Nguyễn Vũ Bình
Việt Nam là một nước có thể chế chuyên chính, độc tài toàn trị Cộng
sản. Nhưng có sự khác biệt hơn so với Liên Xô và các quốc gia Đông Âu
trước khi sụp đổ, đó là Việt Nam đã có một thời gian khá dài hội nhập
với thế giới. Nền kinh tế đã tiếp xúc, làm quen với kinh tế thị trường,
các quan hệ quốc tế đã rộng mở, nhận thức của người dân có rất nhiều
thay đổi từ tiến trình này. Tuy nhiên, về khía cạnh chính trị, nhà cầm
quyền Việt Nam đã thành công trong việc độc quyền tồn tại một đảng Cộng
sản giữ vai trò lãnh đạo đất nước. Cũng chính vì sự độc quyền về chính
trị này, với sự can thiệp của chính trị vào tất cả các lĩnh vực (dù cách
thức can thiệp có khác trước đây), nền kinh tế Việt Nam đã phá sản hoàn
toàn, xã hội Việt Nam bị dồn nén cùng cực và sự sụp đổ của chế độ Cộng
sản Việt Nam đã hiển hiện trước mắt. Hậu quả của việc chỉ có một đảng
chính trị (đảng Cộng sản Việt Nam) thật là tai hại trong hoàn cảnh chế
độ sụp đổ không có lực lượng chính trị thay thế.
1/ Thách thức lớn - không có lực lượng chính trị thay thế
Chúng ta đều biết rằng, khi một chế độ sụp đổ, nếu có lực lượng
chính trị thay thế, xã hội sẽ giảm bớt được rất nhiều sự hỗn loạn, không
có khoảng trống quyền lực, một hoàn cảnh nguy hiểm đưa tới thời cơ cho
những kẻ cơ hội chính trị. Bối cảnh về các lực lượng chính trị tại Việt
Nam hiện nay, chỉ có một đảng chính trị, là đảng Cộng sản, các lực lượng
đối lập có một số tổ chức ở hải ngoại nhưng chưa xây dựng được cơ sở
tại Việt Nam (về cơ bản). Khi sự sụp đổ chế độ xảy ra, đảng Cộng sản là
thủ phạm đưa đất nước vào ngõ cụt dẫn tới sự sụp đổ chắc chắn không còn
vai trò, tiếng nói gì (với tư cách một lực lượng chính trị) trong việc
xây dựng chế độ mới. Các đảng phái hải ngoại, dù có chuyển toàn bộ bộ
máy từ nước ngoài về trong nước, cũng không thể kịp xây dựng thành một
tổ chức hoàn chỉnh để có thể thay thế vai trò của đảng Cộng sản Việt
Nam. Người dân trong nước, trừ một số người tham gia và quan tâm tới vấn
đề đấu tranh dân chủ, phần lớn còn chưa biết tới sự tồn tại của các tổ
chức, đảng phái đó. Chính vì vậy, cần có một thời gian để xây dựng các
tổ chức chính trị. Hệ quả của việc không có một lực lượng chính trị thay
thế, là các lực lượng chính trị, các tổ chức đảng phái sau này được lập
ra, hoặc được đưa từ nước ngoài về (để hoàn thiện) có vai trò như nhau,
không có lực lượng nào, tổ chức nào chiếm ưu thế. Điều này đòi hỏi một
quá trình làm việc chung, vừa hợp tác vừa đấu tranh, những hoạt động rất
xa lạ với phần lớn người dân trong nước.
2/ Phần lớn người dân bất ngờ khi chế độ sụp đổ, cả xã hội chưa có sự chuẩn bị cho việc thay đổi chế độ.
Không chỉ có những người dân thường, kể cả những người đấu tranh
dân chủ, rất nhiều người không nghĩ, và không tin chế độ Cộng sản Việt
Nam sẽ sụp đổ trong tương lai gần. Đây là điều hết sức bình thường,
ngoài việc sự kiện sụp đổ của một chế độ là vấn đề quá lớn, quá phức tạp
thì nguyên nhân khiến cho phần lớn người dân bất ngờ và không nghĩ có
sự thay đổi chế độ trong thời gian ngắn tới đây là do:
- Hàng ngày, hàng giờ người dân tiếp xúc với hệ thống công quyền
của chế độ, vẫn thấy nó hùng vĩ và không có gì thay đổi so với trước
đây.
- Người dân bị
bưng bít thông tin về những vấn nạn kinh tế, xã hội, chính trị. Về kinh
tế, số liệu không chính xác và bị bóp méo, cũng như cách giải thích né
tránh khủng hoảng sâu sắc và toàn diện của nền kinh tế. Về xã hội, chính
trị, họ không biết được quá trình cướp đất của quan chức, của nhà nước
đã tạo ra đội ngũ dân oan hàng triệu người trên khắp mọi miền đất nước.
Sự đàn áp và dồn nén không trừ một tôn giáo nào khiến cho hàng triệu tín
đồ phẫn nộ. Sự nhu nhược của nhà cầm quyền trước sự thôn tính và bành
trướng của Trung Quốc trên biển Đông và trên khắp đất nước khiến cho bao
thanh niên, trí thức căm phẫn, uất hận…tất cả là một sự dồn nén đến
cùng cực của xã hội.
-
Điều quan trọng nhất, rất nhiều người không nghĩ và không tin có sự
thay đổi chế độ trong tương lai gần là do người ta không nhìn thấy lực
lượng nào, tổ chức nào thách thức sự lãnh đạo của đảng Cộng sản Việt
nam. Người ta luôn nghĩ, muốn thay đổi một chế độ thì phải có lực lượng
thách thức, đánh đổ đảng Cộng sản và thể chế hiện thời. Người ta không
biết, không nghĩ và không tin rằng, chế độ Cộng sản Việt Nam có thể sụp
đổ chỉ giản dị là hết tiền để nuôi, duy trì hệ thống khổng lồ, giúp cho
đảng Cộng sản độc quyền lãnh đạo đất nước. Người ta không biết rằng, sự
cạn kiệt nguồn lực của chế độ đã đến cùng lúc với một nền kinh tế hoang
tàn, niềm tin đổ vỡ hoàn toàn, cùng sự dồn nén cùng cực của rất nhiều
giai tầng trong xã hội. Chính vì vậy mà tuy sống trong khó khăn, cảm
nhận sự bức bối, nhưng phần lớn người dân không nghĩ rằng sẽ có sự sụp
đổ của chế độ trong tương lai gần.
Đây là thách thức không nhỏ, cho quá trình xây dựng thể chế dân
chủ. Bởi vì người dân quá bất ngờ, sự hoảng loạn sẽ diễn ra rất khốc
liệt gây ra rất nhiều khó khăn cho quá trình xây dựng thể chế dân chủ
trong tương lai.
3/
Phần lớn người Việt nam chưa có kỹ năng làm việc tập thể một cách tự
nguyện, các tổ chức, lực lượng chính trị chưa có kinh nghiệm hợp tác,
đối thoại trong những công việc chung.
Như chúng ta biết, người dân Việt Nam có nhiều phẩm chất tốt, cao
đẹp, nhưng cũng có nhiều nét tính cách hạn chế, khiếm khuyết. Một trong
số hạn chế lớn là khả năng, kỹ năng làm việc chung, tập thể. Có nhiều
người gọi khiếm khuyết này, ở phạm vi hẹp, là kỹ năng làm việc theo
nhóm. Ở quy mô lớn hơn, gọi là văn hóa tổ chức. Đây đúng là hạn chế,
khiếm khuyết lớn trong quá trình xây dựng thể chế dân chủ trong tương
lai. Thực ra, từ trước tới nay, người Việt Nam chúng ta cũng vẫn làm
việc trong nhiều tổ chức khác nhau. Tuy nhiên, đó là việc làm có tính
chất bắt buộc (tham gia các đoàn thể), làm việc ở cơ quan. Nhưng những
công việc xây dựng thể chế dân chủ, tính chất tự nguyện rất rõ nét và
chiếm ưu thế, thì chúng ta yếu và thiếu trầm trọng kỹ năng cũng như kinh
nghiệm làm việc. Mặt khác, do chưa có các tổ chức chính trị, đoàn thể
tự nguyện, nên chúng ta cũng rất hạn chế trong việc phối hợp, hợp tác và
đối thoại giữa các tổ chức, đơn vị đoàn thể với nhau cho các công việc
chung. Ở hải ngoại, chúng ta cũng có một số tổ chức, đoàn thể nhưng kinh
nghiệm qua nhiều năm cho thấy, hiệu quả phối hợp, làm việc chung và đối
thoại rất hạn chế và khiêm tốn.
Đi sâu vào nghiên cứu lịch sử, chúng ta biết rằng, trước đây tổ
tiên của chúng ta, thậm chí đời ông của chúng ta hiện nay, cũng không
phải không có kinh nghiệm làm việc chung. Chúng ta có “lệ làng” ở tất cả
các vùng nông thôn, được tổ chức và điều hành hoạt động rất hay và hiệu
quả. Nhưng đến thời kỳ Cộng sản, những nét tính cách, văn hóa đó bị phá
hủy vì bị đánh đồng với văn hóa phong kiến. Đây là điều vô cùng đáng
tiếc. Sau khi mở cửa, hội nhập, những nét văn hóa và lễ hội đang dần
được phục hồi, đi kèm theo là cách thức làm việc chung, tự nguyện đang
được gây dựng trở lại.
Trên đây là khái quát những khó khăn, thách thức đặc thù trong quá
trình xây dựng thể chế dân chủ trong tương lai. Còn rất nhiều thách thức
đặc thù Việt Nam trong việc này, như tâm lý bầy đàn khá đậm nét của
người Việt Nam, thói háo danh, hư danh và sĩ diện cũng rất trầm trọng.
Hạn chế về những kiến thức xã hội, nhân văn và quản trị xã hội trong môi
trường giáo dục Việt nam cũng sẽ ảnh hưởng không nhỏ tới tiến trình xây
dựng nền dân chủ.
II/ Những vấn đề cần quan tâm, thực hiện khi chế độ thay đổi
Qua nhiều phân tích về tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của
Việt Nam, rất nhiều người nghĩ rằng, sẽ có một sự sụp đổ và sụp đổ toàn
diện của chế độ diễn ra trong một tương lai rất gần. Khi chế độ sụp đổ, việc quan trọng nhất là ổn định tình hình. Vấn đề chuẩn bị xây dựng thể chế dân chủ đã trình bày ở các phần trên, chúng ta không nhắc lại.
Chúng
ta có thể hình dung ra, một số nét cơ bản của tình hình, khi chế độ sụp
đổ toàn diện, không có lực lượng chính trị nào thay thế ngay được. Khi
một chế độ sụp đổ, nhất là chế độ cộng sản với biết bao nhiêu cơ quan,
chủ thể trong hệ thống, đồng thời phần lớn người dân bị bất ngờ sẽ xảy
ra một tình trạng hoảng loạn vô cùng rộng lớn. Sự dồn nén, căm phẫn của
người dân, sự lo sợ hoảng loạn của các quan chức cộng sản... sẽ tạo ra
một bức tranh cực kỳ hỗn loạn và lộn xộn. Đây là hậu quả trực tiếp của
việc ngăn chặn, không cho ra đời bằng mọi giá một lực lượng đối lập có
tổ chức của nhà cầm quyền Việt Nam. Như vậy, tình trạng hỗn loạn và vô
chính phủ chắc chắn xảy ra cho tới khi các tổ chức, hội nhóm bàn bạc và
lập ra được một Ủy ban khẩn cấp hoặc Chính phủ lâm thời. Quãng thời gian
này, chúng ta không thể biết được có thể xảy ra những điều gì, và hầu
như chưa ai có thể can thiệp được, trừ sự can thiệp của đội quân gìn giữ
hòa bình của Liên Hợp Quốc, nếu tình trạng hỗn loạn dẫn tới bạo loạn.
Như vậy, khi xuất hiện Ủy ban khẩn cấp hoặc Chính phủ lâm thời thì nhiệm
vụ quan trọng nhất là vấn đề ổn định tình hình.
Muốn
ổn định tình hình, chúng ta cần phải xác định được thành phần và nguyên
nhân gây ra sự hỗn loạn, và giải quyết theo các nguyên nhân đó. Có hai
nhóm người chính, có thể là chủ thể dẫn tới sự hỗn loạn, đó là người dân
với sự dồn nén, bức xúc và căm thù chế độ khi chế độ sụp đổ sẽ có hành
động trả thù. Việc trả thù sẽ kéo dài và lan rộng nếu như họ nghĩ rằng
không có luật pháp và không ai ngăn cản và chế tài được họ. Như vậy ở
đây, cần có những luật lệ khẩn cấp, cần có những lực lượng ngăn cản sự
trả thù một cách tự phát của người dân. Ngoài ra, sẽ có các cá nhân lợi
dụng tình hình để cướp phá, hôi của cũng cần được ngăn chặn. Một thành
phần khác, đó là những cựu quan chức, công nhân việc chức của chế độ cũ,
nhất là công an và an ninh lo sợ sự trả thù, lo sợ cho tương lai có thể
tập hợp nhau lại để đi theo hướng chống lại chính quyền mới để (họ
nghĩ) có thể tự bảo vệ mình. Việc này đặt ra một nhiệm vụ cấp thiết, cần
có một chương trình, chính sách minh bạch, rõ ràng, công bằng và nhân
bản đối với đối với những người thuộc chế độ cũ.
Tóm lại, để ổn định tình hình, Ủy ban khẩn cấp hoặc Chính phủ lâm thời cần thực hiện những công việc thiết yếu sau.
- Công khai mục đích, mục tiêu, thời hạn của Ủy ban khẩn cấp hoặc Chính phủ lâm thời.
- Công khai tiến trình, thời gian biểu, các bước chuẩn bị để xây dựng thể chế dân chủ.
- Công bố chính sách đối với những người, những vụ việc liên quan tới chế độ cũ.
- Công bố, thông báo và có lực lượng hỗ trợ ngăn chặn các hành vi quá khích có tính chất trả thù cá nhân hoặc gây bạo loạn.
Về
cơ bản, với những gương mặt có uy tín, một chương trình hành động rõ
ràng, minh bạch, có thời hạn đồng thời có phương án giải quyết các vấn
đề nổi cộm được thông tin tới toàn thể người dân, sẽ là cơ sở để ổn định
tình hình trong lúc nước sôi lửa bỏng./.
Hà Nội, ngày 21/02/2017
N.V.B
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét