Nguyễn-Xuân Nghĩa
Nhân tổng tuyển cử tại Hoa Kỳ, hãy nhìn vào các hiệp ước
thương mại với Mỹ
Tổng tuyển cử năm nay tại Hoa Kỳ – trong đó có cuộc tranh cử
tổng thống đầy sóng gió – đặc biệt chú ý đến hồ sơ ngoại thương với quá nhiều
nhiễu âm được tung ra khiến người ta hết biết vì sao Hoa Kỳ phát huy tinh thần
tự do thương mại từ bảy thập niên và mở ra hiện tượng toàn cầu hóa. Nhiều chính
trị gia hay ứng cử viên còn mạnh miệng kết án toàn cầu hóa, đả phá chủ trương tự
do mậu dịch và gián tiếp thoái lui về chánh sách bảo hộ.
Chúng ta sẽ tìm hiểu vấn đề kinh tế này, nhưng từ giác độ
chính trị, để thấy ra lẽ lợi hại của tự do mậu dịch và tình trạng mắc dịch của
chính trường Mỹ.
Bài kinh tế vỡ lòng, kể từ Ricardo vào thế kỷ 19 tới ngày
nay, vẫn dạy là sinh hoạt ngoại thương có đem lại lợi ích cho kinh tế quốc dân.
Các công trình nghiên cứu tại Hoa Kỳ cũng xác nhận điều ấy. Khi các nước buôn
bán với nhau, quy luật cạnh tranh sẽ vận hành khiến nhà sản xuất phải thường
xuyên cải tiến năng suất và tìm ra lợi thế tương đối của mình – sản xuất gì với
nguyên vật liệu và kỹ thuật nào là tối hảo – để có thể xuất cảng ra ngoài với
giá rẻ nhất.
Nếu ngần ấy nhà sản xuất và quốc gia đều tính toán và hợp
tác như vậy theo quy luật tự do, thì kết quả chung cuộc là người dân xứ nào
cũng có cơ hội mua được hàng rẻ nhất và nhờ đó dư tiền để mua các sản phẩm hay
dịch vụ khác. Và nếu các nhà sản xuất đều cải thiện năng suất thì sinh hoạt ngoại
thương sẽ tăng sản lượng kinh tế lẫn lương bổng của công nhân.
Kết quả tổng thể là mọi người đều có lợi.
Nhưng kết quả tổng thể ấy chỉ thấy trong lâu dài, ít ra là
vài ba năm, và che khuất một thực tế kinh tế. Nhiều nhà sản xuất không cạnh
tranh nổi và phá sản hoặc phải đổi ngành. Nhiều công nhân chẳng thể cải tiến
tay nghề, có khi tạm mất việc, hoặc bị thất nghiệp vĩnh viễn. Vì vậy, kết quả
chung là mức sống có gia tăng lại phủ lên nhiều vấn đề xã hội tức là chính trị.
Cuộc tổng tuyển cử năm nay tại Hoa Kỳ – và nhiều nước tiên tiến khác – chú ý đến
hồ sơ kinh tế và các vấn đề xã hội đó. Ðấy là mối lo chính đáng của một số
thành phần dân chúng được các chính khách đưa lên thành vấn đề chính. Từ đấy mà
xoay ngược về trào lưu ngăn sông cấm chợ để bảo vệ công ăn việc làm của một số
thành phần xã hội thì chưa chắc là người ta đã tìm ra giải pháp tối hảo.
Khi đó, ta nên trở lại với chiến lược kinh tế của Hoa Kỳ.
Rút kinh nhiệm từ vụ Tổng Khủng Hoảng 1929-1933 và Thế Chiến
II 1939-1945, Hoa Kỳ phát huy chủ trương tự do mậu dịch và năm 1948 đã cùng 22
quốc gia lập ra Hiệp Ước Tổng Quát về Quan Thuế và Thương Mại (General
Agreement on Tariffs and Trade, gọi tắt là GATT). Một mục tiêu của GATT là hạ
thấp hàng rào quan thuế: thuế suất trên hàng nhập cảng đã giảm từ khoảng 20-30%
xuống 10% và được sự hưởng ứng của nhiều nước. Năm 1994, GATT quy tụ 128 thành
viên, đa số là các nước công nghiệp hóa, rồi được mở rộng thành Tổ Chức Thương
Mại Thế Giới WTO, cách nay 30 năm.
Mời độc giả xem video Điểm tin buổi sáng Thứ Hai, ngày 17
tháng 10 năm 2016
Ðặc tính của hệ thống mậu dịch ấy là đa phương, bao gồm tất
cả các nước thành viên. Hệ thống quốc tế ấy thu hút sự tham dự của nhiều nước
khác và phát triển cho tới năm 2001 là bị khựng, với vòng đàm phán Doha đề ra từ
tháng 10 năm 2001 đã lâm vào bế tắc.
Nhưng ngoài khuôn khổ mậu dịch đa phương, Hoa Kỳ còn mở ra hệ
thống hợp tác song phương với một số quốc gia hay nhóm quốc gia qua các Hiệp Ðịnh
Ưu Ðãi Thương Mại, hay Preferential Trade Agreements (PTA). Thay vì tìm sự thỏa
thuận bình đẳng của một tập thể đông đảo hơn trăm nước, Hoa Kỳ mở cuộc đàm phán
riêng với từng nước hay từng nhóm quốc gia. Và thay vì chỉ đàm phán về thuế suất
hay hạn ngạch xuất nhập cảng, Hoa Kỳ muốn có nền tảng hợp tác mở rộng từ ngoại
thương qua đầu tư và nhiều lãnh vực khác như quyền lợi của giới lao động, nhu cầu
bảo vệ môi sinh hay quyền sở hữu trí tuệ.
Tính tới nay, kinh tế Hoa Kỳ đã hợp tác với khoảng 20 quốc
gia theo khuôn khổ riêng tư ấy, kể cả Hiệp Ước Tự Do Thương Mại Bắc Mỹ NAFT với
Canada và Mexico hoặc Hiệp Ước CAFTA-DR với sáu nước Trung Mỹ. Cũng theo khuôn
khổ đó, Hoa Kỳ đang cố hoàn tất Hiệp Ước Xuyên Thái Bình Dương TPP và Xuyên Ðại
Tây Dương TTIP.
Trong cuộc tổng tuyển cử năm nay, cả NAFTA, TPP và TTIP đều
bị các chính trị đưa lên bàn mổ, để đòi cải thiện hay hủy bỏ.
Nhìn từ giác độ kinh tế và căn cứ trên công trình nghiên cứu
của cơ quan độc lập trong Quốc Hội Hoa Kỳ là Congressional Budget Office CBO, lợi
ích của các Hiệp Ước Ưu Ðãi Thương Mại PTA là có thật vì nâng lượng ngoại
thương (xuất và nhập cảng), cán cân thương mại (xuất cảng trừ nhập cảng) và lượng
đầu tư ngoại quốc. Nhưng lợi ích đó không lớn như dư luận thường nghĩ. Lý do
căn bản nhất là kinh tế Hoa Kỳ sản xuất lấy tới 88% của nhu cầu tiêu thụ nội địa
và lệ thuộc rất ít vào xuất cảng.
Tuy nhiên, lợi ích không nhiều đó lại chẳng được phân bố đồng
đều – và gây thiệt hại cho một số thành phần kinh tế (doanh nghiệp và công
nhân) không thể cạnh tranh với ngoại quốc. Vẫn biết là về dài thì ai cũng có lợi
trong cái thế trao đổi tự do và cởi mở với tối thiểu hạn chế, nhưng về dài thì
ai cũng chết và bị thất nghiệp trong sáu tháng thì thấy đằng đẵng bằng cả năm!
Ðấy là bối cảnh chính trị của vụ tranh luận hiện nay.
Nhưng vì kinh tế cũng là chính trị, ta cần tìm hiểu thêm vì
sao Hoa Kỳ lại có các hiệp ước song phương hay cấp vùng với một số quốc gia,
như Israel, Nam Hàn, Úc, Singapore, Jordan, Peru, Colombia,… hay các nước trong
vành cung Thái Bình Dương của Hiệp Ước TPP?
Theo chủ trương tự do thương mại, việc hợp tác có đem lại lợi
ích kinh tế. Hoa Kỳ còn muốn tiến xa hơn khuôn khổ đa phương để tìm lợi ích
kinh tế song phương hay cấp vùng qua các Hiệp Ước Ưu Ðãi PTA vì khiến các nước
đối tác mở rộng việc giao dịch và cải thiện cơ chế kinh tế và luật pháp của họ
như Hoa Kỳ – và như Hoa Kỳ mong muốn.
Nhờ vậy, nhiều quốc gia muốn dễ làm ăn với Mỹ cũng phải cải
cách để làm ăn như Mỹ. Vì thế, lợi ích chung là điều có lợi cho mọi người mà cũng
là bài toán của các quốc gia đang phát triển chưa có cùng trình độ và tiêu chuẩn
sinh hoạt như Hoa Kỳ. Bài toán này gây khó khăn cho chính quyền của các nước đối
tác. Nhưng chính khách Mỹ không biết mà cũng chẳng cần biết! Tạm quên chính quyền
Hà Nội lạc hậu với thảm họa môi sinh mà chỉ nghĩ tới Nam Hàn, Peru hay Maroc hoặc
Jordan thì ta hiểu ra sự thể éo le này.
Huống hồ, Hoa Kỳ cũng có nhiều mục tiêu phi kinh tế – là
chính trị – khi bày ra cuộc chơi tự do qua các Hiệp Ước PTA. Nước Mỹ muốn dùng
khả năng tiêu thụ của thị trường nội địa rộng lớn cho một số đối tác để đạt mục
tiêu ngoại giao là có thêm đồng minh. Khi đã là đồng minh, Chính quyền của các
quốc gia đó sẽ sát cánh hơn với chính quyền Washington. Và nếu còn do dự cân nhắc
về chính trị thì họ lại lâm vào thế kẹt về kinh tế vì những cam kết của PTA.
Cụ thể là Hoa Kỳ dùng các Hiệp Ước PTA để yêu cầu các nước cải
thiện hệ thống lao động hay bảo vệ môi sinh theo chuẩn mực của mình và ủng hộ
quan điểm của nước Mỹ trong nhiều vấn đề ngoại giao. Nếu các quốc gia này tuân
thủ và có lợi, Hoa Kỳ còn dùng Hiệp Ước PTA mồi chài xứ khác… Nước Mỹ nối vòng
tay lớn để các nước ôm nhau cho chặt.
Nào ngờ các chính khách Mỹ lại chỉ nhìn vào trong mà bất kể
nhiều lợi ích bên ngoài. Họ tự ôm nhau tới nghẹt thở khiến các nước khác phải
chửi thề.
Nguồn:
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét