Hình: Tổng Bí thư Lê Duẩn, người chỉ đạo chiến dịch “chống
phản cách mạng”, tại một buổi mít tinh. Nguồn NYT.
Khi nghĩ về các sự kiện tiêu biểu của phong trào phản chiến
năm 1967, chúng ta nhớ về bài diễn thuyết lên án chiến tranh đầy sức mạnh của Mục
sư, TS. Martin Luther King Jr. vào ngày 4 tháng 4, sự kiện hàng ngàn người trả
lại thẻ đăng ký quân dịch trong tuần lễ đấu tranh “Ngừng quân dịch” (Stop the
Draft), và cuộc diễu hành đến Lầu Năm Góc với số lượng kỷ lục người tuần hành tại
thủ đô Washington.
Năm đó cũng chứng kiến làn sóng biểu tình toàn cầu lên án
chiến tranh, như các cuộc biểu tình tại các thủ đô Châu Âu; và Tòa án Tội ác
Chiến tranh Quốc tế thông qua tuyên cáo lên án sự can dự của Mỹ ở Đông Nam Á.
Các bản tin về cuộc chiến cũng bắt đầu thay đổi, bao gồm lời kêu gọi đầu tiên từ
tờ New York Times về việc tạm dừng ném bom và khởi xướng các cuộc hòa đàm.
Không nổi tiếng bằng, nhưng không kém phần quan trọng là
“phong trào” phản chiến ở Bắc Việt Nam. Không hẳn là một phong trào mà là một tập
hợp không thống nhất các tiếng nói đa dạng, nó tập hợp rộng rãi nhiều thành phần
xã hội Bắc Việt Nam, từ trong chính quyền cũng như công chúng nói chung.
Một vài trong số này chưa bao giờ muốn tiến hành chiến tranh
giải phóng miền Nam ngay từ đầu, thay vào đó tìm cách xây dựng miền Bắc và thống
nhất đất nước thông qua con đường chính trị. Được đào tạo ở Liên Xô, một vài cá
nhân trong số này thậm chí nắm giữ vị trí quan trọng trong Đảng Cộng sản Việt
Nam. Vào năm 1967, các cán bộ này kêu gọi chính quyền bắt đầu đàm phán và chấm
dứt cuộc chiến tranh thảm khốc. Khi một trong số các đảng viên như thế trình
bày quan điểm chính trị của mình trong bài viết “Về chủ nghĩa giáo điều ở Việt
Nam”, ông trở thành kẻ thù số một của chính quyền.
Các Đảng viên không phải là những người duy nhất thể hiện
thái độ chỉ trích đối với cuộc chiến. Các họa sĩ và nhà văn cũng đã trong một
thời gian dài sử dụng tài năng của mình để đưa ra các thông điệp chính trị, đặt
mình vào sự kiểm soát ngặt nghèo của an ninh văn hóa. Các học thuyết chủ nghĩa
xã hội hiện thực, thống trị ở miền Bắc Việt Nam tương tự như ở Đông Âu, yêu cầu
tất cả các loại hình nghệ thuật phải ngợi ca chính sách của Đảng. Khi các đạo
diễn phim, nhà văn hay nhà thơ mô tả sự thảm khốc của chiến tranh hay các trận
đánh với các sắc thái thực tế, thứ nghệ thuật của họ trở nên mang tính “phá hoại”
trong bối cảnh cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, giải phóng dân tộc vẫn đang
cam go. Khi Vũ Thư Hiên, một nhà biên kịch và con trai của thư ký của chủ tịch
Hồ Chí Minh, viết về tình bạn giữa một người lính Việt Nam và binh lính thuộc địa
Pháp trong kịch bản “Đêm cuối cùng, ngày đầu tiên”, ông đã xóa nhòa ranh giới
giữa “bạn và thù”.
Trong khi một số nghệ sĩ chống lại một cách mạnh mẽ sự trói
buộc của tư tưởng chủ nghĩa xã hội hiện thực, những người khác lại chỉ không muốn
phục vụ mục đích chính trị khi từ chối tuân theo đường lối ý thức hệ (của Đảng).
Trong môi trường âm nhạc Hà Nội, hình thức ca khúc được chấp nhận duy nhất là
các bài hát phản ánh tinh thần cách mạng hay nhạc chiến trận mà chính phủ phê
duyệt, và việc chơi bất cứ loại nhạc nào khác trong thời chiến là bất hợp pháp.
Cái gọi là nhạc vàng (đối lập với nhạc đỏ của cách mạng) bị cấm vì sự suy đồi, ủy
mị, và ảnh hưởng ngoại lai. Khi các nhạc sĩ Nguyễn Văn Lộc, Phan Thắng Toán
(người cũng được biết đến với biệt danh “Toán Xồm”), và Trần Văn Thành thành lập
một ban nhạc và bắt đầu chơi các bản tình ca tiền chiến hay các bản nhạc lãng mạn
khác ở đám cưới và các bữa tiệc, họ biết rằng họ đang phạm pháp. Nhưng trong tư
duy của họ, họ không “làm chính trị”; chỉ đơn giản là họ chơi thứ nhạc mình
thích.
Cũng giống như chính quyền Johnson, Đảng dưới sự lãnh đạo của
Tổng Bí thư Lê Duẩn không khoan nhượng đối với các hình thức chống đối công khai. Trong khi
Washington tiến hành chiến dịch Operation Chaos, một chiến dịch bí mật nhằm làm
suy yếu phong trào phản chiến ở Mỹ, thì Hà Nội cũng tiến hành các nỗ lực đàn áp
của riêng mình nhằm đập tan bất đồng chính kiến trong nước. Bắt đầu từ mùa hè
năm 1967, Lê Đức Thọ, Trưởng Ban Tổ chức TW, Trần Quốc Hoàn, Bộ trưởng Công an,
đã tiến hành bắt bớ hàng loạt những người được cho là “phản bội” và những “phần
tử phản động”, những người được dán nhãn “bọn xét lại”.
Lực lượng công an đáng sợ này đã câu lưu hàng trăm công dân
Bắc Việt Nam, bao gồm cán bộ đảng, sĩ quan quân đội cao cấp, nhà báo, luật sư,
nhà văn và nghệ sĩ. Sau khi họ bị bắt, Thọ và Hoàn buộc tội họ “phá hoại chính
sách đối ngoại của Đảng và chính sách chống Mỹ cứu nước của Đảng”, và “thay vào
đó cổ vũ chủ nghĩa hữu khuynh thỏa hiệp và nhân nhượng”. Chiến dịch năm 1967
sau này được gọi là “Vụ án xét lại chống Đảng”,
còn được gọi là “Vụ án Hoàng Minh Chính”, theo tên nhân vật đầu tiên bị
bắt.
Các nghệ sĩ và “nhạc sĩ nhạc vàng” cũng được coi là không
kém phần nguy hiểm. Việc quay bộ phim “Đêm cuối cùng, ngày đầu tiên” của Vũ Thư
Hiên không bao giờ được thực hiện; nhà biên kịch này bị quy là “trắng trợn
tuyên truyền cho chủ nghĩa nhân đạo chung, nhân tính chung vượt ra bên ngoài
tính giai cấp”. Hiên bị bắt vào cuối tháng 12 năm 1967.
Các nhạc sĩ nhạc vàng cũng bị quy là “đầu độc thế hệ trẻ với
những bản nhạc bi quan ủy mị và phản động, khuyến khích một lối sống suy đồi,
nhục tính”. Nguyễn Văn Lộc và các thành viên của ban nhạc tự coi mình là phi
chính trị của ông đã bị bắt năm 1968.
Việc dập tắt những tiếng nói “chống chiến tranh” này ở Bắc
Việt Nam có liên hệ mật thiết với cuộc thảo luận về chiến lược cho cuộc tổng tiến
công quân sự vào năm 1968. Trong một nỗ lực nhằm thoát khỏi tình thế bế tắc và
giành chiến thắng trong cuộc chiến, Lê Duẩn kêu gọi các lực lượng cộng sản tiến
hành các cuộc tiến công phối hợp bất ngờ vào các đô thị miền Nam, đủ mạnh để
thúc đẩy một cuộc nổi dậy của quần chúng nhằm lật đổ chính quyền Sài Gòn. Chủ tịch
Hồ Chí Minh và Bộ trưởng Quốc phòng Võ
Nguyên Giáp phản đối cuộc nổi dậy dịp Tết đầy tham vọng của Lê Duẩn, cho rằng
các lực lượng cộng sản thiếu sức mạnh cần thiết để thúc đẩy một cuộc tổng nổi dậy
trên cả nước. Họ đã trả một cái giá đắt cho sự phản đối của mình.
Trong khi ông Hồ và ông Giáp bị lần lượt đưa đi sang Bắc
Kinh và Hungary, lực lượng an ninh đã bắt và bỏ tù các thư ký và trợ lý cá nhân
của họ, tất cả đều dưới chiêu bài đàn áp các phần tử phản chiến. Tổng số có 30
đảng viên và sĩ quan thân cận với Hồ và Giáp bị bắt, kể cả những người tham gia
chuẩn bị tích cực cho cuộc nổi dậy Tết Mậu Thân. Khi Đại tá Lê Trọng Nghĩa, người
tham gia xây dựng kế hoạch cho cuộc tổng tấn công nhưng trung thành với tướng
Giáp bị bắt vào đầu năm 1968, ông lo ngại rằng sự vắng mặt của mình có thể ảnh
hưởng đến thành công của chiến dịch. Trong khi đó, những người bắt giữ ông thì
lại quan tâm đến vấn đề khác: tìm ra mối liên hệ giữa ông Hồ, ông Giáp, và các
“thế lực phản bội” khác trong Vụ án Xét lại chống Đảng đang đe dọa đến cuộc chiến
tranh của Lê Duẩn.
Phong trào chống chiến tranh ở Mỹ và Bắc Việt Nam không
tương đồng, nhưng có những điểm chung. Trong cả hai trường hợp, phong trào phản
chiến đều bao gồm các thành phần tham gia đa dạng. Trong khi các sử gia bắt đầu
chú ý đến sự không thống nhất và tìm hiểu về sự tương tác giữa nhiều nhóm và
các tổ chức khác nhau bên phía Mỹ, thì chúng ta vẫn chưa bắt đầu vén màn về vô
số những tiếng nói và sự tương tác giữa họ với nhau ở bên phía Việt Nam.
Một sự so sánh nổi bật khác nằm ở sự phản ứng của chính quyền
đối với phong trào phản chiến ở nước mình. Cả Hà Nội và Washington đều sử dụng
các biện pháp vượt ra khỏi khuôn khổ pháp luật để làm suy yếu và dập tắt các tiếng
nói chống đối.
Trong khi Johnson mở rộng quyền lực của C.I.A để tiến hành
chiến dịch do thám trong nước, Lê Duẩn tiến hành chiến dịch “chống phản cách mạng”
dưới sự chỉ đạo của Ban Tổ chức TW và Bộ Công an. Trong con mắt của cả hai
chính quyền, không thể có cái gọi là bất đồng chính kiến lành mạnh trong thời
chiến.
Lien-Hang Nguyen (Nguyễn Liên Hằng) là giáo sư sử học tại Đại
học Columbia và là tác giả của cuốn sách sắp xuất bản “Tet 1968: The Battles
that Changed the Vietnam War and the Global Cold War”.
Dịch giả trân trọng cảm ơn TS. Nguyễn Liên Hằng về sự giúp đỡ
liên quan đến bản dịch này.
Nguồn: Lien-Hang Nguyen, “North Vietnam had an antiwar movement, too”, The New York Times, 25/08/2017.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét