Thể thức tuyển cử ít tệ nhất mà phù hợp nhất cho Hoa Kỳ
Chúng ta quen nghe rằng Hoa Kỳ có nền dân chủ lâu đời nhất
vì giành lại độc lập từ đế quốc Anh vào năm 1776 rồi thành lập nền “Cộng Hòa
Liên Bang” từ năm 1789. Khái niệm ấy ăn sâu vào tâm trí thiên hạ nên có người
kinh ngạc là tại sao trong cuộc tranh cử vừa qua, ứng cử viên Hillary Clinton của
đảng Dân Chủ đã tạm chiếm phiếu cử tri tới hơn một triệu mà sau cùng ứng cử
viên Donald Trump của đảng Cộng Hòa lại đắc cử tổng thống.
Hình như là cái gì đó bất công, hay ít ra là khó hiểu, trong
thể thức bầu cử người lãnh đạo Hành pháp nền Cộng Hòa Liên Bang Mỹ.
Chúng ta nên chịu khó tìm hiểu thể thức tuyển cử kỳ bí này của
nền dân chủ Hoa Kỳ…
***
Nói vắn tắt, vào ngày bầu cử, cử tri không trực tiếp bầu ra
tổng thống mà bầu ra những người sẽ chọn lựa lãnh đạo Hành Pháp. Những người đó
là “Ðại Cử Tri,” hay cử tri đại diện, trong một tập thể gọi là Ðại Cử Tri Ðoàn,
viết cho gọn là Cử Tri Ðoàn, Electoral College. Khi bỏ phiếu, có người không biết
rằng Hoa Kỳ dùng thể thức gián tiếp để đề cử vị đại diện dân cử cao cấp nhất của
nền Cộng Hòa Liên Bang. Lý do là từ thời lập quốc, bậc khai sáng hay “Quốc phụ”
đã chọn phương pháp gián tiếp ấy và ghi vào Hiến Pháp. Tại sao vậy?
Thứ nhất, Hoa Kỳ không được thành lập như một nền Dân Chủ mà
là nền Cộng Hòa.
Cộng Hòa là hệ thống chính trị cho phép người dân để cử đại
biểu để lo việc chung của tập thể cho mình. Bậc quốc phụ không lập nền Dân Chủ,
là thể chế dựa trên quyền làm chủ của công dân, vì họ gạt ra ba thành phần công
dân không có quyền đề cử giới đại diện sẽ cai trị mình, là dân nô lệ, phụ nữ,
và ở nhiều tiểu bang, những người không có tài sản. Ðấy là một nghịch lý?
Nghịch lý thời kiến quốc có nhiều lẽ hợp lý sau đây.
Giới đại biểu được cử tri bầu lên không nhất thiết nghe công
luận mà tự ý quyết định về sự lợi hại của từng việc và được phê phán bằng lá
phiếu vào kỳ bầu cử sau, cứ sáu năm một lần nếu đại biểu là nghị sĩ trong Thượng
Viện, và hai năm một lần nếu là dân biểu Hạ Viện. Trước đây, giới dân cử trong
hệ thống lập pháp của tiểu bang mới chọn người làm nghị sĩ, và giới dân cử này
dĩ nhiên cũng do dân chọn trong các cuộc bầu cử định kỳ. Ta nên chú ý tới đặc
tính gián tiếp đó: lòng người hay ý dân được thể hiện nhưng qua lớp trung gian,
tựa như một cái lọc.
Vốn rất thực tiễn – lại chẳng mấy lạc quan về con người – bậc
quốc phụ sợ lòng dân hay nhiệt tình của quần chúng sẽ chi phối chánh sách quốc
gia nên muốn có lớp trung gian để gạn lọc và dung hòa dân ý với quốc sách. Lớp
người này, thuộc nam phái, biết suy xét và phải có tài sản để cân nhắc lợi hại
trong công vụ vì hại là mất tiền, và có tài sản nên tương đối khó mua chuộc. Mấy
ai mua chuộc được một tỷ phú… như Donald Trump!
Thứ nữa, người như vậy có thể không xem việc làm đại biểu là
sự nghiệp, và dám lấy quyết định mà chẳng sợ bị thất cử. Họ chịu trách nhiệm với
cử tri, nhưng không là con tin của cử tri mà nhất nhất cứ theo ý dân để giải
quyết công vụ. Nói cách khác, từ nguyên thủy, bậc quốc phụ của Hoa Kỳ không tin
vào nền Dân Chủ trực tiếp và thiên về giải pháp Cộng Hòa với cái lọc là giới đại
biểu.
Từ triết lý chính trị đó của những người sáng lập, Hoa Kỳ mới
có thể thức bầu cử tổng thống với tầng lớp trung gian là Cử Tri Ðoàn.
Lẽ hợp lý thứ hai của chuyện rắc rối này là Hoa Kỳ không
theo thể chế Ðại Nghị (parliamentary system). Thể chế này sáp nhập Hành Pháp và
Lập Pháp làm một, thực tế là giới Lập Pháp trong Quốc Hội mới cầm quyền và đảng
đa số chọn người lãnh đạo Hành Pháp. Bậc quốc phụ muốn tách tiêng Hành Pháp và
Lập Pháp để hai cơ chế này kiềm chế lẫn nhau.
Vì vậy, họ phải tìm ra một hệ thống khác. Và chúng ta đi vào
chuyện rắc rối hơn nữa, xin quý độc giả kiên nhẫn.
Từ thời Lập Quốc, bậc sáng lập ra nước Mỹ coi đảng phái
chính trị là phe phái bè đảng! Việc Hoa Kỳ có hai chính đảng lớn và nhiều đảng
nhỏ là chuyện về sau, chứ thời đó họ sợ ứng cử viên là con tin của nhiều đảng,
mỗi đảng chỉ nhắm vào quyền lợi riêng mà gây ách tắc công vụ vì không ứng viên
nào chiếm được đa số. Nỗi lo ngại đó không hẳn là phi lý và chẳng thể xảy ra nếu
người ta theo dõi chính trường Âu Châu đời nay.
Khi gặp cảnh bế tắc ấy thì ai sẽ khai thông?
Họ lập ra một cơ chế có thẩm quyền thương thảo, dung hòa mâu
thuẫn để đa số bầu lên một tổng thống. Các đại biểu thuộc cơ chế này có thể đổi
ý khi thương thảo để tìm giải pháp dung hòa và đề cử tổng thống. Nếu vẫn bế tắc
thì kết quả bầu cử mới thuộc thẩm quyền Hạ Viện, là Lập Pháp chọn người lãnh đạo
Hành Pháp, chuyện bất đắc dĩ và chỉ xảy ra một lần vào năm 1824, nhưng chỉ một
lần.
Cơ chế mà ta gọi là Cử Tri Ðoàn được lập ra trong mục tiêu
đó, để tổng thống khỏi là con tin hay công cụ của Hạ Viện.
***
Xin nhắc lại, thứ nhất, Hoa Kỳ được lập ra như nền Cộng Hòa,
không là nền Dân Chủ, và còn tránh hiện tượng Dân Chủ trực tiếp nên mới phải giải
quyết nhiều nhu cầu rắc rối khó hiểu.
Thứ hai, nền Cộng Hòa Hoa Kỳ là một thể chế liên bang, một tập
hợp của nhiều “quốc gia” gọi là tiểu bang. Sau thời lập quốc gồm có 13 tiểu
bang, nước Mỹ ngày nay có 50 tiểu bang và một khu vực hành chánh tự trị là thủ
đô Washington D.C.
Cộng Hòa Liên Bang Ðức là tập thể của sắc dân Ðức tại nhiều
tiểu bang. “Cộng Hòa Liên Bang Hoa Kỳ” không có sắc dân mà chỉ có… nhiều đời di
dân cùng chia sẻ một không gian sinh tồn tại Bắc Mỹ. Chữ “America” không là sắc
dân mà hàm ý địa dư, công dân trên một khu vực địa dư. Khi dịch thành “Hợp Chủng
Quốc Hoa Kỳ” ta nên chú ý tới đặc tính “hợp chủng” đó.
Ði vào thực tế thì nền Cộng Hòa theo thể chế liên bang này
giải quyết việc chọn lựa tổng thống ra sao? Câu trả lời là ta phải đi từ liên
bang xuống tiểu bang.
Mỗi tiểu bang của nước Cộng Hòa này đều có chính quyền,
chính phủ và Quốc Hội, với thống đốc lãnh đạo Hành Pháp. Cơ chế riêng muốn sống
chung và nhường một số quyền quyết định cho cơ chế chung là chính quyền liên
bang, nhưng vẫn giữ nhiều thẩm quyền riêng. Các tiểu bang đều đồng ý là không
tiểu bang nào bị gạt ra ngoài hoặc bị tiểu bang khác lấn lướt quyền lợi. Dù có
đông dân hay ít tài nguyên, các tiểu bang lớn nhỏ giàu nghèo phải có quyền bình
đẳng pháp lý.
Nhằm giải quyết nhu cầu đó, Hoa Kỳ có hai cơ chế đại biểu
song hành. Một là Hạ Viện với số dân biểu phản ảnh dân số của từng tiểu bang và
bày tỏ ý dân một cách trực tiếp nhất qua nhiệm kỳ hai năm. Hai là Thượng VIện.
Mọi tiểu bang lớn nhỏ gì cũng có hai nghị sĩ, sáu năm một lần thì bầu lại để vừa
ngăn ngừa nhiệt tình sôi nổi của Hạ Viện vừa kiểm soát hay phê chuẩn nhiều quyết
định của tổng thống. Thí dụ, Thượng Viện đã bác bỏ quyết định đàn hặc Tổng Thống
Bill Clinton do Hạ Viện biểu quyết và thường phê chuẩn các hiệp ước hay bổ nhiệm
của tổng thống.
Chúng ta thấy lại triết lý chính trị của bậc quốc phụ: thay
dân chủ trực tiếp bằng nhiều lớp đại biểu trung gian có thể hạn chế nhiệt tình
sôi nổi của người dân và kiềm chế lẫn nhau. Vì vậy, Hoa Kỳ có thể thức bầu cử qổng
thống phức tạp mà cũng tinh vi nhất.
Cử Tri Ðoàn là lớp trung gian quy tụ 100 nghị sĩ, 435 dân biểu
và ba đại biểu của thủ đô, tổng cộng là 538 “Ðại Cử Tri.” Muốn đắc cử tổng thống
thì phải có hơn nửa (269) số phiếu Ðại Cử Tri là 270 phiếu. Hàm ý ở dưới là 1)
không tiểu bang nào có dưới ba phiếu, 2) tiểu bang nào cũng có tiếng nói trong
tiến trình tuyển cử, 3) muốn đắc cử, các ứng cử viên phải quan tâm đến quyền lợi
của từng tiểu bang; 4) chứ không thể hốt phiếu của vài ba tiểu bang đông dân nhất
là có thể đắc cử tổng thống của toàn quốc.
Các nước dân chủ không gặp hoàn cảnh đặc thù của nước Mỹ nên
có thể nghĩ tới giải pháp phổ thông đầu phiếu để bầu lên người lãnh đạo Hành
Pháp. Hoa Kỳ là quốc gia “nhân tạo,” thành lập từ một triết lý sống chung,
không phải là “dân tạo” của một sắc dân, lại có quá nhiều khác biệt cần dung
hòa nên việc thể hiện ý dân hay ý chí chung đòi hỏi một thể thức tuyển cử khác.
Xin lấy thí dụ nữa, một tiểu bang thưa dân lại có loại tài
nguyên hiếm quý nhất cho kinh tế quốc dân. Ý chí chung của một quốc gia bình
thường có thể dẫn tới việc “quốc hữu hóa” tài sản đó cho toàn dân cùng hưởng, với
hậu quả là tiểu bang đó bị bóc lột, đòi ly khai, có khi gây nội chiến! Chưa nói
đến tài nguyên thiên nhiên, một khái niệm đạo đức là chế độ nô lệ cũng khiến
Hoa Kỳ bị Nội chiến sau cuộc bầu cử tổng thống năm 1860: từ 1861 tới 1865 mất
700 ngàn sinh linh khi cả nước chỉ có 34 tiểu bang với dân số tổng cộng chưa tới
32 triệu dân!
Nhờ thể thức tuyển cử ấy, các ứng cử viên phải quan tâm đến
các tiểu bang thưa thớt dân cư ở giữa, chứ không thể chỉ vận động để thắng phiếu
tại các tiểu bang đông dân ở vùng duyên hải như California, Texas, Florida hay
New York. Vòng sơ bộ khởi sự rất sớm khiến các tiểu bang ở giữa, như Iowa, New
Hampshire, Nevada, v.v… có cơ hội thẩm xét các ứng cử viên. Và ứng cử viên
Donald Trump thắng cử chính là vì khéo thuyết phục được cử tri bị lãng quên
trong các tiểu bang không may về kinh tế do hiệu ứng toàn cầu hóa và không may
về địa dư và dân số là nằm giữa với dân số thấp.
Ông chiếm đa số phiếu cử tri tại 30 tiểu bang mà vẫn thua số
phiếu cử tri do bà Clinton thu được tại 19 tiểu bang và thủ đô, nhưng ông đạt
đa số phiếu Cử Tri Ðoàn.
Bây giờ, đảng Dân Chủ và giới bình luận đang bàn cãi xem bà
Hillary Clinton có thể nào thuyết phục một số Ðại Cử Tri của 30 tiểu bang đã dồn
phiếu cho ông Trump đảo ngược quyết định mà bầu cho liên danh Dân Chủ hay chăng?
Rất nhiều phần là không. Từ năm 1900 tới nay mới chỉ có tám người đảo phiếu
theo kiểu đó. Với 155 phiếu Ðại Cử Tri phải cam kết theo luật mà không đảo phiếu,
ông Trump vẫn nắm phần thắng trong tay, trong khi các Ðại Cử Tri của bà Clinton
lại có thể đảo phiếu cho Nghị Sĩ Bernie Sanders hay Thống Ðốc Ohio là John
Kasich!
Sau khi thất cử, nếu bà Clinton cũng nghe xui dại mà đòi xét
lại, thì mùng 6 Tháng Giêng tới, khi mọi chuyện trở thành chính thức, người ta
càng thấy là bà đáng thất cử: lấy ngọn bỏ gốc, lỡ quên các tiểu bang ở giữa mà
còn đòi xóa bỏ một hệ thống tuyển cử đã chứng tỏ giá trị, không những ít tệ nhất
mà lại phù hợp nhất cho nền dân chủ lạ kỳ này.
Nguồn: http://www.nguoi-viet.com/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét