Trong đời sống, người Việt ta có câu “danh có chính thì ngôn
mới thuận”, để nói về sự cần thiết phải có tính chính danh, trước khi bảo được
người khác nghe theo thì ta phải chính danh cái đã. Trong câu chuyện quyền lực,
tính chính danh càng quan trọng hơn nữa. Nó là gì vậy? Vì ta thường nghe nói đến khái niệm “bào mòn tính chính danh
của kẻ cầm quyền”, nên nhiều người trong chúng ta có thể tưởng nhầm rằng chính
danh là một đặc điểm, một phẩm chất của nhà cai trị.
Nhưng thật ra, chính danh lại không phải là thuộc tính của
nhà cai trị, mà lại là một đặc điểm do dân chúng (người bị trị) gán cho người cầm
quyền.
Các nhà khoa học chính trị định nghĩa tính chính danh là niềm
tin phổ biến của các thành viên trong một xã hội rằng quyền lực của chính quyền
hay đảng cầm quyền là đúng, chính đáng, hợp lý, hợp pháp, và vì thế dân chúng
phải phục tùng. Chính quyền có chính danh tức là việc cầm quyền của họ là phù hợp,
thích đáng trong suy nghĩ của người dân, và vì thế người dân chấp nhận phục
tùng chính quyền ấy.
Như vậy nghĩa là, một nhà lãnh đạo có chính danh hay không
là do dân chúng có công nhận rằng việc nhà lãnh đạo đó nắm quyền lực nhà nước
là đúng, chính đáng, hợp lý, hợp pháp, tóm lại là “phải đạo”, hay không.
Nhiều chính quyền ở khối cộng sản Đông Âu cũ, như Đông
Đức, Ba Lan, Hungary, mặc dù trên danh nghĩa được thành lập hợp pháp thông qua
các cuộc bầu cử, song một khi đã hết tính chính danh – tức là không còn được số
đông dân chúng ủng hộ, đã lần lượt sụp đổ vào cuối thập niên 80 của thế kỷ trước.
Ba con đường để có tính chính danh
Theo nhà xã hội học người Đức Max Weber (1864-1920), có ba
cách [2] để một tổ chức có được tính chính danh và trở thành chính quyền –
nghĩa là quyền lãnh đạo của họ được dân chúng thừa nhận: 1. Nhờ truyền thống
(cha truyền con nối); 2. Nhờ có sức hấp dẫn của lãnh tụ; 3. Nhờ được thành lập
hợp pháp và hợp lý.
Trước hết là tính chính danh có được nhờ truyền thống để lại.
Đây là trường hợp các chính thể, các vương triều cha truyền con nối. (Anh, Bỉ,
Hà Lan, Tây Ban Nha, Morocco [Ma-rốc], Saudi Arabia [Ả-rập Xê-út], Kuwait
[Cô-oét], Thái Lan…). Những chính quyền này được coi là có tính chính danh bởi
vì chúng được công nhận từ lâu trong lịch sử, hay nói cách khác, tính chính
danh của chúng được truyền lại từ các triều đại trước. Người dân ở những xã hội
này chấp nhận chính thể đương thời bởi vì chính thể ấy đã cầm quyền từ lâu,
thành truyền thống, và không ai còn đặt vấn đề phải xem xét lại hay phá bỏ truyền
thống ấy.
Thứ hai là tính chính danh có được nhờ có lãnh tụ kiệt xuất.
Đây là trường hợp những chính thể được công nhận chính danh nhờ vào sự hấp dẫn
của một cá nhân nào đó được công chúng sùng bái, và cá nhân đó đóng vai trò
lãnh tụ, lãnh đạo trong chính thể đó. Ví dụ như các chính quyền Napoleon
(Pháp), Mussolini (phát xít Ý), Hitler (Đức quốc xã), Fidel Castro (Cuba cộng sản),
Khomeini (Hồi giáo Iran), Lenin, Staline (Liên Xô), Mao Trạch Đông (Trung Quốc
cộng sản), dòng họ Kim Nhật Thành (Bắc Triều Tiên), và Hồ Chí Minh (Việt Nam),
v.v.
Những chính quyền như vậy có được tính chính danh nhờ việc họ
có một gương mặt cá nhân nào đó có sức hấp dẫn to lớn đối với dân chúng, được
ngợi ca bởi công đức trời biển, được tôn vinh như “tiên đế”, “cha già dân tộc”,
“khai quốc công thần”. Chừng nào nhân vật ấy còn được sùng bái, chừng đó chính
thể còn có tính chính danh, và ngược lại, khi sự sùng bái của người dân đối với
lãnh tụ kiệt xuất bị suy giảm thì khi ấy, tính chính danh của chính thể bắt đầu
lung lay. Đến khi lòng kính trọng, tin yêu của dân chúng đối với lãnh tụ hoàn
toàn chấm hết, thì chế độ không còn lý do để tồn tại.
Đó là lý do vì sao các chính quyền cộng sản như Liên Xô, Bắc
Triều Tiên, Cuba, Trung Quốc, Việt Nam… phải sống chết bảo vệ hình ảnh vị “cha
già dân tộc” của mình, kể cả hàng chục năm sau khi ông ta mất. Ở những xã hội
này, sự kính trọng, tin yêu đối với lãnh tụ được xem như đạo đức, như một phẩm
chất tốt đẹp. Nói xấu, phỉ báng lãnh tụ bị coi là trọng tội và bị pháp luật trừng
phạt.
Trên thực tế, sùng bái cá nhân đã chỉ đưa đến và củng cố chế
độ độc tài và nô lệ. Không xã hội nào tiến bộ về đạo đức và văn hóa chính trị
nhờ việc dân chúng sùng bái lãnh tụ.
Thứ ba là tính chính danh có được một cách hợp pháp và hợp
lý. Đó là những chính quyền có được tính chính danh nhờ: được thành lập một
cách hợp pháp, hợp lý; có hiến pháp, luật pháp giới hạn quyền lực của nhà nước
để không xâm phạm vào tự do của người dân; có nhà nước pháp trị, tam quyền phân
lập, các chức vụ nhà nước đều có nhiệm kỳ và được bầu cử công bằng, tự do.
Tất nhiên, như các bạn có thể thấy, các chính thể đều sẽ tự
nhận mình là “chính danh nhờ hợp pháp và hợp lý”. Chẳng một chính thể nào lại
nhận mình “cướp chính quyền” và không có tính chính danh.
Thời nay: Kinh tế, quốc phòng quyết định
Max Weber đưa ra lý thuyết của ông về ba kiểu chính quyền có
tính chính danh trong một tiểu luận xuất bản vào năm 1922. Tiểu luận rất nổi tiếng
và lý thuyết của ông có ảnh hưởng từ đó đến nay. Về sau này, các học giả mới bổ
sung thêm một kiểu chính danh nữa, đó là chính danh có được nhờ đạt thành tựu về
kinh tế và/hoặc đạo đức cũng như năng lực bảo vệ chủ quyền quốc gia.
Bạn có thấy “nghe quen quen” không? Rất quen là đằng khác, bởi
vì một nhà nước điển hình cho cách xây dựng tính chính danh kiểu này là láng giềng
của Việt Nam, chung ý thức hệ cộng sản với Việt Nam: Trung Quốc.
Khi nhà nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa mới thiết lập được
chính quyền (năm 1949), tính chính danh của nó có được nhờ những hứa hẹn với
người dân về một đất nước hùng mạnh, xã hội cộng sản bình đẳng, quan chức trong
sạch không tham nhũng, dân chúng ai nấy đều có việc làm ổn định và được bảo đảm
về lương thực thực phẩm, y tế, giáo dục… Dần dần về sau, những thành tựu kinh tế
nổi bật, một nền quốc phòng mạnh đủ làm khu vực và thế giới khiếp sợ, trở thành
cơ sở chủ yếu để nhà cầm quyền Bắc Kinh tạo và giữ được tính chính danh với
nhân dân. Người dân Trung Quốc cần những
cái cớ để tự hào về đất nước, để lòng tự hào dân tộc của họ được ve vuốt, và có
vẻ như đảng Cộng sản Trung Quốc cầm quyền đã giúp họ có được và duy trì những cớ
đó. Đổi lại, dân chúng sẽ trung thành với chế độ và chấp nhận hy sinh một số
quyền dân sự và chính trị.
Tuy thế, thành tựu kinh tế và sức mạnh quốc phòng có thể làm
nên tính chính danh của một nhà nước thì cũng có thể làm cho tính chính danh ấy
bị bào mòn, thậm chí bị xóa sạch, đến mức nhà nước phải sụp đổ. Khi nào kinh tế
Trung Quốc sa sút, bất bình đẳng xã hội gia tăng, quân đội Trung Quốc thất bại
trước một đối thủ nào đó… thì Bắc Kinh mất chính danh. Cần nhớ rằng, kinh tế
suy thoái, phúc lợi xã hội không đảm bảo, chất lượng sống thấp kém, cũng là những
yếu tố dẫn đến việc mất tính chính danh của các đảng cộng sản cầm quyền ở Đông
Âu ngày trước. (Trong khi đó, họ lại không có vị lãnh tụ kiệt xuất nào như
Lenin hay Stalin của Liên Xô).
Xây dựng tính chính danh
Chúng ta đã biết rằng tính chính danh về bản chất là niềm
tin phổ biến của các thành viên trong một xã hội. Như vậy có nghĩa là, về bản
chất, chính quyền có tính chính danh là bởi vì dân chúng tin rằng chính quyền ấy
cầm quyền là đúng. Điều này cũng hàm ý: Quan trọng là niềm tin; một chính quyền
muốn tạo ra và duy trì tính chính danh thì phải làm cho dân chúng có niềm tin ấy.
Bằng cách nào? Có thể bằng bạo lực, đe dọa và khủng bố, để
ép người dân phải tin “chính quyền này mạnh lắm và họ cầm quyền là đúng”. Cũng
có thể bằng tuyên truyền, lừa dối. Hoặc kết hợp cả hai: bạo lực và tuyên truyền.
Nhà khoa học chính trị danh tiếng David Beetham từng viết rằng: “Chính quyền có
thể sử dụng tuyên truyền, quảng cáo, PR để tạo ra và/hoặc làm tăng tính chính
danh cho mình… Một chính quyền có chính danh hay không là do chính quyền đó
tuyên truyền giỏi đến đâu mà thôi”.
Nhìn chung, chúng ta có thể nói: Tà quyền dùng bạo lực và
tuyên truyền để có được niềm tin của dân chúng, từ đó xây dựng và củng cố tính
chính danh. Còn chính quyền thì sẽ xây dựng chính danh qua cách thứ ba – chính
danh nhờ hợp pháp và hợp lý – hoặc cách thứ tư – đạt những thành tựu kinh tế,
quốc phòng vượt trội so với khu vực và thế giới. Song ngay cả cách thứ ba, thứ
tư này cũng phải được kết hợp chặt chẽ, khéo léo với truyền thông chính trị hay
là tuyên truyền.
Chú thích:
[1] Bài viết lược trích từ một chương trong tác phẩm “Chính
trị bình dân” (Phạm Đoan Trang, Giấy Vụn – Green Trees) sắp xuất bản.
[2] “Die drei reinen Typen der legitimen Herrschaft” (Ba kiểu
chính quyền có tính chính danh, tiếng Anh: The Three Types of Legitimate
Rule”), một tiểu luận của Max Weber viết bằng tiếng Đức, xuất bản năm 1922.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét