tâm, vui buồn sướng khổ là ở tại tâm.
Như có người mặc cái áo đắt tiền mà đi đâu cũng có người chê thì thấy không vui
nhưng có người ai chê cũng không buồn vì người ta không mong muốn người khác sẽ
khen mình. Người nhiều tiền mà đố kỵ hơn thua luôn so đo với người khác thì vẫn
thấy khổ, người đủ ăn, đủ tiêu mà không hơn thua với ai thì không cảm thấy khổ
vì tiền. Như vậy thứ tác động đến tâm con người trong trường hợp này không phải
là vật chất bên ngoài mà chính là do có tư tâm, truy cầu danh, lợi, tình nhưng
không được thỏa mãn nên mới thấy khổ.
Nếu coi ý thức con người như
một con thuyền đi tìm hạnh phúc và Marx xuất hiện nói tôi biết đường đến thiên
đàng, để tôi lái. Nếu người ta tin thì Marx sẽ lái thuyền. Quan
niệmcũng như vậy, nếu người ta cho là đúng và tin quan niệm này
thì chính quan niệm này sẽ lèo lái ý thức con người, thì khi đó ý thức con
người sẽ bị động theo vật chất bên ngoài, giống như tâm trạng người chơi chứng
khoán lúc vui, lúc buồn, biến động lên xuống theo giá sàn.
Ý thức không phải do của cải
bên ngoài hay lao động quyết định, nó chịu ảnh hưởng bởi tín
ngưỡng. Tín ngưỡng chân chính do các vị Thần truyền cho con
người nhưng đã bị che khuất bởi thuyết tiến hóa. Ngày xưa con người “mê tín”,
tin vào Phật giáo, Đạo giáo, Nho giáo, Cơ Đốc giáo, Thiên Chúa giáo,… tin thiện
ác hữu báo nên sống ngay thẳng, ý thức tốt, hạnh phúc còn bây giờ tín ngưỡng
vào hệ tư tưởng Mác-lê nên ý thức kém và đau khổ.
Duy vật
luận và cái bẫy tư duy
ĐCSTQ đặt vấn đề: “vấn
đề cơ bản của triết học là: giữa vật chất và ý thức; cái nào có trước, cái nào
có sau? cái nào quyết định cái nào?”
Nếu người ta tiến nhập vào câu
hỏi này và suy nghĩ hay tranh luận xem cái nào có trước cái nào có sau thì đã
rơi vào cái bẫy của triết học đấu tranh, dẫu ai thắng ai thua, ai suy nghĩ theo
hướng nào thì vô thức đã chấp nhận một giả lý chia rẽ. Còn trường hợp vật chất
và ý thức là một, có cùng nhau thì ĐCSTQ đã giấu đi. Cái nào có trước cái nào
có sau, không phải là vấn đề cơ bản, mà là ngụy vấn đề, trừu tượng hóa làm rối
rắm lòng người. Người ta đã biết đến trò bốc thăm gian lận, hai phiếu đều là
phiếu trắng mà người chơi chỉ được chọn một trong hai thì chọn phiếu nào cũng
đều là phiếu trắng.
Đây có phải một cái bẫy nham
hiểm mà câu trả lời đã được chuẩn bị sẵn trong khi dạy con người tiến hóa từ
vượn và bộ não sản sinh ra ý thức. Theo lối dẫn dắt này ĐCSTQ đưa vật chất lên
trên để hạ thấp tinh thần, chưa dừng lại ở đó còn triệt tiêu tinh thần không
còn là gì cả trở thành thứ hư ảo là sản phẩm trong trí tưởng tượng của bộ não
người, nói: “ý thức chỉ là sản phẩm của thế giới vật chất phản ánh
vào bộ não”. Bẫy tư duy này là bẫy đấu tranh để đánh lạc hướng, đề
cao vật chất, triệt hạ ý thức, cực kỳ hiểm ác.
Chưa biết ý thức có phải là do
bộ não tưởng tượng ra không, và cái gì quyết định cái gì nhưng dễ thấy trong xã
hội con người sống phải có đạo làm người, vì thế mới sống chung được với nhau,
người xưa đều duy hộ điều này, phê phán sự giả dối, bất lương, ra các đạo
luật,… những điều đơn giản này lẽ nào ĐCSTQ lại không biết, là nó có dã tâm hủy
hoại đạo đức con người và tôn sùng vật dục nên nó nghĩ ra để đánh bẫy người ta
đề cao vật chất hạ thấp tinh thần, phá hoại đạo đức, lại tự gây u mê bản thân
bằng cách cho ý thức là do bộ não tưởng tượng ra để triệt tiêu ý thức.
Dưới cái nhìn của chủ nghĩa duy
vật cực đoan: con người chỉ là tập hợp của protein, ý thức là sản phẩm
của bộ não, tình yêu là phản ứng của hóc môn, đạo đức chỉ là bao nhiêu tiền một
cân, lương tâm không bằng lương tháng, tính mạng của con người chỉ là mấy chục
triệu, Thần Phật là do bộ não con người mê
muội, yếu đuối tưởng tượng ra,… Theo lối dẫn dắt này khi con
người chết thì protetin, bộ não cũng phân hủy và chết là hết, đôi khi cũng chỉ
vì một tư tưởng này mà người ta tranh thủ hưởng thụ lạc thú như: ma túy, mại
dâm,… nó hoàn toàn phủ nhận lương tâm, đạo đức, tín ngưỡng thành thứ hư ảo
trong bộ não, giáng đòn hiểm ác phủ nhận văn hóa truyền thống. Nó đánh giá sự
thành công của con người một cách phiến diện như lương tháng có cao hay không
chứ không biết đời sống tinh thần con người thế nào. Tình nghĩa vợ chồng, bạn
bè, thầy trò,… là những điều thiêng liêng nhưng nó xếp vào “đệ nhị tính” đơn
giản vì không nhìn thấy và không ăn được, quan hệ giữa người với người chỉ là
sự thỏa mãn về danh lợi, tiền bạc, xác thịt, dịch vụ, thuê mướn,… Công việc vốn
gắn bó cả một đời người thì ý nghĩa công việc cũng không hơn là kiếm tiền.
Ý thức
có phải là do bộ não tưởng tượng ra?
Dễ thấy khi gặp cú sốc tinh
thần thì thân thể vật chất đã có thể bị ngất, khi học sinh lên bảng kiểm tra
bài cũ mà có tâm sợ hãi thì có thể quên hết kiến thức. Còn khi tức giận thì
không làm chủ được bản thân và có thể làm ra nhiều việc sai lầm, đến khi tỉnh
táo lại mới hối hận, khi tâm một người phiền muộn đầu óc cũng dễ lú lẫn. Rõ
ràng cái ý thức này, các tâm này rất thực tế, là biểu hiện của vật chất, biểu
hiện của sự khống chế con người chứ không phải sản phẩm của trí tưởng tượng như
ĐCSTQ dạy, nó tác động trực tiếp đến con người dù con người không nhìn thấy.
Trong Đông y còn nói tạng gan là nơi chứa tâm tức giận, tạng thận chứa tâm sợ
hãi,… Ngoài đôi mắt mỗi người đều có tư duy đều có thể tự mình làm một nhà khoa
học.
Còn xét về tư duy trong não,
theo khoa học, điện não đồ đo được tư duy xuất phát từ đại não có dạng sóng như
Beta, Alpha, Theta, Delta, Gamma,… chứng minh rằng tinh thần là vật chất. Con
người trong trạng thái tinh thần bình thường thì đo được sóng beta, khi tâm
tĩnh thiền định thì đo được sóng Delta, khi xuất tâm từ bi thì đo thấy sóng
gamma,… Khi con người chết đi thì tế bào phân rã, nếu phần tinh thần cũng phân
rã thì sẽ là nổ bom nguyên tử. Nếu chết không phải là hết thì rất có thể người
ta sẽ tìm người làm hại họ để báo oán, đòi nợ.
Ý thức và vật chất cũng như địa
chủ và nông dân. Địa chủ cũng là nông dân, chỉ là nông dân có nhiều đất. Ý thức
cũng là vật chất nhưng là vật chất vi quan hơn, năng lượng mạnh hơn. Nhục thân
của người là vật chất được tổ hợp thành từ tế bào còn ý thức là vật chất được
tổ thành từ hạt vi quan hơn, có thể chụp, quay được năng lượng của ý thức theo
phương pháp Kirlian, chụp ảnh người (hoặc vật thể) dưới tác dụng của trường
điện thế, kết quả chụp cho thấy con người phát ra hào quang với độ sáng, màu
sắc thay đổi phụ thuộc vào tinh thần người được chụp, người có nhiều tư tâm,
stress thì trường năng lượng có màu tối, thiếu hụt,… còn tâm trạng vui vẻ, từ
bi thì trường năng lượng sáng, mật độ dày,… ngoài ra còn chụp thấy hệ thống
kinh mạch, huyệt vị trong Trung Y.
Những vật chất xấu phủ lên tâm,
giống như bụi bẩn bám vào quần áo. ĐCSTQ không thích người dân giặt quần áo,
ngược lại còn muốn vấy bẩn lên, tuyên truyền “phủ bùn khắp người và làm chai đầy
tay” là tốt, và ĐCSTQ cũng tuyên truyền vô Thần luận, duy vật,
triết học đấu tranh để làm vậy với tâm hồn con người.
Sự trái
ngược với văn hóa Thần truyền
Văn hóa Thần truyền coi đạo đức
là gốc, tin luật nhân quả, hành thiện tích phúc đức, “có đức mặc sức mà ăn”,
giàu nghèo có số, có làm mới có ăn, chịu khó làm ăn lương thiện, làm tốt công
việc tự nhiên có tiền bạc, có tiền mà coi nhẹ, có tiền mà không nghĩ về tiền,
vì sống thiện lúc khó khăn lại có người giúp. Theo văn hóa Mác-Lê người ta cả
đời sống trong truy cầu có tiền để rồi có hạnh phúc, nhưng ngay tư tưởng này đã
thể hiện ra sự lo lắng mà lo lắng thì đã không hạnh phúc lại còn sinh bệnh, nhiều
người cả đời tranh giành nhưng nghèo vẫn hoàn nghèo, tranh đấu kiếm tiền vốn đã
khổ, phải đánh đổi tinh thần, thời gian. Lúc có nhiều tiền có khi lại mắc bệnh,
nếu sống ác lúc đó nhìn đâu cũng thấy kẻ thù, vì tham lam, làm điều xấu có thể
còn gặp cảnh tù tội,… Khi bất chấp thủ đoạn để giành lấy “thực” của người khác
thì ngay thời điểm đó Đạo đã không còn. Nhưng dưới tác dụng yểm trợ của triết
học đấu tranh người ta cũng luôn có lý do để bao biện cho hành vi của mình.
Người ta truy cầu để mong có hạnh phúc nhưng hạnh phúc lại là làm mà không truy
cầu. Còn đối với con cái, văn hóa Thần truyền chú trọng dành cho con cái sự
giáo dục nhân cách hơn là tiền bạc, vì tiền bạc tiêu sẽ hết còn có đạo đức mới
được lâu dài, thà nghèo chứ không gian dối.
ĐCSTQ dạy dân “vật
chất quyết định ý thức”, nói “vì dân” lẽ ra phải cho người dân
nhiều vật chất để họ sống sung sướng nhưng lại không làm ăn gì, chuyên tham
nhũng tiền thuế nhà nước gửi ra nước ngoài, lũng đoạn xã hội, khiến cho dân
chúng luôn lo lắng kiếm tiền để sinh tồn. Trong môi trường xã hội không lành
mạnh, muốn làm người tốt không dễ.
Triết học đưa ra lời giải về
bản chất, nguyên lí, đạo lí về vũ trụ, nhân sinh. Duy vật luận không giải thích
gì về vũ trụ, nhân sinh mà chỉ chia rẽ: “duy vật” > < “duy tâm”, ngụy tạo
mâu thuẫn để đấu tranh, triệt hạ. Đây là phá hoại đạo đức học, làm loạn tư
tưởng học.
Tác
hại: Thuyết này phá hoại đạo đức, khiến con người không biết về
chính mình, một đời theo đuổi vật dục đánh mất chính mình, khiến người ta tự
làm khổ mình, chỉ vì chút lợi nhỏ nhoi mà buồn mà vui, cả một đời không biết vì
điều gì mà sống, tâm trạng căng thẳng, mệt mỏi, tâm hồn lạnh lẽo, trống rỗng,
buồn chán,…
C/
Triết học đấu tranh
Lý
thuyết: “Lịch
sử tất cả các xã hội tồn tại từ trước đến ngày nay chỉ là lịch sử đấu tranh
giai cấp”, “Đấu tranh giai cấp là động lực phát triển” hay “hạnh
phúc là đấu tranh”.
Sự
thật: ĐCSTQ đem lịch sử nhân loại nói thành lịch sử của đấu tranh giai
cấp là sự xuyên tạc, bôi nhọ lịch sử, tiền nhân. Các hoàng đế ở Trung Quốc
không phải ai cũng là kẻ thù của nhân dân, còn ở Việt Nam theo sử sách từ thời
vua Kinh Dương Vương tới hết thời các vua Hùng trị vì là 2622 năm thanh bình,
cho đến các triều …, Đinh, Lê, Lý, Trần,… đều là sống nhân ái, yêu thương, đoàn
kết, “lá lành đùm lá rách”, “thương người như thể thương thân”, “gặp nhau là có
duyên”, chứ không phải là “đấu tranh sinh tồn” như trong thế giới động vật.
Quan lại thời xưa là quan phụ mẫu, không phải ai cũng “sống chết mặc bay”. Lịch
sử loài người cũng không phải đang tiến hóa mà dường như có sự lặp lại, nhiều
nền văn minh trước đây đều đang ở dưới đáy đại dương. Đấu tranh cũng không phải
là động lực để phát triển, thực tế “giai cấp” nông dân đấu tranh với “địa chủ”
đã khiến cho tri thức sản xuất nông nghiệp bị mất dẫn đến làm ăn đói kém, “giai
cấp” công nhân đấu tranh với chủ nhà máy, phá nhà máy xong rồi thất nghiệp,…
Tác
hại: Triết học đấu tranh khiến người ta có thể đánh nhau chỉ vì
một cái nhìn, một câu nói. Người người coi nhau như địch, luôn trong trạng thái
chuẩn bị chiến đấu, bớt bạn thêm thù. Đấu tranh sinh tồn là khái niệm trong thế
giới động vật. Đấu tranh bản chất là tư tâm, có tư tâm sẽ thấy khổ tâm, nó liên
quan chặt chẽ với tật đố, khí oán hận. Nó kích phát, sản sinh ma tính, biểu
hiện: Giả
dối, bạo lực, bất chấp thủ đoạn,… Chia rẽ, lợi dụng, ngụy tạo mâu thuẫn, xúi
bẩy, kích động,… Giảo hoạt, xảo ngữ, biện giải, giấu dốt, chỉ chích người khác
để che lỗi, đề cao bản thân,… Bắt lỗi, “vạch lá tìm sâu”, kỳ thị… Ác ý, phán
xét, nói xấu sau lưng, sợ mất lòng,… Vu khống, đánh đồng, chụp mũ, hù dọa,
khống chế, dụ dỗ,… Khủng bố, sát nhân,… Ngạo mạn, hiếu thắng, thách thức, luôn
cho mình đúng, ích kỷ, tật đố, hận thù, oán trách,… Cưỡng cầu, áp đặt,… Tỏ ra
mạnh mẽ, chửi bới, ác khẩu, loạn ngôn, quá khích,… Tranh đấu, đấu khẩu, đấu tố,
đấu rượu, hơn thua đúng sai, tranh ngôn đoạt lý, tranh công đổ lỗi,… Đa nghi,
lén lút,… Tranh đua, hiển thị, nói cho hay, nói phóng đại, hình thức, hời hợt,…
Tranh giành, trộm, cướp, hôi của,… Hèn nhát, khiếp nhược kẻ mạnh – khinh khi kẻ
yếu,… Chỉ đâu đánh đó, không có lương tâm,… Luồn cúi, sợ hãi, vòng vo, nịnh bợ,
phụ họa vuốt đuôi,… Hùa theo số đông, không có chính kiến, giả vờ ngây thơ, vô
trách nhiệm, vô cảm, coi rẻ sinh mệnh,… Tiêu cực, nghiêm trọng hóa, tuyệt đối
hóa, phiến diện, tùy tiện, thái quá, cực đoan,…“Nói một đằng làm một nẻo”,“nước
mắt cá sấu”, đạo đức giả, cải lương,… Những ma tính này đôi
khi còn chưa kịp nghĩ nó đã biểu hiện ra, không Nhẫn được nhiều tâm sẽ nổi lên.
không làm chủ được bản thân. Vì thế, nó không phải sản phẩm của trí tưởng
tượng, nó là biểu hiện của sự tồn tại vật chất cấp vi quan, sinh mệnh ma tính,
sự khống chế con người, làm biến dạng khuôn mặt, hành vi, hại sức khỏe, làm xấu
vận khí, tạo nghiệp,…
Triết
học đấu tranh còn mở rộng ra đấu Trời đấu Đất, chinh phục tự nhiên. Đấu
Trời, đấu Đất, đấu người mang hậu họa cho chính mình, hại người hại mình, ma
tính đại phát, thân tâm mệt mỏi, nhìn đâu cũng thấy kẻ thù. Trong văn hóa Thần
truyền con người hòa hợp với tự nhiên, tôn kính Trời Đất, Thần linh, biết bằng
lòng với năng lực của mình,…
D/
Thuyết tiến hóa – cơ sở
khoa học, bệ đỡ cho 3 thuyết trên.
Lý
thuyết: Dựa trên cái gọi là “chọn lọc tự nhiên” và “đấu tranh sinh
tồn”, tế bào ở Đại Dương tiến hóa thành thực vật dưới nước, rồi tiến hóa thành
động vật dưới nước, thành động vật trên cạn, thành vượn rồi thành người, rồi
xuất hiện văn minh nhân loại. Thực vật tiến hóa thành động vật rồi tiến hóa
thành người, đây phải chăng là một câu chuyện kỳ dị.
Sự thật:
Thuyết Tiến hóa là giả thuyết, suy diễn vô căn cứ, chưa được chứng minh, tin
vào thuyết tiến hóa là điều rất kỳ lạ, kỳ lạ nữa là còn được gọi là khoa học và
dạy khắp thế giới. Quá khứ có nhiều nhà khoa học dũng cảm đứng ra phản đối
nhưng đều bị trù dập.
Theo thuyết tiền hóa thì không
quá 1 vạn năm trở lại đây mới xuất hiện nền văn minh. Thế nhưng khảo cổ học
ngày nay đã phát hiện rất nhiều bằng chứng đặt lại câu hỏi cho lịch sử nhân
loại. Tại bảo tàng Museo Cabrera ở Peru có bộ sưu tập hơn 10.000 tảng đá Ica
được chạm khắc cách đây hàng vạn năm, khiến người ta kinh ngạc vì trên đá khắc
cảnh con người thời xưa mặc quần áo, phẫu thuật tim, não,… có cả hình người dùng
kính viễn vọng quan sát tinh tú, chứ không phải là ăn lông ở lỗ. Ở dưới đáy đại
dương người ta còn phát hiện ra nhiều nền văn minh tiền sử khác nhau như dưới
quần đảo Yonaguni ở Nhật Bản, thành cổ Hujing ở Bành Hồ – Đài Loan,… đó không
phải do người thời kỳ này tạo ra, càng không phải do khỉ tạo ra. Còn rất nhiều
bằng chứng khác chứng minh con người đã có từ cách đây rất lâu.
Thêm nữa, nếu thuyết tiến hóa
là đúng thì hóa thạch quá trình trung gian giữa các loài sẽ rất nhiều, tuy
nhiên khảo cổ học không thể tìm thấy, và hiện nay tại sao các loài lại không
tiến hóa tiếp nữa, nếu thời gian lâu hơn nữa liệu có loài nào sẽ tiến hóa hay
là chỉ thấy thoái hóa, tuyệt chủng. Năm 1953 các nhà khoa học Anh phát hiện
bằng chứng của thuyết tiến hóa – hộp sọ vượn người Piltdown hóa ra là đồ giả,
đó không phải sọ vượn-người mà là hộp sọ của một người đàn ông hiện đại chế tác
với xương hàm dưới của đười ươi. Nhiều
người bị kết án lừa đảo nhưng họ đã chết nên người ta còn băn khoăn về động cơ
của những “nhà khoa học” này. Người ta hễ tin cái gì thì cũng đều là “mê tín”,
còn “dị đoan” là điều quái dị, sai trái thế thì tin thuyết tiến hóa có phải là
“mê tín dị đoan”. Ở Thổ Nhĩ Kỳ đã bỏ dạy thuyết tiến hóa.
Vật lý lượng tử đã phát hiện ra
vật chất vi quan có thể tổ hợp thành vật chất tầng lớn hơn: phân tử do nguyên
tử tổ thành, tế bào do phân tử tổ thành, thân người là do các tế bào tổ thành.
Nhưng đặc tính gì đã khiến vật chất có thể tổ hợp với nhau và ai có thể làm
được việc này. Xưa nay cũng chỉ thấy con người thờ Thần, không thấy ai thờ
vượn. Nếu đúng là Thần tạo ra, chăm lo cho con người, thì nói vô Thần cũng như
con cái không nhận cha mẹ. Thuyết tiến hóa phủ nhận Thần, cho tổ tiên con người
là động vật, cho rằng bằng cách đấu tranh con người sẽ tiến hóa, đánh lừa tư
tưởng là vật chất có trước và quyết định ý thức.
Hậu
họa: Thuyết tiến hóa của Darwin còn dự đoán như sau: “Vào
một giai đoạn nào đó, có thể tính bằng thế kỷ, các chủng tộc văn minh của loài
người hầu như chắc chắn sẽ hủy diệt và thay thế các chủng tộc man rợ”. (Sách
“Từ Darwin tới Hitler”, OCLC – 534 85256).
Dù cho thuyết tiến hóa chỉ là
giả thuyết thì khi phải ghi nhớ để vượt qua bài kiểm tra nó đã hằn sâu vào đầu
và người ta cũng đã đem nó ra áp dụng cho con người, còn nạn nhân của giả
thuyết này đã và đang nằm xuống khắp nơi trên thế giới.
Tín
ngưỡng của ĐCSTQ phản Thiên, Địa, tự nhiên, vô đạo đức, phản khoa học.
ĐCSTQ dùng xảo ngữ mới và cũ,
hiện đại và lạc hậu để đánh lạc hướng tư tưởng, văn hóa là linh hồn dân tộc,
không phải là quần áo chạy theo mốt. Cái cũ là văn hóa Thần truyền, văn hóa dân
tộc, cái mới là cái ngoại lai, biến dị, là văn hóa ma truyền. ĐCSTQ
tín ngưỡng vào tà thuyết, mê tín dị đoan.
Khi người ta tin điều Marx nói rồi đi thực hành đến khi phát hiện ra là sai thì
lại bị quan
niệm, dục vọng, ma tính khống chế, giống như ma túy hít thì
dễ, cai thì khó. Đây được xem là sự lừa dối lớn nhất và độc ác nhất lịch sử
nhân loại nhưng ĐCSTQ lại ca ngợi là “đỉnh cao trí tuệ của loài người” và người
ta không dám nhắc đến Thần hay đạo đức ở chỗ đông người vì sợ thiên hạ chê cười
cho là mê tín, không thực tế.
Người ta có thể cho súng đạn,
giặc ngoại xâm là đáng sợ nhưng thứ này nó xui khiến đồng bào tự giết nhau, và
còn đáng sợ hơn nữa. Người xưa nói:“Một người thầy thuốc mà sai lầm thì
có thể giết chết một bệnh nhân, một nhà chính trị sai lầm thì có thể giết hại
một dân tộc, một nhà làm văn hoá tư tưởng mà sai lầm thì có thể giết hại cả một
thế hệ”.
Trong con người vốn có Phật
tính và ma tính, vô Thần luận và duy vật luận phá vỡ sự ức chế ma tính, phóng
túng dục vọng, còn triết học đấu tranh kích phát, sản sinh ma tính, chúng kết
hợp, yểm trợ nhau tạo ra bộ tà thuyết cực kỳ nham hiểm,
đánh vào điều căn bản, tốt đẹp nhất của con người là tín Thần và đạo đức, khiến con
người đi tới chỗ tự hủy diệt.
Bộ tà
thuyết này giống như thuốc phiện, thuốc độc thậm
chí còn
độc hơn cả thuốc độc vì
nó không những hại chết người mà còn hủy diệt cả tâm linh, nó còn nguy hiểm hơn
thuốc độc ở chỗ có thể lây nhiễm từ người này sang người khác, lây truyền từ
thế hệ trước xuống thế hệ sau, lây lan từ nơi này sang nơi khác, như một thứ
dịch bệnh kinh khủng mà lại không nhìn thấy, ít người để ý tới nên lại càng
nguy hiểm. Người ta chủ quan coi nhẹ, cho nó chỉ đơn giản là bộ môn sinh vật
học hay triết học nhưng không phải vậy, nó là thứ để hủy đi nhân loại, diệt cả
xác lẫn hồn. Tư tưởng quyết định hành vi, tư tưởng
sai lầm dẫn đến hành vi sai lầm. Tác hại của bộ tà thuyết
này là vô cùng thâm sâu rộng lớn không thể tính đếm hết:
– Về
mặt vật chất, nó chính là hung thủ giấu mặt hại chết vô số người, gây ra
đấu trời, đấu đất, đấu người, vắt kiệt tài nguyên, phá vỡ vòng tuần hoàn nước,
hạn hán lũ lụt, ô nhiễm môi trường, chạy đua vũ trang, diệt chủng, nạo phá
thai,… tội phạm, hàng giả,… thực phẩm bẩn, thuốc giả, hạ độc thủ,… mất lòng tin
nên gia tăng chi phí quản lý,…
– Về
mặt tinh thần, khi đạo đức tụt dốc, ma tính khống chế con người thì cuộc sống
không hạnh phúc, luôn cảm thấy mệt mỏi, đau khổ. Nó phá hoại hạnh phúc gia
đình, thuần phong mỹ tục, phụ nữ vùng lên đấu tranh với đàn ông khiến âm thịnh
dương suy. Nó khiến nhiều học trò bất kính thầy cô, vợ chồng ly hôn, cha con,
anh em bất hòa,… Đấu tranh lục đục từ trong gia đình cho đến ngoài xã hội. Tinh
thần xấu là vật chất xấu, tinh thần bất an, ma tính đại phát làm tổn thương lục
phủ ngũ tạng khiến sức khỏe suy giảm dẫn đến bệnh tật,…
Độc hại
nhất: Theo Phật gia giảng, lúc con người chết đi chỉ là tách ra
khỏi nhục thân (thân thể ở tầng tế bào), nhục thân chỉ như cái áo mà người mặc
vào, phần linh hồn hay chủ nguyên thần (vật chất cấp vi quan, thứ phát ra tư
tưởng, suy nghĩ) mới là cái tôi chân chính, có kẻ muốn giết con người thật sự
nên mới nghĩ ra mấy tà thuyết này, cắt đứt đường tìm về nguồn gốc, khiến con
người không coi trọng đạo đức mà phạm tội, tạo ác nghiệp, lúc đó tự sẽ bị quy
luật vũ trụ đào thải. Theo tôn giáo, con người làm gì đều có ghi chép, nghĩ gì
Trời Đất đều biết, giấu người không giấu được Thần linh. Nếu làm nhiều điều xấu
thì chết đi linh hồn bị đày xuống địa ngục chịu tội, gây ra tội nặng, phỉ báng
Phật Pháp thì nhập Vô Gián địa ngục (ngục A Tì), bị khổ hình liên tục với thời
gian dài như vô tận, muốn chết cũng không chết được, tệ hơn còn có thể bị “hình
thần toàn diệt”, trong đau đớn giải thể từng tầng, đó là nỗi bất hạnh lớn nhất
của một sinh mệnh.
Từ khi
tà thuyết của Marx xuất hiện đã khiến cho người ta đau đầu hơn. Bộ tà thuyết
này lan đến đâu là hủy hoại, gây đau khổ cho con người đến đấy, khiến con người
tự làm hại nhau, đã gây ra họa loạn khắp thế giới, gây mâu thuẫn: tôn giáo khoa
học, duy vật duy tâm, da trắng da đen,… người người mâu thuẫn, đấu đá không
ngừng nghỉ, mệt mỏi, suy kiệt, cho đến diệt chủng, chiến tranh. Nhân lúc thời
thế loạn lạc nó chui vào, xâm chiếm Trung Quốc gieo rắc thảm họa. Không chỉ ở
Trung Quốc, hiện các tà thuyết, tổ chức của nó vẫn ở khắp nơi trên thế giới,
phân thân, lột xác, trá hình và ngự trị trong tư tưởng con người.
Trở lại
vấn đề nguyên nhân ĐCSTQ đàn áp Pháp Luân Công
Bộ tà thuyết này nhằm khống chế
tinh thần con người để độc tài thống trị đồng thời hủy hoại tâm linh, được
ĐCSTQ thông qua giáo dục, nghệ thuật, phim ảnh, hội họa, khẩu hiệu, pano, áp
phích, loa đài…, tuyên truyền trường kỳ tẩy não con người kết hợp ma tính được
kích phát, sản sinh trong các cuộc vận động đấu tranh, thay
văn hóa truyền thống 5000 năm (văn hóa Thần truyền) bằng
văn hóa độc hại ngoại lai giả-ác-đấu (văn
hóa Đảng).
Sau một thời gian dài như vậy
con người còn rất ít suy nghĩ độc lập của bản thân thay vào đó là những tư
tưởng mà ĐCSTQ cấy vào, nó chiếm chỗ làm chủ, che lấp tính bản thiện của con
người. Có lúc con người không muốn nghĩ nhưng tư tưởng vẫn phản ánh ra là vì tư
tưởng cũng là vật chất, là sinh mệnh. Khi các tà thuyết ám, nhiễm vào đại não,
nó sẽ lèo lái tư tưởng quyết định hành vi, nhưng người ta lại tưởng rằng mình
đang làm chủ bản thân.
– ĐCSTQ muốn hành ác nên dùng
vô Thần luận gây u mê thành viên. Nó thường xuyên bắt các Đảng viên báo cáo tư
tưởng, phê bình và tự phê bình để kiểm soát tinh thần của họ, nhòm ngó, theo
dõi, trinh sát cả suy nghĩ trong não, muốn họ quên đi lương tâm mà chỉ biết
chấp hành để vận hành hệ thống hành ác của Đảng.
– Khi con người vô Thần, ĐCSTQ
mới có thể vận động tạo Thần cho lãnh tụ của Đảng
để quy tụ lòng người. Người xưa tín Thần, thà nghèo chứ không gian dối, sống
ngay thẳng, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng còn khi con người vô Thần, không coi
trọng đạo đức và ham mê vật chất thì tính mềm yếu của nhân tính có thể bị thao
túng, sự đe dọa, cám dỗ có thể được dùng để hoàn toàn kiểm soát con người.
– Khi con người cho rằng đấu
tranh sinh tồn mạnh được yếu thua trong thế giới động
vật cũng là quy luật của con người thì không có chỗ cho lương
tri và công lý, Nhân hay Nghĩamà chỉ còn sinh tồn, thắng thua, khôn dại thì
ĐCSTQ mới hợp thức hóa được các cuộc vận động đấu tranh hết lần này đến lần
khác, giữ thế độc tôn. Văn hóa Đảng cũng khiến người dân suy nghĩ theo hướng
bảo vệ Đảng, thờ ơ, vô cảm.
– Khi con người bị nhiễm triết
học đấu tranh họ không còn yêu thương nhau nữa mà hầu như ai cũng nghĩ cho
mình, nghi kỵ lẫn nhau, thờ ơ, vô cảm thì dân số Trung Quốc tuy đông nhưng chỉ
như một mâm cát, thuận tiện cho ĐCSTQ thống trị.
Khi Pháp Luân Công với nguyên
lý Chân
– Thiện – Nhẫn và niềm tin vào Thần Phật, Thiện ác hữu báo
được truyền ra tại Trung Quốc, ngay lập tức được sự đón nhận từ quần chúng vì
điều đó phù hợp với bản tính tự nhiên của con người cũng như văn hóa và lối
sống truyền thống của dân tộc Trung Quốc gần như bị đánh mất từ lâu. Ngày càng
có nhiều người lựa chọn Chân – Thiện – Nhẫn và
niềm tin vào Thần Phật, từ đó có tiêu chuẩn phân biệt tốt xấu mà khước từ, vứt
bỏ những thứ lừa đảo, độc ác của Mác-Lê mà ĐCSTQ vẫn rao giảng khắp nơi, tuyên truyền
bắt ép cả nước phải học theo và gọi là “chân lý tuyệt đối”, “đỉnh cao trí tuệ
của loài người”. Một cách tự nhiên cơ sở lý luận – nguyên lý – nền tảng
tư tưởng – kim chỉ nam của ĐSCTQ bị lung lay và đứng trước
nguy cơ sụp đổ. Làm sao ĐCSTQ có thể tiếp tục lừa gạt, khống chế tinh thần, làm
hại Đảng viên và người dân được nữa. Điều đó đã khiến ĐCSTQ hết sức hoang mang.
Đây là một trong những lý do
ĐCSTQ bức hại Pháp Luân Công. Pháp Luân Công không
phải tín ngưỡng duy nhất bị đàn áp mà cả Đạo Phật, Đạo Lão,
Đạo Khổng trong Đại CMVH hay Cơ Đốc giáo, Thiên Chúa giáo, Phật giáo Tây Tạng…,
cũng bị đàn áp vì lý do này. Một số tôn giáo khác được phép hoạt động dưới sự
ngầm thao túng của ĐCSTQ.
ĐCSTQ
chưa từng ngưng tay tiêu diệt phá hoại tín ngưỡng vào Thần, Phật. Từ độc tài
thống trị để bộ tà thuyết này là tín ngưỡng duy nhất tại Trung Quốc đầu độc tâm
hồn con người một cách bài bản, hệ thống. Nếu như ĐCSTQ không giết một người
Trung Quốc nào thì chỉ riêng việc biến đất nước thành quốc giáo rồi dùng tà
thuyết tẩy não người đã là một tội ác, còn ác hơn cả việc giết người vì nó muốn
giết chủ nguyên thần của con người.
Nguyên
nhân 3: Bản chất giả-ác-đấu của ĐCSTQ
Bản
chất của ĐCSTQ là giả-ác-đấu, là lực lượng phản vũ trụ, thích hại người, thông
qua bức hại tín ngưỡng, truyền tà thuyết, vận động, cải cách, cách mạng, chính
sách, chỉ tiêu, kế hoạch…, để làm hại, hủy diệt con người cả về vật chất và
tinh thần.
Vận động đấu tranh là cách chủ
yếu mà Ðảng Cộng sản Trung Quốc giành quyền lực, sống sót, các cuộc vận động
được ĐCSTQ thực hiện hết sức bài bản và hiểm ác. Quá trình này được lặp đi lặp
lại nhiều lần với các nhóm khác nhau, để thiết lập chính quyền, gieo rắc sợ hãi,
thu gom tài sản, bần cùng hóa dân chúng, hủy hoại văn hóa, làm kích phát, sản
sinh ma tính trong con người. Giống như ông Mao đã từng nói “Cách
mạng Văn hóa cần 7-8 năm làm lại một lần”. Trong một số lần
vận động ĐCSTQ thậm chí diệt chủng theo chỉ tiêu %. Trước
khi tấn công một nhóm người nào đó ĐCSTQ thường dùng chiêu bài phân chia giai
cấp, gây chia rẽ để tách một bộ phận người ra khỏi cộng đồng, bịa tội cho họ
rồi tuyên truyền kích động hận thù, xúi dục, lôi kéo,
kích động người dân cùng vào hùa phạm tội.
Khi không biết về quá khứ thì
không hiểu được hiện tại và dễ mắc lại sai lầm trong tương lai. Dưới đây là sự
thật lịch sử một số cuộc vận động và tội ác của ĐCSTQ, nhiều thông tin tổng hợp
từ sách “Cửu Bình”, thời báo Epochtimes tiếng trung,…
Cải cách
ruộng đất (1949-1953)
CCRĐ đã được thực hiện từ nhiều
năm trước để lấy lòng và lợi dụng nông dân nghèo, sau khi Nhật đầu hàng đồng
minh lúc nội chiến với Quốc Dân Đảng để lợi dụng những người giàu ĐCSTQ dùng kế
sách “thống nhất chiến tuyến lâm thời” nhưng ngay khi cướp được chính quyền vào
năm 1949 thì những nông dân giàu có, nhiều đất đã không tránh khỏi bị sát hại.
CCRĐ đã được thực hiện bài bản theo từng bước, đầu tiên là làm luật, tuyên
truyền, tập huấn quán triệt đường lối của Đảng, thành lập ủy ban, đoàn, đội cải
cách, lên tinh thần đấu tranh trong nội bộ, giảm tô thuế để lấy lòng nông dân,
rồi lan ra xã hội dân vận, lên danh sách,… Ủy ban, đoàn, đội cải cách thực ra
là các tổ chức khủng bố nằm ngoài vòng pháp luật giống như Hồng vệ binh hay
phòng 610 sau này.
Những người nông dân tốt bụng,
thật thà đã hi sinh, nuôi nấng, góp vàng, bao bọc, làm lá chắn cho ĐCSTQ trong
“cách mạng” đã không thể ngờ rằng đến khi nắm được quyền lực thì Đảng qua
cầu rút ván, lấy oán báo ơn, độc ác xảo quyệt ở chỗ không tự mình
ra tay mà mượn tay nông dân để giết nông dân.
Triển
khai
ĐCSTQ ly
gián, chia rẽ dân nông thôn ra thành nhiều thành phần trong đó
nông dân có nhiều ruộng đất bị dán nhãn “địa chủ”. Hầu hết các “địa chủ” đều là
người tâm địa lương thiện, giàu văn hóa, tài sản của họ có được do cha ông để
lại, do chịu khó làm ăn nên có nhiều đất hơn người khác,… Bằng cách dựng
truyện, ngụy tạo mâu thuẫn ĐCSTQ đưa nội hàm xấu và từ “địa chủ” như bóc lột,
gian ác, ghê gớm để lừa nông dân, kích động thù hận, áp dụng tà thuyết Mác-Lê
biến tình cảm gia đình, xóm làng thành đấu tranh hận thù bóc lột giai cấp, thay
quan hệ gia đình thành quan hệ giai cấp của các “đồng chí”.
Dùng chiêu bài “vì dân” hứa hẹn
“dân cày có ruộng”, thâm nhập ăn ngủ tại nhà nông dân để làm công tác“dân
vận” đạo đức giả, thăm nghèo hỏi khổ, truyền tà thuyết, khai
thác, kích ma tính đố kị, thù hận xúi bẩy, dụ dỗ, hù dọa nông
dân vạch
lá tìm sâu, đặt điều vu khống “địa chủ”, xui trẻ con đấu tố ông bà,
cha mẹ. Lập ra nông hội, mở các lớp tập huấn dạy tố khổ, tố điêu. Đến phiên đấu
tố khổ chủ, ĐCSTQ đe dọa, bắt ép tập hợp nông dân lại, lập ra tòa án (gọi là
tòa án nhưng không có luật sư, thành phần gồm cán bộ Đảng, bần cố nông,…), đặt
tên là “tòa án nhân dân”. Đội cải cách cho người đóng giả nông dân trà trộn vào
đám đông để hô hoán, kích động ngụy tạo ý dân, hay
thêm tội để tiện xử lý, dùng tâm lý đám đông, súng đạn đe dọa, khủng bố tinh
thần nhân dân để không ai dám lên tiếng bảo vệ khổ chủ, đe dọa, bắt ép hô các
khẩu hiệu đã dạy từ trước, sau rồi bắn địa chủ ngay tại chỗ.
Không ít người theo ĐCSTQ làm
cách mạng rồi nằm xuống ngoài mặt trận cũng đã không thể ngờ ngay khi cướp được
chính quyền Đảng bắt bớ, sát hại cha mẹ, vợ và con cái của họ ở quê nhà. Cảnh
tượng bắt bớ không khác trong bài thơ Thạch Hào lại của Đỗ Phủ: “quan
bắt người nửa đêm, ông già vượt tường trốn, bà già ra cửa nhìn”. Nhiều
nơi để đạt chỉ tiêu bà già, trẻ con cũng bị bắt, giết. Nhiều nơi ĐCSTQ giết cả
nhà địa chủ. Các chỉ tiêu tiêu diệt “địa chủ” thông qua quy định của Mao Trạch
Đông là 10%, 5%, 3% số dân nông thôn. Đây thực ra chính là diệt chủng. Đội cải
cách chỉ cốt làm sao làm giả tội, bắt, giết cho đủ chỉ tiêu để hoàn thành nhiệm
vụ, còn những Đảng viên che chở địa chủ thì bị cách chức hay bỏ tù để làm
gương.
Thủ
đoạn tra tấn, giết người
Đội cải cách xông vào nhà dân
không nói đạo lý, như cướp đến nhà, kiểu như “ta là lưu manh đây, ta còn sợ gì ai”, thường
tìm cách tra tấn để moi tiền vàng trong nhà họ sau đó mới giết. Một số hình
thức tra tấn, giết người như: dùng than nướng người sống đến khi chảy mỡ, chôn
sống, cắt tai, moi tim, bắn vào sau gáy, ném đá tập thể vào đầu, phơi nắng cho
đến chết, cưỡng hiếp tập thể phụ nữ, xé trẻ sơ sinh ra làm hai,… Nhiều phụ nữ
đã tự tử sau khi bị cưỡng hiếp, nhiều trường hợp dân không muốn chết dưới tay
đội cải cách nên cắn lưỡi, thắt cổ, hay nhảy xuống giếng tự vẫn, nhiều gia đình
tự sát tập thể. Con cái của địa chủ sống qua được chiến dịch này bị phân biệt
đối xử và vẫn bị tấn công trong các cuộc vận động sau đó.
Khi phát xít Nhật đánh bom dân
chui xuống hầm còn ĐCSTQ về làng “giải phóng con người khỏi áp bức bóc lột” thì
nhiều người nửa đêm phải khăn gói bỏ quê mà đi. Nhiều người liều mình vượt biển
sang Hồng Kông, nhiều gia đình chìm thuyền bỏ mạng ngoài khơi.
Trung Quốc năm 1950 có khoảng
460 triệu dân nông thôn, theo một số thống kê số người chết trong CCRĐ ít nhất
khoảng 2,4 – 5 triệu người (con số thực tế có thể lớn hơn) ĐCSTQ ác hơn phát
xít Nhật ở chỗ bắt ép người thân, hàng xóm phải đấu tố nhau để hủy diệt tinh
thần để lại hậu quả cho đến tận sau này.
Cải cách ruộng đất (CCRĐ) như
luồng âm khí quét về nông thôn, quét đi sự bình yên ở nông thôn hàng ngàn năm qua,
quét đi luân thường đạo lý, ma xui quỷ khiến vợ chồng, cha con, anh em, hàng
xóm đấu tố nhau, truyền thống dòng tộc rạn nứt. Xã hội hỗn loạn, bạo lực tràn
lan. Nông dân mang tội giết người lại phải mang ơn Đảng và lãnh tụ và đắm chìm
trong những bài hát ngợi ca chiến thắng do Đảng sáng tác. Nhiều người bị mê
hoặc còn đem tượng, ảnh kẻ chủ mưu giết người về thờ.
Lật
lọng thu lại ruộng từ nông dân
Ngày vui “dân cày có ruộng”
chưa được bao lâu, vừa ổn định được hệ thống, “Đảng ta” thu lại ruộng cho vào
Hợp tác xã, cả ruộng từ cha ông để lại cũng đều bị thu hết, lúc này nhiều nông
dân mới bắt đầu hiểu ra thế nào là cộng sản, nhiều người có cảm giác bị lừa
nhưng vừa chứng kiến cảnh Đảng giết người xong, sợ quá không dám có ý kiến,
đành làm thuê cho Hợp tác xã, vừa đói vừa khổ. Chia ra – hợp lại, cuối cùng tất
cả đều về tay Đảng, gọi là thuộc sở hữu “nhà nước”, dưới sự lãnh đạo của Đảng,
về sau “đổi mới” giao cho nông dân gọi là cho thuê, khoán và có thể bị “thu
hồi” bất kỳ lúc nào với giá đền bù thấp, nếu không chấp thuận thì Đảng cưỡng
chế bằng súng đạn, xe ủi, dùi cui. Dù có ruộng nhưng giá vật tư thì cao, giá
nông sản lại thấp, vì thế gần như nông dân có làm mà không có hưởng, lại do chi
phí sinh hoạt, giáo dục, y tế,… lớn, thóc có bán hết cũng không đủ trả.
Nhiều con cái của nông dân bị
ĐCSTQ ép chứng kiến cảnh đấu tố, giết chóc, tâm hồn chai sạn, lại lớn lên trong
vòng tay của Đảng, Đoàn, Đội, hát bài hát ca ngợi công ơn “Đảng vĩ đại”, “Mao
chủ tịch vạn tuế”, vì trẻ em như tờ giấy trắng dễ tẩy não làm nguồn, bổ sung
lực lượng cho Đảng, còn chuẩn bị tương lai hơn 10 năm sau trở thành Hồng vệ
binh đi tấn công thầy cô, quật mộ tổ tiên, đập đình chùa, sát nhân trong Đại
Cách mạng Văn hóa.
Mục
đích của cải cách ruộng đất
Trong lúc chiến tranh, tên bay
đạn lạc, vì sự thù hận có xảy ra việc giết hại dân thường vô tội là điều còn có
thể lý giải được, còn ĐCSTQ khi đã giành được chính quyền mà lại giết dân lành
là vì điều gì? nhiều Đảng viên không hề biết mục đích thật của Đảng mà đều bị
lừa thành tòng phạm, nhiều Đảng viên có công với cách mạng cũng bị đem ra bắn,
không cứu nổi chính mình và người nhà. ĐCSTQ không hề sai lầm mà đã đạt được
mục đích, dĩ nhiên không phải để dân cày có ruộng, đó
là lừa phỉnh để lợi dụng vì thế nào ruộng cũng vào hợp tác xã, hơn chục năm trước
ĐCS Liên Xô cũng đã làm xong CCRĐ, “địa chủ” (kulak) bị Đảng giết, đất đai bị
tập thể hóa về tay Đảng, đến lượt Trung Quốc, nó tiến hóa hơn, nghĩ ra trò đấu
tố, hay nếu để dân cày có ruộng thì có thể làm theo
cách chính phủ thu mua để chia lại giống như Đài Loan, tại sao Đảng lại giết
người và còn gọi đây là một thắng lợi rực rỡ.
Vậy thì mục đích thật sự của
cải cách ruộng đất là gì? đây thực sự là một vấn đề lớn cần được làm rõ, điều
này cần bàn về lai lịch và mục đích thật sự của ĐCSTQ, xin được trình bày ở mục
III.5 lá thư này. Cơ bản là sau CCRĐ, Đảng đã luồn được các chi bộ Đảng kiểm
soát nông thôn, thiết lập trật tự xã hội mới, giết đi người nắm giữ văn hóa
truyền thống để có đất cho tín ngưỡng Mác-Lê sinh sôi nảy nở ở nông thôn, lại
vừa khiến gia đình, dòng tộc tan nát, phá vỡ tổ ấm con người từ đó xã hội hỗn
loạn theo để đục nước béo cò. Qua đấu tranh ma tính cũng kích phát, sản sinh,
lại khủng bố để dân sợ, còn khiến nông dân mang ơn để tiếp tục cống hiến, hi
sinh cho Đảng, vơ vét tài sản để bần cùng hóa dân, cướp đất. Quỷ kế thâm độc
này có lẽ chỉ có con quỷ mới nghĩ ra được. Thông qua CCRĐ, ĐCSTQ cũng đặt bước
cơ sở, khống chế bát cơm sinh tồn của dân và tai họa vẫn còn đang chờ ở phía
trước.
Cải
cách công thương (năm 1951)
Trong khi quan hệ giữa người
chủ và người làm thuê là tương hỗ hết sức bình thường và người chủ cũng phải
lao động trí óc, lại tạo ra công ăn việc làm cho công nhân và phải chịu trách
nhiệm với cơ sở sản xuất thì ĐCSTQ tà vạy lại lờ đi phần tinh thần này và ngụy
tạo mâu thuẫn thành “giai cấp bóc lột” và “giai cấp bị bóc
lột”. Dưới tiền đề ấy băng Đảng thổ phỉ này cướp trắng tài sản
của tư sản thậm chí giết họ. Nhiều người
uất ức quá đã tự vẫn, khi chết cũng không dám nhảy sông vì sợ chết không thấy
xác Đảng sẽ quy cho là trốn sang Hồng Kông, vợ con bị liên lụy, vì thế phải
chọn cách nhảy lầu mà chết.
Cũng giống như cải CCRĐ, sau
cải cách công thương ĐCSTQ đã giết đi nhiều người nắm giữ văn hóa truyền thống
của dân tộc, cướp đoạt tài sản xã hội, bần cùng hóa người dân.
Phong
trào chống cánh hữu (1956 – 1957)
Trí thức là những người có thể
nhìn ra động cơ, thủ đoạn của ĐCSTQ, nhìn ra hiểm họa đối với dân tộc. Sau khi
lợi dụng giới trí thức ĐCSTQ đã đặc biệt chăm sóc họ thông qua chiến dịch “trăm
hoa đua nở” để đè bẹp tự do biểu đạt. ĐCSTQ lừa giới trí thức,
kêu gọi góp ý “giúp đỡ Đảng tự chỉnh đốn” rồi quay lại chụp
mũ họ là “phần tử cánh hữu”, “làm chính trị” và bức hại cho đi
đày, cải tạo, bắn giết. Khi bị phê phán là tại sao lại dùng “âm mưu” ông Mao
nói thẳng: “Không phải âm mưu, mà là „dương‟ mưu-làm công khai đấy
chứ”.
ĐCSTQ đã làm cho Đảng viên và
người dân sợ hãi, các Đảng viên và dân chúng buộc phải bảo vệ bản thân bằng
cách dối lòng mình để nịnh bợ, ca ngợi Đảng và
lãnh tụ, từ đó phát triển nhân cách hai mặt, còn trí
thức là nguyên khí quốc gia buộc phải ẩn mình sống qua ngày đoạn tháng, xã hội
không biết trông cậy vào ai, thế hệ con cháu lầm than, khổ cực. Mầm mống của sự giả
dối, thờ ơ được gieo vào xã hội, cũng từ đây hễ nhắc đến
“Đảng” là ai cũng sợ như sợ cọp.
Đại
Cách mạng Văn hóa (1966-1976)
Đi đầu trong CMVH là hơn chục
triệu Hồng vệ binh (học sinh, sinh viên). ĐCSTQ đào tạo ra “con người xã hội
chủ nghĩa”, đào tạo ra “đội quân tiên phong” này cũng không phải một sớm một
chiều mà là cả quá trình. Người Trung Quốc vốn có đức tính, truyền thống hiếu
học, dù nhà nghèo thế nào cũng cố gắng phải cho con được đi học lấy chữ, thủa
xưa học chữ còn là học Đạo làm người vì trong chữ có Đạo, xuyên suốt lịch sử
văn hóa truyền thống 5000 năm của Trung Quốc cũng chính là một chữ “Đạo” này,
còn đối với ĐCSTQ thì khác, chỉ dạy chữ, dạy thuật mà không dạy Đạo, mà nhiều
chữ cũng bị giản thể để bỏ đi nội hàm Thần truyền, trong khi đó nhiều người nắm
giữ văn hóa truyền thống của thế hệ trước đã bị giết đi trong các chiến dịch
“cải cách ruộng đất”, “trăm hoa đua nở”,… Nhiều phụ huynh vui mừng khi thấy con
đạt điểm cao nhưng lại chủ quan không để ý xem ĐCSTQ đang dạy con họ điều gì và
không cho chúng biết tội ác của Đảng kết quả là con trẻ không có sức đề kháng
và đã bị Đảng, Đoàn, Đội dụ dỗ, nhiều trẻ yêu Đảng còn hơn yêu cha mẹ.
Học sinh, sinh viên đã bị ĐCSTQ
tẩy não bằng tà thuyết của Mác-Lê (vô Thần luận – duy vật luận – triết
học đấu tranh), và thường phải viết kiểm điểm, báo cáo tư tưởng tự
tẩy não để trong đầu chỉ có tư tưởng của chủ nghĩa Marx, phương thức khống chế
tinh thần như ma giáo này đã tạo thành di chứng nặng nề khiến con người không
còn tư duy độc lập. Học sinh còn phải hát những bài hát kích động bạo lực của
đội thiếu niên tiền phong với lời lẽ như: “Chúng tôi là những người kế nhiệm
cộng sản,… một chiếc khăn quàng đỏ tươi phấp phới trên ngực,…. thời khắc luôn
chuẩn bị lập công,… để tiến lên tiêu diệt kẻ thù,…”, hay học
những tác phẩm văn mẫu, về các tác phẩm đả kích văn hóa dân tộc như “thuốc
độc”hay “cái bánh bao tẩm máu người” trong
truyện “Thuốc” của Lỗ Tấn. Hay phê phán đức Nhẫn trong văn hóa truyền thống để
cổ súy ma tính đấu tranh như “AQ chính truyện”,… hay đọc những câu chuyện dàn
dựng, thổi phồng trong sách giáo khoa về “địa chủ gian ác” Lưu Văn Thái, hay
xem tượng sáp dàn dựng tại nhà ông ở Tứ Xuyên với những cảnh như: địa chủ tra
tấn nhốt hầm nước, bơm hơi vỡ khí quản, ném đá, hiếp dâm, chôn sống, giết trẻ
sơ sinh, cắt tai nông dân,… (cảnh tượng gần giống nhà tù côn đảo ở Việt Nam) sự
thật thì ông Lưu là người xây trường trung học Văn Thái tốt nhất Tứ Xuyên thời
đó rồi đem tặng lại, ông thường cứu tế người khó khăn, sửa đường xá, giúp hóa
giải mâu thuẫn và được người dân ở đó gọi là “Lưu đại thiện nhân”, ĐCSTQ đã
cướp nhà ông Lưu rồi về sau làm triển lãm.
Học sinh còn tham quan triển
lãm tranh với những cảnh: chủ nô móc mắt, lột da nông dân,… Xem và tự diễn vở
kịch xuyên tạc đả đảo “địa chủ” ca ngợi cách mạng như: Bạch mao nữ,… Liên tục
như vậy phương phương diện diện học sinh, sinh viên ngập tràn hận thù giai cấp,
chúng hận “phong kiến”, hận “địa chủ”, hận “đế quốc” Mỹ,… hận có thể khiến
người ta mất hết lý trí, lại vô Thần thì điều ác nào cũng dám làm, ĐCSTQ đã
cướp mất tâm hồn trẻ thơ, đôi mắt trong sáng của trẻ đã bị ĐCSTQ thay thế bằng
hận thù, đằng đằng sát khí, trong đôi mắt đó như có ngọn lửa ngày đêm cháy muốn
thiêu đốt mọi thứ, nếu như được báo thù có lẽ chúng sẽ làm như kẻ thù đã làm,
thậm chí còn phải hơn thế mới hả dạ. Ban tuyên truyền (tuyên giáo) kiểm soát
hết sức chặt chẽ tư tưởng con người còn vận động tạo Thần để
chúng cuồng tín vào Đảng và Mao Trạch Đông như cứu tinh của nhân loại, hằng
ngày phải đọc “Hồng Bảo thư” (Mao tuyển), “sớm xin chỉ thị tối báo cáo” như một
loại nghi thức tôn giáo. Không chỉ học sinh mà dân chúng khắp cả nước đều phải
như vậy.
Rồi ngày đó cũng đến, tháng
5/1966 ĐCSTQ phát động Cách mạng Văn hóa, các đơn vị Hồng vệ binh được thành
lập và nhanh chóng lan ra cả nước, họ được ĐCSTQ bảo kê, bao ăn ở để làm “cách
mạng”. Hồng vệ binh đã đấu tố, phê bình, đánh chết nhiều
thầy cô, hiệu trưởng, giáo sư trong trường,… Hồng vệ binh sau đó hướng ra xã
hội với danh nghĩa “phá tứ cựu”: dùng thuốc nổ quật mộ Khổng Tử và gia quyến,
lấy xương cốt Khổng Tử cáo thị dân chúng, treo thi hài gia quyến lên cây, quật
mộ nhiều anh hùng dân tộc như Hạng Vũ, Nhạc Phi,… đào mộ Viêm Đế Thần Nông, đốt
điện chính, phá điện phụ lăng Viêm Đế, phá vĩnh viễn lăng Hoàng Đế Hiên Viên,
phá Đạo quán, đập chùa, đốt tượng chư Thần Phật, Bồ Tát…; ĐCSTQ cướp đất nhà
chùa, nhà thờ, giết tăng mạ Đạo, cho Đảng viên khoác áo cà sa, áo choàng đạo
sĩ, áo dài linh mục để bóp méo Kinh Phật, Đạo Giáo và Kinh Thánh, phá hoại tôn
giáo từ bên trong; “Nhân Lễ Nghĩa Trí Tín” bị coi là “cặn bã phong kiến” còn
“Đạo Đức kinh” của Lão Tử bị gọi là “mê tín phong kiến”. Tín ngưỡng và tu luyện
bị chụp mũ ngu muội, huyền hoặc, mê tín dị đoan,… Tôn Ngộ Không trong tiểu
thuyết Tây Du Ký bị coi là đại diện cho “giai cấp bị bóc lột”, tư gia của Ngô
Thừa Ân bị đánh sập.
Hồng vệ binh lấy việc đập phá,
tra tấn, giết người làm thú vui. Sĩ quan quân đội và binh lính, cảnh sát, dân
quân vũ trang cùng Đảng viên các cấp…, về sau cũng trực tiếp tham gia lập
thành tích phá hoại văn hóa, văn vật và giết hại vô số người,
đặc biệt là giết đi những ai có văn hóa, bao gồm “năm giai cấp đen” (địa chủ, phú
nông, phản động, phần tử xấu, cánh hữu), các hình thức tra tấn, giết người như:
chôn sống, bắn chết, ăn thịt người, hãm hiếp tập thể,… ai cũng có thể trở thành
nạn nhân, người ta có thể bị giết chỉ vì quên khẩu hiệu trong “Mao tuyển”. Theo
các thống kê trong thời kỳ này có tối thiểu 7,73 triệu người bị giết chết,
khoảng 3 triệu Đảng viên bị kỷ luật và cầm tù vì không đáp ứng yêu cầu hành ác
của Đảng, nhiều người được kết nạp Đảng ngay sau khi lập được thành tích giết
người lưu tồn văn hóa, nhiều người cũng lợi dụng cơ hội này để triệt hạ các
đồng chí, đồng nghiệp để thăng quan tiến chức hay trả tư thù. Trớ trêu là khi
xưa liên quân Anh Pháp đốt Viên Minh Viên thì người ta xót xa, đến khi chính
mình đi đốt, đập phá cung điện, lăng vua, đình, chùa thì vừa đốt lại vừa cười
đắc chí, đập hết đi công sức, tâm huyết của chính cha ông, tổ tiên họ.
Trong CMVH, đấu tố cũng lặp lại
như thời CCRĐ, học trò phê bình thầy giáo, nhiều giáo sư, nhà văn hóa, Đảng
viên,… bị đưa ra đấu tố, họ bị chụp mũ “phản động”, “chống Đảng”, trong đại hội
đấu tố dưới sự khủng bố tinh thần của tâm lý đám đông, chính sách liên lụy, con
cái cũng bị ép tố cha mẹ, phải “giác ngộ cách mạng” hô “đả đảo” để vạch rõ ranh
giới với “giai cấp thù địch” nếu không cũng bị liệt vào phần tử “phản động” và
bị đấu tố, cả chủ tịch nước Lưu Thiếu Kỳ cũng bị con gái dán áp phích tố cáo,
bị đấu tố. Nhiều Hồng vệ binh hăng hái đấu tố cha mẹ.
Thời kỳ điên đảo kinh hoàng này
kéo dài 10 năm. ĐCSTQ đã phá hoại văn hóa vật thể và phi vật thể 5000 năm của
dân tộc Trung Hoa, phá hoại đạo đức, thuần phong mỹ tục, phê phán, bôi bác văn
hóa truyền thống, giết, cải tạo giới trí thức, che dấu lịch sử để cho người đời
sau lịch sử không rõ, lý niệm không chính rồi tăng cường nhồi nhét tà thuyết
thiết lập văn hóa Đảng cải biến thế hệ già, đầu độc thế hệ trẻ. Sau thời gian
“đóng cửa then gài” để hủy đi văn hóa Thần truyền 5000 năm, đến thời mở cửa, để lừa người
dân và nhân quyền quốc tế, làm bình phong che dấu tội ác, bản
chất giả-ác-đấu của mình nên ngụy tôn giáo, bề ngoài nhiều nơi cho tu sửa, xây
chùa, đắp tượng gọi là “kế thừa và phát huy văn hóa truyền
thống” nhưng ngầm thao túng, mê hoặc lòng người, thu gom tiền
bạc, từ trong phá ra, rất gian ác. Như lễ hội phần lớn để tưởng nhớ công ơn của
Thần, nếu vô Thần thì tổ chức lễ hội sẽ không có ý nghĩa, đó là để thu tiền.
ĐCSTQ cũng giảng về đạo đức nhưng là đạo đức giả để mị
dân.
Còn về số phận Hồng vệ binh:
Sau khi lợi dụng, cướp đi tuổi thanh xuân của họ, ĐCSTQ vận động Hồng vệ binh
“lên núi xuống làng”, về nông thôn học tập bần cố nông, thực chất là đi lưu
đày, lao động cưỡng bức, họ sống cuộc sống lận đận, học hành thì dang dở, vô số
người đã mắc bệnh tâm thần, chết trẻ, tự vẫn,… nhiều người bị ĐCSTQ bắn chết
khi cố gắng bỏ trốn, do bị Đảng mê hoặc nhiều người
đến chết vẫn còn tự hào từng là Hồng vệ binh đầy quyền uy, có bản sự. Vô số
người nửa đời sau sống trong ân hận vì nghe ĐCSTQ xui dại hành ác đấu
tố, giết hại thầy cô, cha mẹ, có người chết lặng khi con hỏi
về ông bà, nhưng ĐCSTQ vẫn rót vào tai họ về ơn Đảng và sự vĩ đại của Đảng.
Xuất
khẩu “cách mạng”
Trong thế giới động vật có loài
tu hú đẻ trứng của mình vào tổ chim khác, khi con tu hú nở ra, nó ủi trứng và
chim non “anh em” rơi ra khỏi tổ, ký sinh ăn thức ăn từ chim chủ nhà, độc chiếm
tổ. Tu hú con sau này lớn lên theo bản chất di truyền lại đi đẻ vào tổ chim
khác.
Ác như tu hú, ĐCS Liên Xô cũng
“đẻ” tổ chức của mình vào Trung Quốc, “giải phóng” Trung Quốc xong thì diệt
chủng, tiêu diệt tam giáo, diệt văn hóa dân tộc Trung Quốc, từ đây tổ chức này
cũng “đẻ” vào nhiều nước khác, ký sinh vào nông dân, ám toán trí thức yêu nước,
cướp chính quyền, diệt văn hóa dân tộc họ. Nhiều lãnh tụ Đảng này là người gốc
Hoa bị trúng tà thuyết. Polpot, Nuon Chea,… là người gốc Hoa, Trần Bình (lãnh
tụ ĐCS Malayxia) là người Hoa gốc Phúc Kiến,…
Xuất
khẩu sang Triều Tiên
Kim Nhật Thành từ nhỏ theo cha
di cư sang Trung Quốc, học tiểu học và trung học ở tỉnh Cát Lâm, 19 tuổi gia
nhập ĐCSTQ, được ĐCSTQ đào tạo, cất nhắc. Sau này Kim Nhật Thành chiến đấu
trong Hồng Quân của Liên Xô. Năm 1945, phát xít Nhật đầu hàng quân Đồng Minh,
Triều Tiên bị chia cắt làm hai do sự chiếm đóng tạm thời của Liên Xô và Mỹ, ở
phía Nam Đại Hàn Dân Quốc ra đời đi theo con đường dân chủ vào năm 1948. Ở phía
Bắc, Liên Xô tuyên truyền và đưa Kim lên làm lãnh đạo thiết lập chế độ cộng
sản.
Ngày 25/06/1950, với chiêu bài
“giải phóng Nam Hàn”, “thống nhất đất nước”, ĐCS Triều Tiên dưới sự ủng hộ, hỗ
trợ ngầm từ ĐCS Liên Xô và ĐCSTQ kéo quân vượt qua vĩ tuyến 38 tấn công Nam
Triều Tiên. Hội đồng bảo an Liên Hợp Quốc đã lên tiếng và đưa quân can thiệp để
cứu Nam Triều Tiên và ngăn làn sóng đỏ lan ra thế giới, Mỹ cùng quân lính 15
nước thành viên đẩy lui ĐCS Triều Tiên và tiến công sang Bắc Triều.
ĐCSTQ gọi Mỹ là “đế quốc sài
lang”, lợi dụng lòng yêu nước của người dân, tuyên truyền lừa dối phát động
“chiến tranh chống Mỹ xâm lược và giúp đỡ Triều Tiên”, kêu gọi dân chúng góp
tiền, đưa “quân tình nguyện” sang Triều Tiên làm vô số binh lính Trung Quốc
chết oan, ĐCSTQ rất coi rẻ sinh mạng người lính, thường dùng chiến thuật biển người,
cả các hòa thượng trẻ cũng bị đẩy ra chiến trường làm bia đỡ đạn, người chết vô
số, cuối cùng đã giành được “chiến thẳng”, khôi phục lại Bắc Triều, để từ đó
đến nay hàng triệu người dân Bắc Triều Tiên đã chết bất thường, thậm chí bị xử
bắn vì xem phim Hàn.
…
Xuất
khẩu sang Campuchia
ĐCSTQ truyền thụ tà thuyết và
hậu thuẫn Polpot “giải phóng” Phnom Penh vào năm 1975, “giải phóng” xong thì hỗ
trợ Polpot tiêu diệt “giai cấp bóc lột”, diệt chủng khoảng ¼ dân số Campuchia
(khoảng 2 triệu người) mục tiêu là những người có văn hóa gồm các nhà sư Phật
giáo, tu sĩ Cơ Đốc giáo, văn nghệ sĩ, nhà báo, bác sĩ, giáo viên, những người
đeo kính, còn cả những người tàn tật và dân tộc thiểu số và cả đồng hương người
Hoa cũng giết không tha (giết 20 vạn người), ngoài chết vì bị hành quyết nhiều
người bị chết vì đói. Khơme Đỏ trúng tà thuyết Mác-Lê mất hết tính người: hãm
hiếp phụ nữ, xé xác trẻ em,… lấy cuốc, búa, liềm, lưỡi lê,… để sát nhân và xem
như là thú vui, ăn thịt người như ma cà rồng, tại nhà tù S21 một chiếc máy
khoan sọ người đã được cố vấn của ĐCSTQ thiết kế để lấy não người làm thức ăn
tẩm bổ cho lãnh đạo của ĐCS Campuchia.
Thảm
sát Thiên An Môn 4/6/1989
Kể từ năm 1978, sau khi hoàn
tất công cuộc “đóng cửa” phá hoại văn hóa. ĐCSTQ cải cách “mở cửa”, cuộc sống người
dân có cải thiện hơn chút, nhiều người dần quên lịch sử, lầm tưởng ĐCSTQ đã
“sửa sai”, lần này thì Đảng tốt lên rồi, hóa ra không phải vậy.
Năm 1989, tại Trung Quốc người
dân đói khổ, sinh viên học hành vất vả ra trường thất nghiệp, tham nhũng tràn lan
trong hàng ngũ quan chức của ĐCSTQ, sau cái chết của ông Hồ Diệu Bang (cựu tổng
bí thư của ĐCSTQ, một người ủng hộ cải cách) sinh viên yêu nước đã xuống đường
giễu hành và tới Thiên An Môn dựng tượng “nữ Thần dân chủ”, đề xuất chính kiến,
yêu cầu tự do, dân chủ. Đáp lại, ĐCSTQ chụp mũ sinh viên là
“phản cách mạng”, “làm chính trị” và lừa binh lính quân
đội rằng một cuộc bạo loạn đã xảy ra ở Bắc Kinh, nhiều binh lính đã bị giết
hại. Quân đội nhân dân cùng xe tăng được lệnh đã tiến vào quảng trường Thiên An
Môn “dọn sạch” sinh viên, đêm mùng 3 rạng sáng mùng 4/6 quân đội xả súng và
nghiền nát hàng ngàn con em nhân dân, sau đó máy ủi gom xương thịt đem đi hỏa
thiêu. Đứng đầu tội ác này là Đặng Tiểu Bình và Giang Trạch Dân.
ĐCSTQ đặt tên cho quân đội là
quân đội nhân dân nhưng thực ra quân đội bị ĐCSTQ điều khiển vì trong quân đội
có Đảng bộ lãnh đạo. Nhiều binh lính quân đội bây giờ vẫn hết sức hối hận vì bị
ĐCSTQ lừa mà cán chết sinh viên yêu nước. Đảng bưng bít thông tin, tuyên truyền
lừa dối rằng “không có sinh viên nào bị giết trên quảng trường Thiên An Môn”,
ngày nay nhiều sinh viên Trung Quốc khi nghe tới thảm sát Thiên An Môn thì
trong tâm bắt đầu cảnh giác cho là chuyện bịa đặt của “thế lực thù địch phương
Tây” hòng lật đổ Trung Quốc.
Ngoài
các tội ác trên còn nhiều tội ác khác như: Thảm sát đoàn AB, Chỉnh phong Diên
An, vây khốn thành Trường Xuân, Tam Phản Ngũ Phản, Đại nhảy vọt (làm chết đói
30-40 triệu người),… độc giả có thể xem trong sách Cửu Bình (http://9binh.com/).
Độc hại thâm sâu hơn nữa là
trong nhiều cuộc vận động đấu tranh: bạn bè, cha mẹ, con cái, vợ chồng bị ĐCSTQ
ép phải tố giác lẫn nhau, từ đó hủy diệt đạo đức, nhân tính, tình thân. Dân tộc
Trung Quốc bị chia rẽ, người người nghi kỵ nhau như một mâm cát. Có người ví
toàn bộ đất nước Trung Quốc giống như một “đấu trường” La Mã cổ, trong đó mỗi
người Trung Quốc bị buộc phải trở thành một “võ sĩ giác đấu”; còn lãnh tụ ĐCSTQ
ngồi trên khán đài cười lớn “thật sướng vô cùng”, vừa
cười vừa nói:“tám
trăm triệu người, không đấu đá là không được”. ĐCSTQ là một tổ
chức ngoại lai, chỉ có khái niệm đấu tranh sinh tồn,
giai cấp thống trị và giai cấp bị trị, nó không có tình cảm gì với đất nước hay
dân tộc.
Không
kể ai đúng ai sai nếu nghe bóng ma ĐCSTQ xúi bẩy mà bài xích, đấu nhau thì hai
bên đều sẽ bị tổn thương và ĐCSTQ sẽ ở đằng sau cười đắc chí.
ĐCSTQ
tín ngưỡng vào tà thuyết, hành ác hại người, dựa
vào đấu tranh để sinh tồn. Thế hệ sau do không biết bản chất và lịch sử Đảng
nên đã tiếp tục bị lừa, ĐCSTQ lại phát động đàn áp Pháp Luân Công vào T7/1999.
Nhiều người lại đóng vai “cảnh sát”, “hồng vệ binh” như trong CMVH năm xưa. Có
một điều mà mọi người cần phải biết đó là văn hóa Đảng là tồn tại vật chất, có
thứ thành tự nhiên hay khi gặp điều kiện là phát ra, còn tổ chức này chuyện ác
nào cũng có thể làm, bản chất không đổi và còn đang “tiến hóa”.
Nguyên
nhân 4: ĐCSTQ sợ Chân – Thiện – Nhẫn
ĐCSTQ bản chất giả dối: “giải
phóng” thực ra là cướp chính quyền, “cải cách ruộng đất” là giết người cướp
đất, “đại nhảy vọt” là đại nhảy lùi, “cải cách công thương” là giết người cướp
của, “Cách mạng Văn hóa” là phá hoại văn hóa,… Lịch sử của ĐCSTQ là giả, anh hùng
của ĐCSTQ là giả,… nếu người ta có thể vượt tường lửa kiểm duyệt internet, tự
mình tìm hiểu sự thật về những tuyên truyền của Đảng này thì có thể sẽ cảm thấy
sốc vì toàn là lừa dối. Còn người dân Trung Quốc là một đời bị lừa dối, có
người đến khi nhắm mắt vẫn chưa biết mình bị lừa mà còn mang ơn Đảng, uổng phí
một kiếp làm người. Vì sự giả dối, tội ác của mình ĐCSTQ
sợ sự thật và cần duy trì một xã hội giả dối để tồn tại,
nếu không tội ác và bản chất của Đảng sẽ bại lộ. ĐCSTQ chỉ có thể tồn tại trong
môi trường giả dối và bưng bít thông tin vì thế nếu không ai cấp thị trường,
thỏa hiệp, chấp nhận sự giả dối thì ĐCSTQ sẽ không còn chỗ ẩn nấp, như loài
muỗi chỉ biết hút máu người và truyền dịch bệnh, nó chỉ sống được ở nơi tăm tối
và rất sợ ánh sáng. Khi nguyên lý về Thiện được phổ biến người dân sẽ không thờ
ơ, vô cảm mà yêu thương, quan tâm, bảo vệ nhau thì ĐCSTQ rất
khó mà thỉnh thoảng lại tách một bộ phận dân chúng ra để hành ác, khi nguyên lý
về Nhẫn được phổ biến thì người ta sẽ kiềm chế được bản thân, không dễ bị lừa,
kích động, phụ họa theo.
Khi ngày càng có nhiều người
tin vào Chân
– Thiện – Nhẫn, ĐCSTQ đứng trước sự lựa chọn tất yếu của lịch sử
hoặc là biến đổi để tốt hơn hoặc là thoái lui khỏi vũ đài lịch sử, nhưng vì bản
chất ĐCSTQ không đổi nên đã ra tay đàn áp. Dù là thế nhưng trong thế kỷ thông
tin này ĐCSTQ cũng khó mà bức hại Pháp Luân Công nếu không có Giang Trạch Dân
một kẻ đố kỵ, hoang tưởng, bất chấp hậu quả.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét