Việc gọi “ngụy quân” hay “ngụy quyền” đối với chính thể Việt
Nam Cộng Hòa là một sự quay lưng lại với một phần quan trọng của lịch sử Việt
Nam hiện đại, một chính quyền, một quốc gia mà trên thực tế đã tồn tại một cách
độc lập trên thực tế ở miền Nam Việt Nam từ năm 1954 – 1975. Cách gọi là “ngụy”,
“tay sai” là một sự chứng tỏ muốn “phe ta” là chính nghĩa của những người Cộng
sản và gán cho đối phương phía bên kia chiến tuyến những tính từ không hay. Dù
sao đi nữa cách gọi như vậy cũng đã quá lỗi thời và chỉ càng đào sâu thêm khoảng
cách thù hằn dân tộc, có lẽ đã đến lúc nhà nước Việt Nam và những người lãnh đạo
nên tự ý thức lại chính bản thân họ mà gạt đi những cái nhìn “địch – ta” đối với
những người đã từng ở phía bên kia chiến tuyến và đất nước Việt Nam hơn bao giờ
hết đang cần phải có sự đoàn kết để đối phó với những thử thách cả về đối nội lẫn
đối ngoại.
Về đối ngoại thì đó chính là vị thế, chỗ đứng của Việt Nam
trong sân chơi kinh tế - chính trị thế giới ở hiện tại và trong tương lai, Việt
Nam sẽ như thế nào trong cuộc chơi tranh giành ảnh hưởng của các cường quốc mà
đặc biệt Việt Nam trong suốt quá trình lịch sử của mình đã luôn luôn phải dè chừng
mối hiểm họa đe dọa đến chủ quyền lãnh thổ từ Trung Quốc. Còn về đối nội thì rõ
ràng đó là vấn đề về việc bảo đảm một cách tốt nhất những nhu cầu an sinh – xã
hội cơ bản cho người dân và hơn hết là phải bảo đảm những quyền công dân của họ,
đó là những quyền liên quan đến quyền tự do, dân chủ, những quyền cơ bản mà người
dân được hưởng một cách vô điều kiện v.v... hơn nữa là mối quan hệ giữa nhà nước
Việt Nam với người dân và xã hội Việt Nam nói chung là nên có những mô hình,
phương pháp, cách thức được áp dụng mà trong đó có nhấn mạnh đến sự kiểm soát
chặt chẽ đối với quyền lực của nhà nước, không để dẫn đến tình trạng cực quyền,
mất dân chủ, dân chủ nửa vời v.v..
Tất cả những vấn đề trên thì hết thảy đều cần phải có sự học
hỏi cầu thị từ chính những người đang nắm quyền lãnh đạo trên thực tế tại Việt
Nam hiện nay. Quả thật chính thể miền Nam Việt Nam trước năm 1975 tuy chỉ tồn tại
vỏn vẹn có 21 năm nhưng đã để lại ở miền Nam Việt Nam một số thành tựu nhất định
như một số lĩnh vực nhất là về sự tương đối tự do cởi mở về mặt chính trị, ai
đã từng sống ở miền Nam khi đó chắc hẳn đều không thể quên những liên danh
chính trị nổi tiếng đã từng xuất hiện trên chính trường ở thời kỳ đó, ngoài ra
phong trào dân sự của các tầng lớp nhân dân cũng rất sôi nổi như của sinh viên,
ký giả, dân biểu, giới trí thức v.v… (mặc dù không phải là hoàn toàn không có sự
dò xét, kiểm duyệt từ chính quyền lúc đó trong bối cảnh chiến tranh, đối phó với
những người Cộng sản khi đó). Ngoài chính trị ra thì những lĩnh vực khác như tổ
chức bộ máy hành chánh, giáo dục đào tạo con người, văn học – nghệ thuật, tư tưởng….
mà trong số các thành tựu đó vẫn còn đáng để xem xét, tham khảo cho ngày nay và
nói thẳng ra là còn phải học hỏi, nghiên cứu ở những thành tựu này rất nhiều và
điểm nhấn mạnh giữa thời kỳ trước với thời kỳ hiện nay đó là vào thời kỳ trước
thì bất kể ở lĩnh vực nào thì cũng đều… tự do hơn so với thời hiện nay.
Vì thế đối với Việt Nam Cộng Hòa trước năm 1975 đáng lẽ phải
xem là di sản quý báu của lịch sử Việt Nam thời hiện đại, di sản này đáng lẽ phải
có thái độ trân trọng mới thật sự là đúng đắn và thái độ của giới chính thống
hiện nay thiết nghĩ không thể chỉ dừng lại ở việc từ bỏ danh xưng cũ “ngụy
quân”, “ngụy quyền” mà hơn nữa còn phải có thái độ cởi mở hơn thế nữa, phải
nhìn nhận đây là một thực thể chính trị thật sự và có những thành tựu, kết quả
phải xem xét, nghiên cứu từ nhiều góc độ. Còn một khía cạnh cực kỳ quan trọng nữa
khi nhà nước Việt Nam hiện nay ứng xử với di sản Việt Nam Cộng Hòa đó là những
người đã từng thuộc di sản đó và con cháu họ thì nên có tâm thế cầu thị và mời
gọi, hòa giải, bởi vì được biết sau ngày 30/4/1975 thì số người di cư khỏi Việt
Nam đến sinh sống rải rác tại các quốc gia như Úc, Canada, Hoa Kỳ, Pháp, Đức
v.v... đều là những quốc gia tiên tiến hiện nay, đó là những nguồn nhân lực vô
giá cho quá trình xây dựng, thúc đẩy phát triển, cải cách về mọi mặt đối với đất
nước.
Tựu chung lại thì đáng nhẽ từ lâu phải nhìn nhận Việt Nam Cộng
Hòa như là một phần quan trọng không thể thiếu của lịch sử Việt Nam. Sau khi biết
được thông tin là sách Lịch sử Việt Nam 15 tập do các NXB chính thống đã từ bỏ
cách gọi “ngụy quân”, “ngụy quyền” đối với Việt Nam Cộng Hòa, xem nó là một thực
thể độc lập trên thực tế ở miền Nam Việt Nam từ năm 1954 - 1975 thì biết đâu
đây là một dấu son nhỏ, nhất là về mặt nghiên cứu và giáo dục lịch sử thì từ
xưa đến nay nó chiếm vai trò rất quan trọng trong việc hình thành tư duy, nhận
thức của con người về xã hội nơi họ đang sinh sống, liệu thay đổi cách gọi tên
về Việt Nam Cộng Hòa có mở đầu cho những cách nhìn nhận mới, toàn diện, trung
thực sau này về chính thể này hay không, cách nhìn nhận không chỉ đến từ nhà nước,
chính quyền mà còn phải đến từ những ngược được thụ hưởng từ công tác nghiên cứu,
giáo dục lịch sử? Có thể cách nhìn nhận đó sẽ chưa có trong thời gian gần, nếu
chưa có thì hãy làm cho có, điều này đáng để được cổ vũ và Việt Nam Cộng Hòa và
di sản của họ thật sự xứng đáng đề có được cách nhìn nhận xứng tầm.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét