Nguồn: Graham Allison, “What Xi
Jinping Wants,” The Atlantic, May 31, 2016.

Nhà lãnh đạo của Trung Quốc đang
quyết tâm biến đất nước mình thành “chủ thể lớn nhất trong lịch sử thế giới.”
Liệu ông có làm thể được điều đó trong khi tránh được một cuộc đụng độ nguy hiểm
với Hoa Kỳ hay không?
Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình
muốn gì? Bốn năm trước khi Donald Trump trở thành tổng thống, Tập đã trở thành
nhà lãnh đạo Trung Quốc và tuyên bố một tầm nhìn vĩ đại nhằm, về cơ bản, “làm
Trung Quốc vĩ đại trở lại” – kêu gọi “đại phục hưng dân tộc Trung Quốc.”
Tập rất tin tưởng rằng mình sẽ thành
công trong nỗ lực này đến mức ông đã vi phạm trắng trợn một nguyên tắc trọng yếu
trong cuộc sinh tồn chính trị: Không bao giờ đặt ra một mục tiêu và một ngày cụ
thể trong cùng một câu. Trong vòng một tháng sau khi trở thành nhà lãnh đạo
Trung Quốc vào năm 2012, Tập đã đặt ra thời hạn hoàn thành mỗi mục tiêu trong
“Hai mục tiêu thế kỷ” của mình.
Thứ nhất, Trung Quốc sẽ xây dựng
một “xã hội tương đối khá giả” (tiểu khang xã hội) bằng cách tăng gấp đôi GDP
bình quân đầu người năm 2010 lên 10.000 USD trước năm 2021, năm kỷ niệm 100 năm
ngày thành lập Đảng Cộng sản Trung Quốc. Thứ hai, nước này sẽ trở thành một đất
nước “phát triển đầy đủ, giàu có, và quyền lực” vào dịp kỷ niệm 100 năm thành lập
nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 2049. Nếu Trung Quốc đạt được mục tiêu đầu
tiên – mà nước này đang trên đà đạt được – Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) ước tính rằng
nền kinh tế Trung Quốc sẽ lớn hơn 40% so với nền kinh tế Mỹ (tính theo sức mua
tương đương). Nếu Trung Quốc đạt được mục tiêu thứ hai vào năm 2049, nền kinh tế
Trung Quốc sẽ lớn gấp ba lần nền kinh tế Mỹ.
Sự chuyển biến mạnh mẽ của Trung
Quốc có ý nghĩa gì đối với Hoa Kỳ và với sự cân bằng quyền lực toàn cầu? Lý
Quang Diệu của Singapore, nhà quan sát Trung Quốc hàng đầu của thế giới trước
khi ông qua đời năm 2015, có một câu trả lời sắc bén về quỹ đạo ấn tượng của
Trung Quốc trong 40 năm qua: “Quy mô dịch chuyển của Trung Quốc trong sự cân bằng
toàn cầu lớn đến mức thế giới phải tìm một trạng thái cân bằng mới. Không thể
làm như đây chỉ là một chủ thể lớn khác. Đây là chủ thể lớn nhất trong lịch sử
thế giới.”
Phân tích của ông Lý về tình hình
ở Trung Quốc, cũng như trên thế giới rộng hơn, đã biến ông thành một nhà cố vấn
chiến lược được săn đón của nhiều vị tổng thống và thủ tướng ở mọi châu lục –
bao gồm mọi nhà lãnh đạo Hoa Kỳ từ Richard Nixon đến Barack Obama. Ông Lý đã
dành hàng ngàn giờ trò chuyện trực tiếp với các vị chủ tịch nước, thủ tướng,
quan chức chính phủ, và các nhà lãnh đạo đang lên của Trung Quốc, “nước láng giềng
ở phương Bắc” của mình. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc từ Đặng Tiểu Bình đến Tập Cận
Bình đều gọi ông là “sư phụ,” một từ chỉ thái độ tôn kính cao nhất trong văn
hóa Trung Hoa. Và ông Lý, người chia sẻ với tôi những hiểu biết của mình trong
một cuốn sách mà tôi là đồng tác giả năm 2013, đã theo dõi sát sao những biến động
của Trung Quốc từ Đại nhảy vọt và Cách mạng Văn hóa trong những năm 1960 đến sự
xoay trục sang tư bản chủ nghĩa của Đặng trong những năm 1980. Ông đã thiết lập
các mối quan hệ công tác nghiêm túc với nhiều người điều hành Trung Quốc, trong
đó có vị chủ tịch tương lai Tập Cận Bình.
Ông Lý đã thấy trước thế kỷ 21 sẽ
là một “cuộc tranh giành quyền lực tối cao ở châu Á.” Và khi Tập leo lên ghế chủ
tịch nước năm 2012, ông Lý đã tuyên bố với thế giới rằng cuộc tranh giành này đang
tăng tốc. Trong số mọi nhà quan sát nước ngoài, ông Lý là người đầu tiên nói về
nhà kỹ trị phần lớn vẫn chưa được biết đến này, “Hãy quan sát người này.”
Nhiều chính trị gia và quan chức ở
Washington vẫn đang làm như Trung Quốc chỉ là một chủ thể lớn khác. Tuy nhiên,
ông Lý biết Tập rất rõ, và hiểu rằng khát vọng vô biên của Trung Quốc được thúc
đẩy bởi một quyết tâm không khoan nhượng là giành lại sự vĩ đại trong quá khứ.
Thử hỏi hầu hết các học giả Trung Quốc xem Tập và các đồng nghiệp của ông có
nghiêm túc tin rằng Trung Quốc sẽ thay thế Hoa Kỳ trong vai trò là cường quốc
thống trị ở châu Á trong tương lai gần hay không. Họ sẽ lảng tránh câu hỏi này
bằng những mẫu câu như “Điều đó rất phức tạp… một mặt… mặt khác…” Khi tôi hỏi
ông Lý câu này trong một cuộc gặp ít lâu trước khi ông qua đời, đôi mắt ông mở
to nghi ngờ, như thể hỏi lại, “Anh đang đùa à?” Ông thẳng thắn trả lời: “Dĩ
nhiên. Sao lại không? Làm sao mà họ có thể không khát vọng trở thành số một ở
châu Á và sau này là trên thế giới?”
***
Sự căng thẳng về mặt cấu trúc giữa
một Trung Quốc đang lên và một Hoa Kỳ đang cai trị vốn đã trầm trọng. Việc giảm
nguy cơ xảy ra một cuộc đụng độ thảm khốc mà cả hai bên đều muốn tránh sẽ bắt đầu
bằng một đánh giá rõ ràng về những mục đích và phương tiện của Bắc Kinh. Khi nhậm
chức, Tập Cận Bình đã tuyên bố tham vọng bao quát của ông đối với Trung Quốc bằng
một câu duy nhất: “Giấc mộng Trung Quốc lớn nhất là đại phục hưng dân tộc Trung
Quốc.” “Trung Quốc mộng” của ông bao gồm sự thịnh vượng và quyền lực – tương
đương với tầm nhìn “sức mạnh cứng” của Theodore Roosevelt về một thế kỷ Mỹ và
Chính sách Kinh tế mới (New Deal) đầy động lực của Franklin Roosevelt. Nó nắm bắt
được khao khát mãnh liệt của một tỷ người Trung Quốc: trở nên giàu có, quyền lực,
và được tôn trọng. Tập tự tin rằng trong cuộc đời mình Trung Quốc có thể hiện
thực hóa cả ba khát vọng này bằng cách duy trì phép màu kinh tế, bồi dưỡng một
thế hệ công dân ái quốc, và không cúi đầu trước cường quốc nào khác trong các vấn
đề thế giới.
Tập sẽ “làm Trung Quốc vĩ đại trở
lại” như thế nào? Sau khi nghiên cứu con người này, lắng nghe lời lẽ của ông,
và nói chuyện với những người hiểu ông rõ nhất, tôi tin với Tập điều này có
nghĩa là:
Đưa Trung Quốc trở lại thế thống trị mà nó
được hưởng ở châu Á trước khi phương Tây xâm nhập;
Tái thiết quyền kiểm soát đối với các vùng
lãnh thổ mà Đảng Cộng sản xem là “Đại Trung Quốc,” không chỉ bao gồm Tân Cương
và Tây Tạng ở đại lục, mà còn cả Hồng Kông và Đài Loan;
Khôi phục các phạm vi ảnh hưởng trong lịch
sử dọc biên giới và trên các vùng biển lân cận để các nước khác trao cho mình sự
tôn kính mà các cường quốc luôn đòi hỏi;
Giành được sự tôn trọng của các cường quốc
khác trong các hội đồng thế giới.
Ở cốt lõi của các mục tiêu quốc
gia này là một tín ngưỡng văn minh coi Trung Quốc là trung tâm của vũ trụ.
Trong tiếng Trung, Trung Quốc có nghĩa là Vương quốc Trung tâm. “Trung” ở đây
không nói đến không gian giữa các vương quốc đối địch khác, mà là chỉ mọi vương
quốc nằm giữa trời và đất. Như ông Lý đã tóm tắt quan điểm về thế giới được
chia sẻ bởi hàng trăm quan chức Trung Quốc tìm đến lời khuyên của ông, họ “nhớ
lại một thế giới mà Trung Quốc thống trị còn các nhà nước khác với họ chỉ như
những kẻ cầu xin trước một đấng tối cao, như những chư hầu mang báu vật triều cống
đến Bắc Kinh.” Trong câu chuyện này, sự trỗi dậy của phương Tây trong những thế
kỷ gần đây là một sự bất thường lịch sử, phản ánh sự yếu kém về mặt công nghệ
và quân sự của Trung Quốc khi phải đối mặt với các đế quốc thống trị trong một
“thế kỷ ô nhục” từ khoảng năm 1839 đến năm 1949. Tập Cận Bình đã hứa với người
dân của ông: Chuyện này sẽ không còn nữa.
Chương trình hành động của Tập nhằm
khôi phục lại vị thế vĩ đại đã mất này là gì? Theo ông Lý, cố vấn chính trị của
Tập, một nhà lãnh đạo đất nước phải “vạch ra tầm nhìn tương lai cho người dân,
biến tầm nhìn đó thành các chính sách mà anh ta phải thuyết phục được người dân
là nó đáng ủng hộ, và cuối cùng là khích lệ họ giúp anh ta thực hiện.” Đã vạch
ra một tầm nhìn táo bạo là Trung Quốc mộng, Tập đang tích cực vận động người ủng
hộ thực hiện một nghị trình hành động vô cùng tham vọng trên bốn mặt tương
quan.
Là tay lái chính của cả công cuộc
này, yêu cầu đầu tiên đối với Tập trong việc hiện thực hóa Giấc mộng Trung Quốc
là tái chính danh hóa một Đảng Cộng sản Trung Quốc mạnh mẽ trong vai trò là lực
lượng tiên phong và giám hộ của nhà nước Trung Quốc. Ít lâu sau khi nhậm chức,
Tập đã nói với các thành viên Bộ Chính trị rằng “giành được hay mất đi sự ủng hộ
của nhân dân là một vấn đề liên quan đến sự sống còn của Đảng Cộng sản.” Ông
cũng thẳng thừng cảnh báo họ: “Tham nhũng có thể kết liễu Đảng.” Trích Khổng Tử,
ông hứa sẽ “vi chính dĩ đức” (cai trị bằng đức) và “tề chi dĩ hình” (ổn định bằng
hình luật). Đây không phải là đe dọa suông. Tập đã phát động một chiến dịch chống
tham nhũng với quy mô chưa từng có do Vương Kỳ Sơn, thân tín của Tập, dẫn dắt.
Nỗ lực này được gọi là chiến dịch “đả hổ diệt ruồi” do nó hứa hẹn sẽ bắt giữ mọi
quan chức tham nhũng dù đó là “ruồi” cấp thấp hay là “hổ” cấp cao. Dưới quyền
Vương, 18 tổ đặc nhiệm đứng đầu là các tổ trưởng đáng tin cậy trực tiếp báo cáo
với Tập. Từ năm 2012, đã có hơn 900.000 đảng viên bị kỷ luật và 42.000 đảng
viên bị khai trừ và truy tố tại các tòa hình sự. Trong đó có 170 “hổ” cấp cao,
gồm hàng chục sĩ quan cao cấp, 18 ủy viên và nguyên ủy viên của Ủy ban Trung
ương gồm 150 người, và thậm chí cả nguyên ủy viên của Ủy ban Thường vụ.
Và đối lập với glasnost của
Gorbachev – cởi mở với các tư tưởng – Tập đòi hỏi phải tuân thủ ý thức hệ, thắt
chặt kiểm soát các cuộc thảo luận chính trị. Đồng thời, Tập cũng tìm cách củng
cố sự tập trung của Đảng trong nền quản trị Trung Quốc. Đặng tìm cách tách Đảng
khỏi chính phủ, và tăng cường hệ thống quan liêu của nhà nước so với Đảng. Tập
lại thẳng thừng bác bỏ ý tưởng đó. Ít sau sau khi Tập nắm quyền, một bài xã luận
trên Nhân dân Nhật báo đã thể hiện rõ lập trường của ông: “Chìa khóa để vận
hành mọi thứ ở Trung Quốc một cách trơn tru và hiện thực hóa Giấc mộng Trung Quốc
là nằm ở Đảng.”
Thứ hai, Tập phải tiếp tục làm
Trung Quốc giàu có trở lại. Ông biết rằng sự ủng hộ của người dân Trung Quốc đối
với Đảng Cộng sản chủ yếu vẫn phụ thuộc vào khả năng đem lại những mức tăng trưởng
kinh tế mà không đất nước nào khác đạt được. Nhưng tiếp tục hiệu quả kinh tế
phi thường của Trung Quốc sẽ đòi hỏi duy trì một hành động đầy rủi ro. Tập rất
cảnh giác với cái bẫy thu nhập trung bình mà nhiều nước đang phát triển vấp phải
khi tiền lương tăng làm giảm lợi thế cạnh tranh của họ trong ngành chế tạo, và
lời hứa không chút mơ hồ của ông là duy trì tăng trưởng 6,5% một năm đến năm
2021 sẽ đòi hỏi cái mà một số người đã mô tả là “duy trì cái không thể duy trì
được.”
Tuy nhiên, có một sự nhất trí
chung về việc Trung Quốc phải làm gì để tiếp tục tăng trưởng ở tốc độ đó trong
nhiều năm tới. Các yếu tố then chốt được nêu ra trong kế hoạch năm năm gần đây
nhất của Trung Quốc, bao gồm: đẩy nhanh quá trình chuyển đổi sang nhu cầu được
thúc đẩy bằng tiêu dùng trong nước; tái cấu trúc hoặc đóng cửa các doanh nghiệp
nhà nước kém hiệu quả; tăng cường cơ sở khoa học và công nghệ để nâng cao đổi mới;
thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp ở Trung Quốc; và tránh các mức nợ không bền vững.
Với phạm vi và tham vọng của kế
hoạch của Tập, hầu hết các nhà kinh tế và nhiều nhà đầu tư phương Tây đều e rằng
ông khó mà đạt được. Nhưng nhiều nhà kinh tế và nhà đầu tư trong số đó đã mất
tiền khi không đặt cửa cho Trung Quốc trong 30 năm qua. Như cựu chủ tịch Hội đồng
Cố vấn Kinh tế của Tổng thống Reagan Martin Feldstein đã nói, “Không phải chính
sách nào trong số này cũng phải thành công… Nếu có đủ chính sách đủ thành công,
tăng trưởng 6,5% trong vài năm tới có lẽ sẽ không nằm ngoài tầm với.”
Thứ ba, Tập phải làm Trung Quốc tự
hào trở lại. Tăng trưởng kinh tế không thôi chưa đủ. Ngay cả khi các cải cách
thị trường của Đặng đã mở rộng mức tăng trưởng kinh tế nhanh chóng sau năm
1989, Đảng cũng phải vật lộn để chứng minh lý do tồn tại của mình khi chủ nghĩa
cộng sản chỉ còn là danh nghĩa. Vậy thì tại sao người Trung Quốc lại nên cho
phép Đảng cai trị mình? Câu trả lời của Đảng là một ý thức được làm mới về bản
sắc dân tộc có thể được đón nhận rộng rãi một cách tự hào trong số một tỷ người
Trung Quốc.
Trong khi Cách mạng Văn hóa của
Mao cố gắng xóa bỏ quá khứ cổ xưa của Trung Quốc và thay thế nó bằng “con người
xã hội chủ nghĩa mới” của chủ nghĩa cộng sản, Tập lại ngày càng thể hiện Đảng
như là lực lượng kế thừa và kế vị một đế chế Trung Quốc 5.000 năm tuổi chỉ bị hạ
bệ bởi phương Tây cướp bóc. Câu “vật vong quốc sỉ” (chớ quên sự ô nhục của đất
nước) đã trở thành một câu thần chú dung dưỡng tình cảm ái quốc dựa trên tư tưởng
mình là nạn nhân và thấm đẫm một đòi hỏi phải báo thù. Như cựu giám đốc văn
phòng Bắc Kinh của tờ Financial Times Geoff Dyer đã giải thích, “Đảng Cộng sản
phải đối mặt với một mối đe dọa đang nóng dần lên đối với tính chính danh của
mình kể từ khi từ bỏ Marx để theo thị trường.” Do đó Đảng đã gợi lên những sự ô
nhục của quá khứ dưới bàn tay Nhật Bản và phương Tây “để tạo ra một ý thức đoàn
kết vốn đã vụn vỡ, và để xác định một bản sắc Trung Quốc về cơ bản là mâu thuẫn
với tính hiện đại của Mỹ.”
Cách tiếp cận này đang có hiệu quả.
Trong những năm 1990, khi nhiều trí thức phương Tây ăn mừng “sự kết thúc của lịch
sử” với chiến thắng rõ ràng của các nền dân chủ dựa trên thị trường, nhiều nhà
quan sát đã tin rằng Trung Quốc cũng đang trên đường tiến tới một chính phủ dân
chủ. Ngày nay, rất ít người ở Trung Quốc cho rằng các quyền tự do chính trị
quan trọng hơn việc giành lại vị thế quốc tế và niềm tự hào dân tộc của Trung
Quốc. Như ông Lý đã nói rõ, “Nếu anh tin là sẽ có một cuộc cách mạng đòi dân chủ
ở Trung Quốc thì anh sai rồi. Các sinh viên Thiên An Môn giờ ở đâu?” Ông trả lời
thẳng thừng: “Họ đã lỗi thời. Người Trung Quốc muốn một Trung Quốc phục hưng.”
Cuối cùng, Tập đã cam kết làm
Trung Quốc mạnh mẽ trở lại. Ông tin rằng một quân đội “có khả năng chiến đấu và
chiến thắng các cuộc chiến” là tối quan trọng đối với việc hiện thực hóa mọi
thành tố khác trong Giấc mộng Trung Quốc. “Để đạt được công cuộc đại phục hưng
dân tộc Trung Quốc,” ông nói, “chúng ta phải đảm bảo sự thống nhất giữa một đất
nước thịnh vượng và một quân đội hùng mạnh.” Dù mọi cường quốc đều xây dựng các
đội quân mạnh, “Giấc mộng Quân đội Hùng mạnh” này là đặc biệt quan trọng đối với
Trung Quốc khi nó tìm cách vượt qua nỗi ô nhục dưới tay các cường quốc nước
ngoài.
Bất chấp mọi thách thức khác
trong nghị trình của mình, Tập đang cùng lúc tái tổ chức và tái thiết các lực
lượng vũ trang của Trung Quốc theo cách mà chuyên gia hàng đầu của Nga về quân
đội Trung Quốc Andrei Kokoshin gọi là “chưa từng có về quy mô và chiều sâu.”
Ông đã xử lý nạn đút lót trong quân đội và cải tổ tổ chức vốn tập trung vào nội
địa của nó để tập trung vào các chiến dịch hợp đồng tác chiến chống lại các kẻ
thù bên ngoài.
Việc xáo trộn bộ máy quan liêu
như vậy thường không phải là một sự kiện lạ lùng. Nhưng trong trường hợp của Tập
nó đã nhấn mạnh cam kết hết sức nghiêm túc của Bắc Kinh là xây dựng một quân đội
hiện đại có thể đương đầu và đánh bại mọi đối thủ – nhất là Mỹ. Dù các nhà hoạch
định quân sự của Trung Quốc không dự tính một cuộc chiến tranh, cuộc chiến mà họ
đang chuẩn bị lại đặt Trung Quốc vào thế cạnh tranh với Mỹ trên biển. Tập đã
tăng cường các lực lượng hải quân, không quân, và tên lửa của Quân Giải phóng
Nhân dân vốn hết sức quan trọng đối với việc kiểm soát các vùng biển, trong khi
cắt giảm 300.000 lính bộ và giảm sự thống trị truyền thống của các lực lượng
trên đất liền trong quân đội.
Trong khi đó, các chiến lược gia
quân sự của Trung Quốc đang chuẩn bị cho xung đột trên biển bằng một chiến lược
“tiền duyên phòng ngự” (forward defense) dựa trên việc kiểm soát các vùng biển
gần Trung Quốc nằm trong “chuỗi đảo thứ nhất,” chạy từ Nhật Bản, qua Đài Loan,
đến Philippines và Biển Đông. Bằng cách triển khai các năng lực quân sự chống
tiếp cận/chống xâm nhập (A2/AD) đe dọa đến các tàu sân bay và các tàu chủ lực
khác của Hoa Kỳ, Trung Quốc đã liên tục đẩy Hải quân Hoa Kỳ ra khỏi các vùng biển
lân cận của mình phòng khi có xung đột. Một nghiên cứu đáng tin cậy của tổ chức
RAND năm 2015 cho thấy rằng đến cuối năm 2017 Trung Quốc sẽ có “lợi thế” hoặc
“tương đối ngang hàng” trong sáu trên chín lĩnh vực năng lực quân sự truyền thống
vốn rất quan trọng trong một cuộc đối đầu ở Đài Loan, và bốn trên chín lĩnh vực
trong một cuộc tranh chấp trên Biển Đông. Nghiên cứu này kết luận rằng trong
vòng từ 5 đến 15 năm tới, “châu Á sẽ chứng kiến một đường ranh giới dần dần rút
lui của sự thống trị của Hoa Kỳ.”
Trong lúc từ từ ép Mỹ ra khỏi các
vùng biển này, Trung Quốc cũng kéo các nước Đông Nam Á vào quỹ đạo kinh tế của
mình, cũng như cả Nhật Bản và Úc. Đến nay nó đã thành công mà không phải chiến
đấu. Nhưng nếu phải chiến đấu, Tập muốn Trung Quốc thắng.
***
Liệu Tập có thành công trong việc
đưa Trung Quốc phát triển đủ mạnh để thay thế Mỹ trong vai trò là nền kinh tế
hàng đầu thế giới và chủ thể quyền lực nhất ở Tây Thái Bình Dương hay không?
Ông có thể làm Trung Quốc vĩ đại trở lại hay không? Hiển nhiên là mọi chuyện có
thể diễn biến xấu đi theo rất nhiều cách, và những tham vọng phi thường này đã
khiến hầu hết các nhà quan sát hoài nghi. Nhưng khi được hỏi, Lý Quang Diệu đã
đánh giá tỷ lệ thành công là bốn trên năm. Cả ông Lý lẫn tôi đều đặt cửa cho Tập.
Như ông Lý nói, “ý thức về số phận được gợi lại [của Trung Quốc] là một sức mạnh
vượt trội.”
Nhưng nhiều người Mỹ vẫn còn phủ
nhận ý nghĩa của sự chuyển mình từ một nước nông nghiệp lạc hậu sang “chủ thể lớn
nhất trong lịch sử thế giới” của Trung Quốc với Hoa Kỳ.
Khi một Trung Quốc đang lên nhanh
chóng thách thức sự thống trị quen thuộc của Hoa Kỳ, hai nước có nguy cơ rơi
vào một cái bẫy chết người được xác định lần đầu bởi sử gia Hy Lạp cổ đại
Thucydides. Viết về một cuộc chiến đã tàn phá hai thành bang hàng đầu của Hy Lạp
cổ đại cách đây hai thiên niên kỷ rưỡi, ông giải thích: “Chính sự trỗi dậy của
Athens và nỗi sợ điều này sẽ lan đến Sparta đã làm cuộc chiến này trở nên không
thể tránh khỏi.”
Năm 2015, tờ The Atlantic cho
đăng bài “Bẫy Thucydides: Hoa Kỳ và Trung Quốc đang đâm đầu vào chiến tranh?”
Trong tiểu luận này tôi lập luận rằng ẩn dụ lịch sử này cung cấp những ống kính
tốt nhất để làm sáng tỏ mối quan hệ giữa Trung Quốc và Mỹ ngày nay. Kể từ đó,
khái niệm này đã khơi mào một cuộc tranh luận đáng kể. Thay vì đối mặt với bằng
chứng và suy nghĩ về những điều chỉnh không thoải mái nhưng cần thiết mà cả hai
bên có thể phải thực hiện, các nhà hoạch định chính sách và các vị nguyên thủ
đã dựng một con bù nhìn rơm quanh tuyên bố của Thucydides về sự “không thể
tránh khỏi” và châm lửa – cho rằng cuộc chiến giữa Washington và Bắc Kinh là
không định trước. Tại cuộc gặp cấp cao năm 2015, Tổng thống Barack Obama và Chủ
tịch Tập Cận Bình đã thảo luận chi tiết về cái bẫy này. Obama nhấn mạnh rằng bất
chấp căng thẳng cấu trúc mà sự trỗi dậy của Trung Quốc gây ra, “hai nước vẫn có
khả năng quản lý những bất đồng.” Đồng thời, họ cũng thừa nhận rằng, theo lời của
Tập, “nếu liên tục phạm phải những sai lầm tính toán chiến lược thì các nước lớn
có thể sẽ tự tạo ra những cái bẫy như vậy cho chính mình.”
Tôi đồng ý: Cuộc chiến giữa Mỹ và
Trung Quốc không phải là không thể tránh khỏi. Quả thật, Thucydides cũng sẽ đồng
ý rằng cuộc chiến giữa Athens và Sparta cũng thế. Đặt vào bối cảnh, rõ ràng
tuyên bố của ông về sự không thể tránh khỏi của cuộc chiến ấy là cường điệu: cường
điệu vì mục đích nhấn mạnh. Ý chính của cái bẫy Thucydides không phải là niềm
tin vào số mệnh định sẵn hay thái độ bi quan. Thay vào đó, nó đưa chúng ta ra
khỏi những tiêu đề báo chí và luận điệu của chế độ để nhận ra sự căng thẳng cấu
trúc vô cùng lớn mà Bắc Kinh và Washington phải quản lý để xây dựng được một mối
quan hệ hòa bình.
Liệu cuộc đụng độ sắp tới giữa
hai cường quốc này có dẫn đến chiến tranh hay không? Liệu Tổng thống Trump và
Chủ tịch Tập, hoặc những người kế nhiệm họ, có giẫm vào vết xe đổ đầy bi kịch của
các nhà lãnh đạo của Athens và Sparta hay của Anh và Đức hay không? Liệu họ có
tìm được một cách tránh được chiến tranh hiệu quả như Anh và Mỹ đã làm cách đây
một thế kỷ, hay như Mỹ và Liên Xô đã làm trong bốn thập niên Chiến tranh Lạnh
hay không? Rõ ràng là không ai biết được. Tuy nhiên, chúng ta có thể chắc chắn
rằng động lực mà Thucydides đã xác định trước đây sẽ còn tăng cường trong những
năm tới.
Phủ nhận cái bẫy Thucydides sẽ
không làm nó bớt thực tế hơn. Thừa nhận nó cũng không có nghĩa là phải chấp nhận
bất cứ chuyện gì xảy ra. Vì các thế hệ trong tương lai, chúng ta có trách nhiệm
trước mắt là phải đối mặt với một trong những khuynh hướng tàn bạo nhất của lịch
sử và sau đó làm mọi thứ chúng ta có thể để tạo nên kỳ tích.
*
Graham Allison là giám đốc Trung tâm
Belfer về Khoa học và Quan hệ Quốc tế và giáo sư ngành quản trị công tại Trường
Quản lý Nhà nước John F. Kennedy thuộc Đại học Harvard. Bài viết này được chuyển
thể từ cuốn sách mới xuất bản của ông, Destined for War: Can America and China
Escape Thucydides’s Trap? (Houghton Mifflin Harcourt, 2017).
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét