Phạm Chí Dũng
Trong lịch sử trung thành thực hiện nhiệm vụ “cánh tay nối
dài của đảng,” chưa bao giờ các tổ chức chính trị – xã hội một thời vang bóng lại
phải chịu cảnh rã rượi thân xác và bị công luận đồng thanh lên án như vào lúc
này, khi dự thảo luật về hội bất thần ngoặt sang hướng “hết tiền” vào những
tháng cuối năm 2016.
Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam, Hội Nông Dân Việt Nam, Đoàn Thanh
Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh, Tổng Liên Đoàn Lao Động Việt Nam và Hội Liên Hiệp Phụ
Nữ Việt Nam và Hội Cựu Chiến Binh Việt Nam – 6 tổ chức chính trị xã hội ấy –
đang phải đối mặt với không chỉ luật về hội mà cay đắng hơn cả là câu hỏi “tiền
đâu.”
“Vô tích sự”
Trong khi Giáo Sư Nguyễn Đình Cống – một tiếng nói bất đồng ở
Hà Nội – nói thẳng rằng cần suy nghĩ đến việc giải thể Mặt Trận Tổ Quốc Việt
Nam, thì một cựu quan chức cấp sở ở Sài Gòn cũng nói công khai trong một cuộc họp
là có thể giải tán Đoàn Thanh Niên Cộng Sản.
“Vô tích sự” và “phản cảm” là từ mà ngày càng nhiều người bức
bối để trực chỉ vào một số “cánh tay nối dài của đảng.” Nhưng xem ra, đó còn là
từ ngữ dễ chịu. Khó chịu hơn nhiều là những nghi ngờ về tính khuất tất quá lâu
năm trong các tổ chức này trong cơ chế hoàn toàn khép kín về tiêu xài ngân sách
mà do đó là “nuốt” tiền đóng thuế của dân.
Chỉ đến năm 2016, báo chí mới “vô tình” phát hiện là hàng
năm, ngân sách đã phải vung đến 14,000 tỷ đồng cho các tổ chức chính trị – xã hội.
Nhưng sau đó, con số này đã trở nên quá nhỏ bé khi xuất hiện một đánh giá của
Viện Nghiên Cứu Kinh Tế và Chính Sách (VERP) cho biết nguồn lực xã hội được rót
vào các tổ chức công chiếm tới 1.7% GDP của cả nước, tức là tương đương với hơn
71,000 tỷ đồng.
Trong thực tế, một trong những nguồn lực lớn nhất mà các tổ
chức quần chúng công sử dụng là các khoản chi cho nguồn nhân lực. Theo Tổng Cục
Thống Kê, vào năm 2012 Việt Nam có 246,144 người làm việc cho 34,378 cơ sở của
tổ chức chính trị, đoàn thể, xã hội được nhà nước đãi ngộ theo chế độ.
Số cán bộ, công chức làm việc cho các tổ chức chính trị,
đoàn thể, xã hội được nhà nước trả lương chiếm 7.2% nhân lực làm việc cho nhà
nước và 1.1% tổng lực lượng lao động xã hội. Nếu tính cả số cán bộ không chuyên
trách ở cấp xã, phường, thôn, xóm (hoạt động trong các tổ chức quần chúng công
cấp cơ sở), tổng số người hoạt động trong lĩnh vực tổ chức quần chúng công (có
biên chế và không có biên chế) ước tính vào khoảng 337,981 người.
Một nhà phản biện độc lập ở Việt Nam bức bối: đã đến lúc các
tổ chức chính trị – xã hội trên nên chấm dứt hoạt động, nếu còn biết liêm sỉ.
“Phản cảm”
Nhiều người đánh giá rằng so với nguồn kinh phí rất lớn nhận
được hàng năm từ bầu sữa nhà nước, công sức và hiệu quả của các tổ chức chính
trị – xã hội trên bỏ ra là hoàn toàn bất tương xứng. Còn nếu nhìn từ góc độ
ngân sách được cấu tạo bằng tiền đóng thuế của dân và tiền vay mượn nước ngoài
mà các đời dân chúng phải nai lưng gánh chịu, sự thể còn trở nên tàn nhẫn hơn
nhiều.
Cho đến nay, “thành tích” lớn nhất của Mặt Trận Tổ Quốc Việt
Nam là giúp đảng cầm quyền ngăn chặn và loại hầu hết các ứng cử viên độc lập,
mà bằng chứng sống đông nhất đã hiện hình trong cuộc bầu cử Quốc Hội hồi Tháng
Năm, chủ yếu qua những màn đấu tố thô bạo không khác mấy so với thời cải cách
ruộng đất cách đây đến bảy chục năm: số người tự ứng cử lọt vào Quốc Hội đã giảm
đi phân nửa so với những kỳ bầu cử Quốc Hội trước đó. Cũng trong cuộc bầu cử Quốc
Hội này, thậm chí tỷ lệ người ngoài đảng đã rớt xuống chỉ còn khoảng 4%, so với
“10% theo tiêu chí.”
Một bằng chứng sống sượng khác: Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam đã
hầu như không chia sẻ với bất kỳ tổ chức và nhân vật tôn giáo nào khác thể hiện
tiếng nói và hành dộng khác với chủ ý độc trị của đảng cầm quyền. Thậm chí ngược
lại, giới lãnh đạo của Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam đã tự nguyện biến thành cánh
tay đắc lực giúp cho đảng bóp nghẹt hơn quyền tự do tôn giáo của người dân – được
hiến định qua các Hiến Pháp nhưng còn lâu mới được khẳng định trong một văn bản
luật về tôn giáo.
Trong khi đó, Tổng Liên Đoàn Lao Động Việt Nam cũng trở nên
vô tích sự và phản cảm không kém. Từ khi có Luật Lao Động, tổ chức này đã chưa
hề chủ động tổ chức một cuộc đình công hoặc lãn công nào cho công nhân, bất chấp
vô số khó khăn và bất công trùm phủ lên đầu lớp công nhân vừa nghèo vừa đói
cùng hàng ngàn cuộc đình công tự phát của công nhân nổ ra hàng năm.
Không những không hỗ trợ công nhân, Tổng Liên Đoàn Lao Động
Việt Nam lại nối thêm một cánh tay giúp công an ngăn chặn đình công. Trong một
số trường hợp, công nhân còn phát hiện chính cán bộ công đoàn làm công tác chỉ
điểm để “khoanh vùng đối tượng” và sau đó là bắt bớ tống giam những công nhân
khởi xướng đình công.
Từ rất nhiều năm qua, Tổng Liên Đoàn Lao Động Việt Nam cũng
đương nhiên trở thành một khâu trung gian hưởng ít nhất 2% trên tổng quỹ lương
doanh nghiệp. Số tiền không nhỏ này, cộng với khoản ngân sách mập mạp hàng năm,
đã biến Tổng Liên Đoàn Lao Động Việt Nam thành một gã trọc phú ngồi mát ăn bát
vàng.
Hầu như tương tự, một tổ chức chính trị – xã hội khác là Hội
Nông dân Việt Nam đã không hề lên tiếng trước cảnh nạn hàng triệu nông dân bị mất
đất, bị cướp đất và chịu rủi ro về những bất công đất đai. Trong bối cảnh nạn
trưng thu đất đai quá bất công vọt lên từ 10-20 lần, thậm chí hàng trăm lần giữa
giá bán lẻ ra thị trường và giá bồi thường mỗi mét vuông đất cho nông dân, Hội
Nông Dân Việt Nam đã trở thành một trong những tổ chức chính trị – xã hội “khiếm
thính” và “khiếm thị” nhất, bất chấp không khí tang tóc của lớp nông dân bị bần
cùng hóa tuyệt đối đè nặng trên mọi vùng đất nước.
Còn với Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh và Hội Liên Hiệp
Phụ Nữ Việt Nam, hai tổ chức này chỉ chuyên chú tổ chức công tác “vận động” những
người mang tinh thần phản kháng Trung Quốc không đi biểu tình với lý do “đã có
đảng và nhà nước lo.” Thậm chí, một số cán bộ đoàn – được dư luận xã hội nhận dạng
– còn trở thành những nhân viên công an không sắc phục khi theo dõi, tiếp tay
cho công an bắt bớ người dân yêu nước…
“Ra đường”
Dự luật về Hội đang mở ra cơ hội để giảm bớt phần nào cảnh
tàn nhẫn trên. Ngay cả một số chuyên gia nhà nước cũng đang đòi phải đưa cả 6 tổ
chức chính trị – xã hội trên vào danh sách hội đoàn phải chịu sự điều chỉnh của
luật về hội. Cụ thể hơn, các tổ chức này sẽ không còn được giữ những đặc quyền
và đặc lợi như trước. Chi tiết hơn, những tổ chức này sẽ phải chịu sự giám sát
của luật pháp, đặc biệt vè thu chi tài chính. Và chưa phải hết, ngân sách chỉ
chi cho hội đoàn những khoản liên quan trực tiếp đến nhiệm vụ chính trị” mà nhà
nước giao phó, còn không có nhiệm vụ thì tự mà lo thân.
Ngân sách khốn quẫn đang bị siết lại nhanh chóng và bầu sữa
dành cho các tổ chức chính trị – xã hội cũng cạn kiệt nhanh không kém. Từ năm
2014 và sau đó, ngân sách chi cho các tổ chức hội đoàn nhà nước đã giảm hẳn,
nhiều khả năng chỉ còn khoảng một nửa cho những tổ chức hội đoàn lớn, trong khi
khá nhiều tổ chức hội đoàn nhỏ đã gần như biến mất nguồn chi ngân sách vào năm
2016. Đây cũng là “hoàn cảnh” của ngân sách quốc gia khi phải trả nợ quốc tế đến
$20 tỷ vào năm 2015 và ít nhất $12 tỷ vào năm 2016.
Và sang đầu năm 2017, chính phủ Việt Nam lại phải tiếp tục
trả nợ nước ngoài vài chục tỷ đô la, ngân sách sẽ lấy đâu ra tiền dù đã phải
thoái vốn tại hàng chục “con bò sữa?” Trong tình cảnh đảng còn không đủ tiền để
lo lắng cho tương lai “không biết đến cuối thế kỷ này có được chủ nghĩa xã hội
hoàn thiện ở Việt Nam hay không,” làm sao các tổ chức hội đoàn sinh ra chủ để
“ăn chơi nhảy múa” lại có phần?
“Nhất thể hóa” – một chủ trương “gom gọn” một số cơ quan đảng
với cơ quan chính quyền, đồng thời tiết giảm đến mức tối thiểu kinh phí cấp cho
các tổ chức hội đoàn – đó là cách giúp cho đảng có thêm tiền để tiêu xài trong
hoàn cảnh bức bách.
Số phận những “cánh tay nối dài của đảng” cũng bởi thế sẽ
không còn thể nào trở về thời hoàng kim đặc quyền đặc lợi như trước đây. Một
cách tự nhiên mà chẳng cần tác động nào từ phản ứng của người dân và phong trào
đấu tranh dân chủ nhân quyền trong nước, nhiều hội đoàn nhà nước sẽ phải tự giải
thể vì hết kinh phí hoạt động, nhiều quan chức hội đoàn sẽ phải “ra đường,” còn
sáu hội đoàn chính trị – xã hội lớn nhất của đảng cũng chẳng thể kỳ vọng “chết
trên núi tiền” như trước kia, cho dù không phải chịu sự điều chỉnh của luật về
hội.
Để đương nhiên, tiếng nói phản biện chủ yếu cho quyền dân sẽ
phải dần chuyển sang khối xã hội dân sự độc lập và truyền thông tự do không chịu
ý chỉ của nhà cầm quyền.
Nguồn:
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét